BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC
_____________
______________
AN THỊ LOAN
GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
THU THẬP THÔNG TIN PHẢN HỒI KẾT QUẢ
GIÁO DỤC
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý Giáo dục
Mã số: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN HỮU CHÍ
HÀ NỘI - 2014
2
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm và lòng biết ơn chân thành, tác giả luận văn xin gửi lời cảm
ơn tới:
Ban Giám hiệu, tập thể giảng viên Học viện Quản lý giáo dục đã tạo
điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và có những kiến thức,
kỹ năng cần thiết để nghiên cứu, thực hiện luận văn.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành sâu sắc tới PGS.TS
Nguyễn Hữu Chí, người đã tận tâm, nhiệt tình hướng dẫn khoa học và giúp đỡ
tôi trong suốt thời gian thực hiện các nhiệm vụ của đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể các thầy cô giáo và sinh viên của
Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội đã ủng hộ, cộng tác, giúp đỡ tôi nhiệt tình
trong quá trình điều tra, khảo sát, thu thập các dữ liệu liên quan đến đề tài.
Sau cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã
luôn quan tâm giúp đỡ, cổ vũ, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho
tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
QLGD Quản lý giáo dục
QT Quy trình
3
4
MỤC LỤC
4
5
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Nội dung quản lý HĐTTTTPHKQGD
Sơ đồ 2.1: Quy trình thực hiện thu thập thông tin phản hồi kết quả giáo dục
……
Bảng 2.1: Quy trình thực hiện thu thập thông tin phản hồi kết quả giáo dục.
5
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục ở bất kỳ thời đại và quốc gia nào cũng đóng vai trò quan
trọng trong sự phát triển. Một vấn đề cấp thiết hiện nay trong nền giáo dục ở
nước ta là đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Nghị quyết
Trung ương 8 khóa XI đã thảo luận về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và
đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Ban Chấp hành Trung ương
Đảng xác định: “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới
những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ tư duy, quan điểm đến mục tiêu, hệ
thống, chương trình giáo dục, các chính sách, cơ chế và các điều kiện ĐBCL
giáo dục; đổi mới ở tất cả các cấp học và t>nh độ đào tạo, ở cả Trung ương
và địa phương, ở mối quan hệ giữa gia đình, nhà trường và xã hội; hướng
đến phát triển năng lực người học, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài;
chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu chú trọng trang bị kiến thức sang
tập trung phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học”.
tất yếu phải đi kèm một hệ thống tổ chức và cơ chế quản lý để đưa bộ tiêu
chuẩn này trở thành hiện thực. Hiện nay, một hệ thống đảm bảo chất lượng
GDĐH tương đối hoàn chỉnh đang được hình thành tại Việt Nam, với cơ quan
quản lý nhà nước đối với các hoạt động ĐBCL giáo dục cấp quốc gia là Cục
Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục thuộc Bộ GD&ĐT được hình
thành từ tháng 01/2002, và các bộ phận ĐBCL bên trong đã và đang được
thiết lập tại các trường.Kiểm định chất lượng được đẩy mạnh từ tháng
12/2004 khi Quy định tạm thời về kiểm định chất lượng trường ĐH được ban
7
8
hành và được tiếp tục củng cố và phát triển gắn với việc ban hành các quy
trình và các tiêu chuẩn kiểm định khác.
Chất lượng giáo dục của trường ĐH thu hút sự quan tâm của tòan xã
hội, đặc biệt trong bối cảnh nguồn nhân lực có trình độ quyết định sự phát
triển của quốc gia trong xu hướng hội nhập khu vực và quốc tế, với sự cạnh
tranh không khoan nhượng giữa các quốc gia. Chính vì thế, không chỉ có các
trường ĐH trên thế giới mà ở Việt Nam nhiều trường ĐH đã thực hiện đánh
giá kết quả giáo dục của nhà trường, đặc biệt là sau khi có công văn số
1276/BGDĐT-NG ngày 20/02/2008 của Bộ GD&ĐT về việc hướng dẫn tổ
chức lấy ý kiến phản hồi từ người học về hoạt động giảng dạy của GV. Căn
cứ kết quả triển khai thí điểm lấy ý kiến phản hồi từ SV về chất lượng giảng
dạy của giáo viên ở một số trường ĐH năm học 2008 – 2009, Bộ GD&ĐT
tiếp tục hướng dẫn các trường ĐH, Học viện, Cao đẳng tổ chức lấy ý kiến
phản hồi từ SV, học viên cao học, nghiên cứu sinh về hoạt động giảng dạy
của giáo viên; chất lượng khóa đào tạo, cũng như tình trạng việc làm của SV
và sự hài lòng của nhà sử dụng lao động.
Xuất phát từ những lý do trên luận văn đề cập đến “Giải pháp quản
lý hoạt động thu thập thông tin phản hồi kết quả giáo dục ở trường Đại
học Kiến trúc Hà Nội” từ đó đưa ra các khuyến nghị nhằm nâng cao chất
lượng giáo dục của nhà trường.
yếu tố quyết định chất lượng đào tạo của nhà trường phải là hoạt động tổ chức,
quản lý nâng cao chất lượng giáo dục theo hướng ĐBCL. Vì vậy, nếu đề xuất giải
pháp quản lý hoạt động thu thập thông tin phản hồi kết quả giáo dục theo hướng
ĐBCL thì trường ĐH Kiến trúc Hà Nội sẽ tạo ra được những SV tốt nghiệp đáp
9
10
ứng yêu cầu chuyên môn, nghiệp vụ, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, đáp
ứng được nhu cầu sử dụng lao động của xã hội.
7. Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Nhóm phương pháp thống kê toán học
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu; kết luận và khuyến nghị; tài liệu tham khảo; phụ
lục, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về thu thập thông tin phản hồi kết quả giáo dục ở
trường ĐH.
Chương 2: Thực trạng hoạt động thu thập thông tin phản hồi kết quả giáo dục
ở trường ĐHKTHN.
Chương 3: Giải pháp quản lý hoạt động thu thập thông tin phản hồi kết quả
giáo dục ở trường ĐHKTHN.
10
11
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU THẬP THÔNG TIN PHẢN HỒI
KẾT QUẢ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Chất lượng giáo dục trong đó có chất lượng GDĐH luôn là vấn đề quan
tâm hàng đầu của xã hội bởi sản phẩm của giáo dục là con người và nó ảnh
hưởng gần như toàn bộ đến sự phát triển hay tụt hậu của một quốc gia. Chính
Muốn đạt được mục tiêu này, người học cần phải đạt chuẩn đầu ra, có
đầy đủ các kiến thức và kỹ năng cần thiết của ngành nghề được đào tạo, có
khả năng nhanh chóng đáp ứng và thích nghi với thực tiễn công việc, với
những tiến bộ nhanh chóng của khoa học - công nghệ.
Và một trong những khâu quan trọng mà chính các trường ĐH cần thực
hiện là thường xuyên khảo sát tình hình việc làm của SV tốt nghiệp, sự hài
lòng của nhà sử dụng lao động, lấy ý kiến phản hồi của SV đối với GV và ý
kiến phản hồi về chất lượng đào tạo khóa học. Đây chính là những hoạt động
giúp nhà trường có cơ sở thực tiễn để áp dụng các biện pháp điều chỉnh
chương trình đào tạo, đổi mới phương pháp giảng dạy của GV, đáp ứng với
yêu cầu của nền kinh tế tri thức.
1.1.1. Kinh nghiệm thế giới về công tác thu thập thông tin phản hồi kết quả
GDĐH
1.1.1.1. Công tác thu thập thông tin phản hồi của SV về chất lượng giảng dạy
môn học
12
13
Ngay từ thời kỳ Trung cổ châu Âu, các trường ĐH ở châu Âu đã dựa
vào SV để kiểm tra việc giảng dạy của GV. Hiệu trưởng chỉ định một Hội
đồng SV, Hội đồng này có nhiệm vụ ghi chép xem GV có giảng dạy theo
đúng lịch trình giảng dạy quy định của trường không, nếu có sự thay đổi nhỏ
nào ngoài quy định chung, Hội đồng SV báo cáo ngay cho Hiệu trưởng. Hiệu
trưởng sẽ phạt GV về những vi phạm đó. SV đóng tiền học trực tiếp cho GV
và lương của họ được tính theo số lượng SV dự giờ học.
Mặc dù khái niệm và thực tế việc đánh giá GV đã ra đời từ thời kỳ
Trung cổ ở châu Âu, nhưng trong chừng mực nhất định nó vẫn còn là vấn đề
thu hút nhiều tranh luận bởi các quan niệm rất khác nhau của các nền văn hóa
và truyền thống của đa quốc gia trên thế giới.
Ngày nay, trên thế giới các GV coi việc đánh giá như một hoạt động
liên tục và công khai mà trong đó họ có thể tập hợp các bằng chứng từ các
dựng được hệ thống tiêu chí đánh giá của trường. Về định lượng, trường có các
phiếu đánh giá chuẩn để SV đánh giá GV theo môn học từng học kỳ. Kết quả
đánh giá được tổng hợp và lưu hồ sơ. Ngoài ra việc đánh giá được thực hiện
thông qua các hội nghị SV trao đổi và phản ánh việc giảng dạy các môn học
vào giữa học kỳ, đây là việc làm rất hiệu quả. Bên cạnh việc đánh giá, nhà
trường đã tổ chức bồi dưỡng GV, nâng cao trình độ để khắc phục các khiếm
khuyết được chỉ ra trong các đợt đánh giá.
Tại ĐH Rivier - Hoa Kỳ
GV của ĐH Rivier được đánh giá hàng năm theo 5 tiêu chuẩn: giảng dạy
có hiệu quả; phát triển năng lực chuyên môn; phục vụ/đóng góp cho Trường;
phục vụ/đóng góp cho cộng đồng; NCKH với các mô tả về các chỉ số đánh giá
cụ thể.
14
15
Trước hết nhà trường đưa ra mô tả cụ thể về chức trách và nhiệm vụ cụ
thể mà GV phải tuân theo để làm cơ sở xây dựng các chỉ số đánh giá và lượng
hoá thành các thang điểm.
1.1.1.2. Công tác thu thập thông tin phản hồi của SV về chất lượng đào tạo khóa
học.
Ở các nước tiên tiến như Nga, Anh, Hoa Kỳ, giáo dục mang tính chất
phục vụ và được tổ chức theo hệ thống tín chỉ. SV có quyền lựa chọn trường
học và giáo sư thông qua việc đăng ký môn học bắt buộc hay tự chọn là
chuyện đã được phổ biến từ lâu. Việc thu hút giáo sư có uy tín và GV giỏi
được SV lựa chọn theo học đông nhằm đảm bảo việc tạo dựng hình ảnh và
thương hiệu của trường, kiến thức và phương pháp giảng dạy. Phiếu thăm dò
ý kiến hay còn gọi là “Course Evaluation” là một trong những cách thường
được áp dụng nhiều nhất.
1.1.1.3. Công tác thu thập thông tin phản hồi về tình trạng việc làm của SV tốt
nghiệp
Trên thế giới, khi khảo sát tình hình việc làm của SV, các SV ĐH
từng câu hỏi và đi trực tiếp vào nội dung cần hỏi.
Hiệp hội khoa học nghề nghiệp quốc gia (NPSMA)
Để khảo sát tình hình nghề nghiệp của SV, NPMA sử dụng một phiếu
hỏi rất đơn giản bao gồm 02 phần và 11 câu hỏi như sau:
Phần 1: phần thông tin chung:Tên; Địa chỉ email thường dùng; Tên
trường ĐH.
Phần 2: Tình trạng việc làm: Lĩnh vực làm việc (công việc, quản lý, học
thuật, phi lợi nhuận…); Số lượng người trong công ty – cơ quan; Tên công
việc chính của SV tốt nghiệp; Công việc hiện tại của SV tốt nghiệp có được
ngay sau khi nhận được bằng của Hiệp hội?; Công việc có cho SV tốt nghiệp
16
17
cơ hội thăng tiến không; Mức lương hàng năm của SV tốt nghiệp; Những kiến
thức nào nhà trường cung cấp cho SV tốt nghiệp khiến SV tốt nghiệp cần phải
học thêm để làm tốt công việc hiện tại.
NALP (Hiệp hội nghề nghiệp các trường luật)
Hàng năm, Hiệp hội nghề nghiệp các trường luật cùng với bản thân mỗi
trường khảo sát SV tốt nghiệp về tình trạng việc làm và mức lương họ nhận
được. Họ cho rằng đây là một cách tốt nhất để đo lường sức mạnh của nghành
nghề họ đang làm trong thị trường lao động cấp quốc gia, cấp vùng và cấp địa
phương. Các thông tin phản hồi của SV sẽ được hiệp hội và nhà trường giữ kín,
bảo mật. Thời gian hiệp hội và nhà trường tiến hành khảo sát là 09 tháng khi
SV tốt nghiệp ra trường…
1.1.1.4. Công tác thu thập thông tin phản hồi về mức độ hài lòng của các nhà sử dụng
lao động
Những nghiên cứu theo hướng này có thể kể đếm cuộc điềụ tra 3000
cựu SV do trường ĐH Melbourne của Úc thực hiện năm 1999, cuộc điều tra
6000 cựu SV do trường ĐH Michigan thực hiện năm 2001. Trong hai cuôc
điều tra này, các nhà nghiên cứu đã so sánh các tiêu chí về kỹ năng và kiến
thức mà cựu SV thấy cần được đào tạo và các tiêu chí kiến thức, kỹ năng các
việc giao nhiệm vụ xây dựng và triển khai các tiểu đề án thuộc Đề án Đổi mới
Giáo dục ĐH Việt Nam) với mục đích góp phần thực hiện Quy chế dân chủ
trong cơ sở GDĐH; nâng cao tinh thần trách nhiệm của GV trong việc thực
hiện mục tiêu đào tạo của cơ sở giáo dục ĐH, xây dựng đội ngũ GV có phẩm
chất đạo đức, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn cao, phong cách
giảng dạy tiên tiến, hiện đại; tăng cường tinh thần trách nhiệm của người học
với quyền lợi, nghĩa vụ học tập, rèn luyện của bản thân từ đó góp phần nâng
18
19
cao chất lượng đào tạo của cơ sở GDĐH; tạo thêm một kênh thông tin để giúp
cho GV có thể tự điều chỉnh hoạt động giảng dạy; góp phần nâng cao công tác
kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục ĐH; giúp CBQL trong các cơ sở GDĐH
có thêm cơ sở để nhận xét, đánh giá và phân công GV; góp phần phòng ngừa
những tiêu cực trong hoạt động giảng dạy ở cơ sở GDĐH, phát hiện và nhân
rộng những điển hình tốt trong đội ngũ GV.
Ngày 20/02/2008, Bộ GD&ĐT ký ban hành Công văn số
1276/BGDĐT-NG gửi các trường ĐH (tham gia thí điểm việc triển khai lấy ý
kiến phản hồi từ người học về hoạt động giảng dạy của GV) về việc hướng
dẫn tổ chức lấy ý kiến phản hồi từ người học về hoạt động giảng dạy của GV.
Ngày 20/5/2010, Bộ GD&ĐT ban hành Công văn số 2754/BGDĐT-
NGCBQLGD gửi các ĐH, Học viện, các trường CĐ trong toàn quốc về việc
hướng dẫn lấy ý kiến phản hồi từ người học về hoạt động giảng dạy của GV.
Theo Báo cáo của Cục Nhà giáo và CBQL cơ sở giáo dục, tại Hội thảo
Lấy ý kiến phản hồi từ người học về hoạt động giảng dạy của GV ngày
28/5/2013, kết quả đạt được của việc lấy ý kiến phản hồi từ người học tại các
trường ĐH ở Việt Nam là 100% các cơ sở giáo dục ĐH trên toàn quốc đồng
thuận triển khai nội dung lấy ý kiến phản hồi từ người học về hoạt động giảng
dạy của GV.
Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh kết quả SV đánh giá hiệu
quả của môn học khá khách quan; và các thông tin thu được từ đánh giá của
thập thông tin dạy học” gồm 20 câu hỏi chia làm hai phần: phần thông tin liên
quan đến quá trình học (10 câu); phần thông tin liên quan đến nội dung và
phương pháp đánh giá (10 câu). Câu hỏi thiết kế dạng đưa ra nhận định đánh
giá, SV trả lời theo 5 mức: rất không đồng ý, không đồng ý, cơ bản đồng ý,
đồng ý, rất đồng ý. Việc lấy ý kiến được thực hiện bằng hình thức phát phiếu
khảo sát, kết hợp với phương pháp khảo sát qua mạng Internet, và gửi biểu
20
21
mẫu khảo sát qua email. Công tác tổng hợp và xử lý kết quả được thực hiện
trên các phần mềm Excel và phần mềm thống kê Servqual để minh họa kết
quả và đề xuất giải pháp.
- Trường ĐH Kinh tế quốc dân sử dụng công cụ ”Phiếu lấy ý kiến về
công tác giảng dạy của GV” gồm 12 câu hỏi tập trung vào công tác giảng dạy
và chia theo các nhóm tiêu chí về kỹ năng giảng dạy (5 câu), về tác phong sư
phạm (6 câu) và đánh giá tổng thể theo sự hài lòng của SV (1 câu). Câu hỏi
theo dạng nhận định tương ứng với các hoạt động của GV, SV đưa ra câu trả
lời theo 5 mức: hoàn toàn không đồng ý, không đồng ý, tạm chấp nhận được,
đồng ý, hoàn toàn đồng ý. Công tác lấy ý kiến người học được triển khai
trong thời gian 2 tuần trước khi kết thúc học phần đối với hình thức phiếu góp
ý trực tuyến và trong thời gian 1 tuần trước khi kết thúc học phần đối với hình
thức phiếu góp ý giấy. Ý kiến góp ý của học viên, SV từ các phiếu giấy sẽ
được đưa vào máy quét để nhập dữ liệu (trước khi tiến hành quét dữ liệu
những phiếu không hợp lệ như bỏ trắng, điền không đầy đủ, nội dung góp ý
khác không lành mạnh sẽ được lọc để loại bỏ. Dữ liệu nhập từ các phiếu
giấy sẽ được tích hợp với dữ liệu thu được từ phần mềm lấy ý kiến trực tuyến
để tổng hợp và thống kê bằng các phần mềm thống kê SPSS. Kết quả thống
kê thông tin phản hồi từ người học về hoạt động giảng dạy của GV được tổng
hợp thành các báo cáo khác nhau theo từng đối tượng, mục đích.
- Trường ĐH Kinh tế và Quản trị kinh doanh – ĐH Thái Nguyên công
cụ khảo sát là “Phiếu điều tra SV đánh giá hoạt động giảng dạy của GV” gồm
giá, hiệu quả đối với SV Các câu hỏi được thiết kế theo cách hỏi có –
không, SV phản hồi bằng cách đánh dấu vào ô thích hợp tương ứng với câu
trả lời có – không – không rõ.
- Trường ĐH Kiến trúc TP Hồ Chí Minh sử dụng công cụ là “Bảng đánh
giá học phần” gồm 15 câu hỏi chia ra các lĩnh vực: nội dung chung (4 câu),
22
23
phương pháp đào tạo (6 câu), khối lượng công việc (5 câu). Các câu hỏi trực
tiếp hỏi về mức độ đánh giá của SV theo từng tiêu chí, SV trả lời theo 3 – 4
mức độ đánh giá tùy theo tính chất của từng câu hỏi. Việc lấy ý kiến SV trước
đây thực hiện bằng phiếu giấy, gần đây Nhà trường chuyển qua hình thức thực
hiện khảo sát tự nguyện qua mạng nhưng ý kiến thu được rất ít, không có giá trị
thống kê.
- Trường ĐH Xây dựng Miền Trung sử dụng công cụ “Phiếu đánh giá
hiệu quả môn học” gồm 17 câu hỏi theo hướng đưa ra các nhận định chủ yếu là
về hoạt động của GV, không chia theo các lĩnh vực. SV trả lời bằng phiếu giấy
được phát, đánh giá theo 3 mức độ đồng ư, phân vân, không đồng ư với các nhận
định mà câu hỏi đưa ra.
- Trường ĐH Kiến trúc Đà Nẵng sử dụng mẫu “Phiếu khảo sát dùng để
thu thập thông tin phản hồi của SV về chất lượng giảng dạy môn học” gồm 19
câu hỏi chia ra 4 lĩnh vực là: tổ chức thực hiện môn học (3 câu), chương trình
môn học (4 câu), hoạt động giảng dạy của GV (8 câu), hoạt động kiểm tra
đánh giá kết quả học tập (4 câu). Câu hỏi có dạng các nhận định, SV đánh giá
theo 5 mức: hoàn toàn không đồng ý, cơ bản không đồng ý, phân vân, cơ bản
đồng ý, hoàn toàn đồng ý.
- Trường Cao đẳng Xây dựng số 1 công cụ sử dụng là mẫu “Phiếu lấy ý
kiến học sinh, SV về học phần/môn học” gồm 17 câu hỏi tập trung vào hoạt
động của GV, chia ra là 5 nhóm tiêu chí gồm: công tác chuẩn bị giảng dạy,
phương pháp giảng dạy, nội dung giảng dạy, thực hiện cơ chế giảng dạy, tác
phong sư phạm của GV. SV trả lời trên phiếu giấy cho từng câu hỏi theo 4
nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường.
Trường ĐH Dược Hà Nội cũng quan tâm đến việc lấy ý kiến phản hồi
của SV tốt nghiệp về chất lượng đào tạo khóa học và xem đây là “một trong
24
25
những kênh thông tin quan trọng giúp trường có những điều chỉnh hợp lí, góp
phần nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu của xã hội” (Phạm Thi
Phương Uyên, 2011).
Cuối năm học 2010-2011, Trường ĐH Kinh tế - Luật đã tổ chức khảo
sát lấy ý kiến đánh giá của SV tốt nghiệp về chất lượng đào tạo khóa học
2007 – 2011 đối với các ngành đào tạo chính quy. Từ dữ liệu khảo sát về chất
lượng khóa học, trường đã phân tích, nhận định đánh giá của SV trên 5 lĩnh
vực: mục tiêu và nội dung chương trình, đội ngũ GV, tổ chức đào tạo và đánh
giá SV, tài liệu và cơ sở vật chất phục vụ học tập, tư vấn hỗ trợ SV. Cơ sở
phân tích giúp trường tiếp tục cải thiện để nâng cao chất lượng đào tạo và
phục vụ, cung cấp cho người học những khóa học có chất lượng cao.
Trường ĐH Bách khoa – ĐH Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh cũng
quan tâm và đầu tư cho việc tổ chức lấy ý kiến phản hồi của cựu SV về chất
lượng đào tạo khóa học. Bộ công cụ khảo sát được trường thiết kế xây dựng
dựa trên 4 nội dung về mục tiêu và chương trình đào tạo, về đội ngũ GV, về
việc tổ chức và quản lý đào tạo và về những kết quả đạt được từ khóa học.
Trường ĐH Kinh tế - ĐH Đà Nẵng cũng đã quan tâm đến công tác này
từ năm 2008 với mục đích được xác định là thông tin thu thập được từ hoạt
động này sẽ là cơ sở cho việc nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập cho
trường, đồng thời nhằm lưu giữ và phục vụ cho công tác thông tin tuyển dụng
đến SV tốt nghiệp. Bộ công cụ khảo sát được trường xây dựng và thiết kế
theo 3 phần, cụ thể là phần 1 có các nội dung về mục tiêu và chương trình đào
tạo, đội ngũ GV, công tác tổ chức đào tạo, các phòng chức năng, thư viện,
một số các hoạt động khác của trường và cảm nhận chung về kết quả đạt
được; phần 2 về những thông tin về việc làm và phần 3 về những thông tin cá