ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG ĐÌNH HUY
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG SẢN XUẤT
VÀ TIÊU THỤ CÂY CẢNH TẠI XÃ MINH TÂN,
HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Phát triển nông thôn
Khoa : Kinh tế & PTNT
Niên khóa : 2010 - 2014
Thái Nguyên, năm 2014
Sau thời gian thực tập, nghiên cứu, được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình
của các thầy giáo, cô giáo trong khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn -
Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên cũng như sự giúp đỡ và chỉ bảo
của các bác, các chú, các anh chị ở nơi thực tập, tôi đã hoàn thành khóa
thực tập tốt nghiệp của mình.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo trong
khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn - Trường đại học Nông Lâm Thái
Nguyên đã tạo mọi điều kiện, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thạc sỹ Nguyễn Quốc Huy -
người Thầy đã hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ủy Ban Nhân Dân xã Minh Tân cũng như
bà con nông dân trong xã cùng các phòng ban của xã đã tạo mọi điều kiện cho
tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 07 tháng 06 Năm 2014
Sinh viên Hoàng Đình Huy
MỤC LỤC
2.3.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa – cây cảnh thế giới. 14
2.3.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa, cây cảnh trong nước 18
2.3.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa, cây cảnh ở địa phương 19
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1. Đối tượng nghiên cứu 21
3.2. Nội dung nghiên cứu 21
3.3. Phương pháp nghiên cứu 21
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24
4.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 244.1.1. Đặc điểm tự nhiên 24
4.1.2. Điều kiện kinh tế, xã hội 26
4.1.3. Khái quát tình hình sản xuất kinh doanh của xã 30
4.2. Tình hình sản xuất cây cảnh ở xã Minh Tân 32
4.2.1. Thực trạng sản xuất cây cảnh ở xã Minh Tân 32
5.1. Kết luận 54
5.2 Kiến nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
PHIẾU ĐIỀU TRA
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Thị trường nhập khẩu thế giới và một số mặt hàng nông sản xuất
khẩu chủ lực của Việt Nam vào năm 2007 15
Bảng 4.1: Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai ở xã Minh 25
Bảng 4.2: Tình hình dân số và lao động xã Minh Tân 27
Bảng 4.3: Cơ sở hạ tầng xã Minh Tân 29
Bảng 4.4: Kết quả sản xuất kinh doanh của xã Minh Tân 30
Bảng 4.5 : Diện tích, cơ cấu các loại cây cảnh xã Minh Tân 33
Bảng 4.6: Thực trạng số hộ trồng cây cảnh ở xã Minh Tân 35
Bảng 4.7: Tình hình cơ bản của nhóm hộ điều tra 36
Bảng 4.8: Diện tích, cơ cấu các loại cây cảnh của nhóm hộ điều tra 38
cải thiện đáng kể. Cùng với sự tăng lên về thu nhập và mức sống của người
dân đó là sự tăng lên về các nhu cầu tinh thần và giải trí, trong đó có nhu cầu
chơi cây cảnh.
Từ xưa, chơi cây cảnh vẫn được coi là một trong những thú chơi tao
nhã và thường thấy trong những gia đình giàu sang, những gia đình am hiểu
nghệ thuật cây cảnh. Ngày nay, cây cảnh đã có mặt trong đời sống của con
người như một nhu cầu cần thiết về mặt tinh thần, chính vì vậy, nghề trồng
cây cảnh đã phát triển và trở thành một nghề sản xuất đem lại lợi ích kinh tế
cao cho người sản xuất.
Với điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội và phong tục tập quán
sản xuất của mình, xã Minh Tân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình có nhiều
tiềm năng để phát triển nghề trồng cây cảnh. Trong những năm gần đây, bằng
việc phát triển nghề trồng cây cảnh đã đem lại thu nhập cao cho người dân địa
phương, từ đó góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống và nâng cao đời sống
dân trí cho người dân.
Với hiệu quả kinh tế đã khẳng định, rất nhiều diện tích cây trồng khác
của xã Minh Tân đã chuyển đổi sang trồng cây cảnh; nhiều hộ đã chuyển từ
các nghề khác sang làm nghề trồng cây cảnh, từ đó mà thu nhập của người
dân cũng được nâng lên. Tuy nhiên, sự gia tăng ồ ạt về diện tích đã làm cho
số lượng cây cảnh tăng lên nhanh chóng; trình độ tay nghề người
lao động hầu hết vẫn còn hạn chế nên chất lượng cây cảnh không cao. Số
lượng sản phẩm sản xuất ra nhiều, chất lượng sản phẩm không cao dẫn đến 2
khâu tiêu thụ cây cảnh gặp nhiều khó khăn. Như vậy, về lâu dài, nếu tiếp tục
thực trạng đó thì hiệu quả kinh tế của nghề trồng cây cảnh sẽ giảm sút. Vấn đề
đặt ra là làm thế nào để tiếp tục duy trì và nâng cao hiệu quả của nghề trồng
cây cảnh chúng tôi nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu thực trạng sản xuất và
tiêu thụ cây cảnh tại xã Minh Tân, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình".
thô, con người, máy móc, nhà xưởng, kỹ thuật công nghệ, tiền mặt và các
nguồn tài nguyên khác để chuyển đổi nó thành sản phẩm hoặc dịch vụ.
Quyết định sản xuất dựa vào những vấn đề chính sau: sản xuất cái gì?,
sản xuất như thế nào?, sản xuất cho ai?, giá thành sản xuất và làm thế nào để
tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết làm ra sản phẩm?
2.1.3. Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến quá trình sản xuất
2.1.3.1. Vốn sản xuất
Vốn sản xuất là tiền mặt và những tư liệu sản xuất như máy móc thiết
bị, phương tiện vận tải, kho tàng Trong quá trình sản xuất, vốn đóng vai trò
rất quan trọng, vốn đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh thuận lợi, đúng
tiến độ kế hoạch.
Vốn sản xuất kinh doanh bao gồm: vốn chủ sở hữu và vốn vay trong đó
sẽ có một số khoản vốn vay phải trả chi phí tài chính, do vậy cần phải tập hợp
đầy đủ các khoản chi phí này trong quá trình sản xuất kinh doanh và vận dụng
các phương thức quản lý để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. 4
Trong điều kiện năng suất lao động không đổi thì tăng tổng số vốn sẽ
dẫn đến tăng thêm lượng sản phẩm. Tuy nhiên việc tăng thêm số lượng sản
phẩm còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như lao động, kỹ thuật và biện
pháp sử dụng vốn có hiệu quả. Để sử dụng có hiệu quả yếu tố vốn sản xuất
cần lưu ý: tăng vòng quay sử dụng vốn, không để bạn hàng chiếm dụng vốn,
tiết kiệm chi phí dành cho vốn vay …
2.1.3.2. Lao động
Lao động là yếu tố đặc biệt của quá trình sản xuất, liên quan đến các
hoạt động điều hành con người tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh
thể hiện ở số lượng, chất lượng tay nghề lao động, phương thức sử dụng lao
động … Mọi hoạt động sản xuất đều do con người quyết định.
Chất lượng lao động thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau: Trình độ,
2.1.4.1. Tiêu thụ
Khái niệm tiêu thụ: Tiêu thụ là quá trình thực hiện giá trị cũng như giá trị
sử dụng của hàng hoá. Quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hoá chuyển từ hình
thái hiện vật sang hình thái giá trị, vòng chu chuyển vốn được hình thành.
Tiêu thụ sản phẩm được coi là giai đoạn cuối của quá trình sản xuất
kinh doanh, là một trong các yếu tố quan trọng quyết định sự tồn tại và phát
triển của người sản xuất.
- Hoạt động tiêu thụ sản phẩm được cấu thành bởi các yếu tố:
+ Chủ thể kinh tế tham gia tiêu thụ: là người bán và người mua
+ Đối tượng: là sản phẩm hàng hoá, tiền tệ
+ Thị trường tiêu thụ: là nơi gặp gỡ giữa người bán, người mua
Sản phẩm hàng hoá tiêu thụ được phải thông qua thị trường. Thị trường
là nơi - cả thực và ảo mà người mua và người bán tự tìm đến với nhau để thoả
mãn nhu cầu của hai bên. 6
Các chức năng cơ bản của thị trường: Chức năng thừa nhận, chấp nhận
hàng hoá dịch vụ; chức năng thực hiện; chức năng điều tiết, kích thích sản
xuất, tiêu thụ sản phẩm hàng hoá; chức năng thông tin.
Các quy luật cơ bản của thị trường: Quy luật giá trị, quy luật cung cầu,
quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị thặng dư.
2.1.4.2. Kênh tiêu thụ
- Khái niệm: Kênh tiêu thụ là sự kết hợp qua lại với nhau giữa người
sản xuất, người trung gian để thực hiện việc chuyển giao sản phẩm, hàng hoá
đến người tiêu dùng cuối cùng.
- Các yếu tố cấu thành hệ thống kênh tiêu thụ sản phẩm
+ Người cung ứng: Người sản xuất hoặc công ty thương mại
+ Người trung gian: Người bán buôn, đại lý, người bán lẻ, người môi giới
+ Người tiêu dùng: Người cuối cùng trong hệ thống kênh tiêu thụ sản phẩm.
Khách hàng người tiêu dùng, họ là các cá nhân hay hộ gia đình mua
hàng hóa về phục vụ nhu cầu tiêu dùng cá nhân như: biếu tặng, trưng bày, sử
dụng … mà không đem bán lại hoặc đưa vào quá trình sản xuất khác.
Khách hàng là người bán buôn, bán lẻ là người mua hàng hóa về nhằm
mục đích bán lại để kiếm lời.
Khách hàng là người sản xuất, họ mua sản phẩm để đưa vào quá trình
sản xuất kinh doanh, mục đích làm gia tăng giá trị, lợi ích của sản phẩm.
Mục tiêu của người sản xuất, người buôn bán là tìm kiếm thu nhập, lợi
nhuận. Để có thu nhập, lợi nhuận thì họ phải tiêu thụ được sản phẩm hàng hoá
trên thị trường, do đó thị trường có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm.
2.1.5.3. Giá cả sản phẩm.
Giá cả là sự thể hiện bằng tiền của giá trị sản phẩm. Trong nền kinh tế
thị trường, giá cả là tín hiệu phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa người mua và 8
người bán; giữa người sản xuất, kinh doanh và thị trường. Giá cả nhiều khi lại
là yếu tố quyết định đến hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.
Giá bị ảnh hưởng của một số yếu tố là: Chi phí sản xuất trung bình, nhu
cầu của khách hàng và giá của đối thủ cạnh tranh … Do đó khi quyết định giá
bán sản phẩm phải xem xét mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này.
2.1.5.4. Chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm hàng hoá được thể hiện thông qua nhiều tiêu chí
như: độ bền, độ tin cậy, mức độ phù hợp với nhu cầu, dễ sử chữa, thay thế …
Chất lượng sản phẩm càng cao thì càng được người tiêu dùng thừa nhận.
Nâng cao chất lượng sản phẩm tạo thuận lợi cho quá trình tiêu thụ sản
phẩm, tăng chất lượng và hiệu quả sử dụng vốn, đồng thời góp phần tăng
uy tín của sản phẩm trên thị trường. Tuy nhiên khi nâng cao chất lượng sản
phẩm sẽ làm tăng chi phí sản xuất sản phẩm nên cần xem xét mức độ chấp
nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa. Cùng với sự phát triển
của nền kinh tế thì nghề trồng hoa cây cảnh trong tương lai có thể trở thành
ngành mũi nhọn trong ngành nông nghiệp ở nhiều địa phương.
2.2.2. Đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của sản xuất và tiêu thụ hoa, cây cảnh
Hoa, cây cảnh trước hết là loại cây mang đầy đủ đặc điểm như các loại
cây trồng khác. Cây cảnh là sự hội tụ vẻ đẹp của tự nhiên và bàn tay con
người, là sự mô phỏng lại thế giới tự nhiên một cách hoàn mỹ. Một cây
cảnh đẹp mang lại cho người chơi những giá trị cảm xúc, tinh thần tuyệt vời,
vì vậy, sản xuất cây cảnh có những điểm khác biệt đòi hỏi phải có sự đầu tư
khá cao về lao động và thời gian.
Cây cảnh là loại cây cần lao động sống nhiều hơn lao động vật hoá. Bởi
vậy, không phải cứ bón nhiều phân, phun nhiều thuốc kích thích thì sẽ có cây
đẹp mà cần thiết phải đầu tư nhiều công lao động để chăm sóc, tỉa cành, tạo 10
dáng cho cây cũng vì thế mà khi hạch toán cần phải chi tiết đầy đủ các
khoản chi phí nhằm đánh giá đúng hiệu quả sản xuất.
Chu kỳ sản xuất các loại cây cảnh khác nhau thì khác nhau, có loại một
năm, có loại nhiều năm. Thông thường, với các loại cây thế như sanh, si,
sung, đa trước khi đưa vào chậu tạo dáng thì cần khoảng thời gian tối thiểu
từ 1 đến 2 năm trồng ngoài ruộng để cây sinh trưởng và phát triển nhằm tạo
thế cổ thụ cho thân và rễ. Quá trình tạo dáng, uốn thế cho cây có thể kéo dài
từ vài năm đến hàng chục năm mới tạo ra những cây to, gốc xù xì, thế đẹp, có
giá trị cao. Với những loại cây như cam cảnh hay quất cảnh thì không cần uốn
hay phải tạo thế nhiều mà việc chăm sóc và tạo dáng được tiến hành khi cây
được khoảng 1 năm tuổi. Quá trình sau đó là tỉa lá, vin cành, đảo gốc để cây
ra quả chín đúng vào dịp tết. Nếu để quả chín sớm hay quá muộn thì sẽ dẫn
đến mất giá trị của cây cảnh, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất.
Hoa cây cảnh có nhiều loại khác nhau, do đó việc đầu tư vốn cho sản
cảnh, quất cảnh chủ yếu được tiêu thụ vào dịp tết nguyên đán.
Tóm lại, qua nghiên cứu đặc điểm tiêu thụ hoa cây cảnh, chúng tôi thấy
việc nắm bắt được các đặc điểm tiêu thụ, xu hướng tiêu dùng của từng loại
hoa, cây cảnh đối với nông hộ sản xuất là rất cần thiết để điều tiết sản xuất
phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, phát triển mở rộng sản xuất.
2.2.3. Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến quá trình sản xuất và tiêu thụ hoa,
cây cảnh
2.2.3.1. Nhân tố tự nhiên
Hoa, cây cảnh là loại cây trồng chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện tự
nhiên. Mỗi sự thay đổi nhỏ của tự nhiên về thời tiết, độ ẩm đều ảnh hưởng trực
tiếp đến quá trình sinh trưởng, phát triển, ra hoa, tạo quả của cây; ảnh hưởng đến
các khâu từ sản xuất đến tiêu thụ. Nhìn chung, các loại hoa cây cảnh, nhiệt đới
ưa độ ẩm từ 70% - 85%, nhiệt độ từ 22 - 30
o
C, độ PH của đất khoảng 6,9. 12
Khi điều kiện tự nhiên không thuận lợi sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quá trình
sản xuất hoa cây cảnh. Vì vậy, người sản xuất cần phải lựa chọn những giống
cây phù hợp với điều kiện thời tiết khí hậu của địa phương. Ở mức độ nào đó,
con người cũng có thể tạo ra môi trường nhân tạo như làm giàn che chắn, quây
nilon tạo thuận lợi hơn cho quá trình sinh trưởng, phát triển của cây.
2.2.3.2. Nhân tố về lao động
Con người là tác nhân quan trọng đối với mọi quá trình sản xuất. Đặc
biệt, trong quá trình sản xuất hoa cây cảnh thì con người phải có óc sáng tạo,
khiếu thẩm mỹ cao và kinh nghiệm làm vườn. Hơn thế nữa con người phải
nắm bắt được nhu cầu của thị trường để ra những quyết định sản xuất hợp lý
từ đó cung cấp được những sản phẩm hàng hoá phù hợp với thị hiếu người
tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu của thị trường. Do vậy, nếu người sản xuất hoa,
giao thông, hệ thống dẫn nước tưới tiêu, quy hoạch vùng sản xuất kinh doanh.
Giao thông khó khăn có thể các nông hộ không mở rộng được địa bàn
tiêu thụ, chỉ tiêu thụ tại địa phương hoặc các địa bàn lân cận do đường xá đi
lại khó khăn, xa nơi tiêu thụ, phương tiện giao thông không đảm vận chuyển
sản phẩm, chi phí cho vận chuyển cao … Giao thông khó khăn cũng gây trở
ngại cho các quyết định của người buôn hoa cây cảnh do mức độ rủi ro cao
hoặc chi phí vận chuyển cao.
Ngoài ra, các yếu tố khác như thông tin liên lạc, mạng lưới điện, các
công trình thuỷ lợi, hệ thống tưới tiêu cũng ảnh hưởng trực tiếp đến quá
trình sản xuất hoa, cây cảnh.
2.3.2.6. Nhân tố giá cả thị trường
Sản xuất hoa, cây cảnh là ngành sản xuất hàng hoá trong nền kinh tế thị
trường hiện nay nên sự tồn tại và phát triển của ngành này cũng gắn liền với
những biến động của thị trường. Trong những năm gần đây, giá cả đầu vào
của sản phẩm biến động nhiều, do đó cũng gây ra những biến động lớn đối
với quy mô, sản lượng các loại hoa cây cảnh. Giá sản phẩm đầu ra cũng là 14
yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu thụ hoa cây cảnh. Trên thực tế cho
thấy, nếu giá của một loại cây năm nay cao và bán chạy thì cung về loại cây,
loại hoa đó năm sau sẽ tăng cao, dẫn đến giá có thể giảm sút
Như vậy, qua phân tích ở trên cho thấy trị trường, giá cả là yếu tố quan
trọng quyết định đến sản xuất và tiêu thụ hoa cây cảnh.
2.2.2.7. Nhân tố chính sách, pháp luật
Đối với ngành sản xuất hoa cây cảnh, hiện nay vẫn chưa có những
chính sách cụ thể riêng cho ngành này. Tuy nhiên, những tác động chung về
mặt chính sách, pháp luật cũng ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển sản xuất
của ngành này. Ví dụ, chính sách khuyến khích chuyển đổi cơ cấu cây trồng
phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng, những thay đổi trong
Giá trị (USD)
Thị phần
%
Rau & Quả 97.900.226.000
300.000.000
0,3
Hoa – Cây cảnh 101.840.000.000
10.000.000
0
Gạo 9.249.026.000
1.489.970.000
16
Cà phê 7.548.041.000
1.911.463.000
25
Cao su 7.488.707.000
1.400.000.000
Hà Lan, Pháp nay đã trở thành những nước nhập khẩu và cũng là thị trường
tiêu thụ. Thay vào đấy, những nước đang phát triển, nơi lao động đang còn rẻ
và giá trị đất chưa cao như Trung Quốc, Malaysia, Nam Phi, Do Thái, Ấn Độ,
Colombia, Kenya, Ethiopia và Ecuador lại trở thành những nước sản xuất và
xuất khẩu. Về mặt địa lý, có thể nói Nam Phi, Kenya và Zimbabwe là những
đại gia xuất khẩu hoa - cây cảnh sang Âu châu trong khi Colombia là nước
chủ chốt xuất khẩu sang Hoa kỳ. Ở Á châu, Malaysia, Đài Loan, Thái Lan, và
gần đây Trung Quốc là những nước xuất khẩu, phần lớn sang Nhật Bản. Nhìn
chung, thị trường nhập khẩu hoa - cây cảnh trên thế giới được phân phối như 16
sau: Đức với 22 tỷ đô la Mỹ, chiếm 22%; Hoa kỳ với 15 tỷ đô la Mỹ, chiếm
15%; Pháp và Anh với 10 tỷ đô la, chiếm 10%; Hà Lan với 9 tỷ đô la, chiếm
9%; Nhật Bản với 6 tỷ đô la, chiếm 6%; Ý và Thuỵ Sĩ với 5 tỷ đô la, chiếm
5%. Giới chuyên gia còn cho rằng các nước thuộc khối Đông Âu cũ cũng sẽ
trở thành nơi sản xuất hoa - cây cảnh trong tương lai.
2.3.1.2. Tình hình phát triển hoa – cây cảnh trên thế giới
Ngành hoa - cây cảnh được phát triển tốt nhờ chất lượng hoa ngày càng
được cải thiện, công nghệ sau thu hoạch ngày càng cao, và giao thông ngày
càng tiện lợi. Điều này có được do có sự thành hình của các khu, trung tâm
nông nghiệp công nghệ cao, (còn gọi là Trung tâm Xuất sắc - Centre of
Excellence), nơi mà các giống hoa - cây cảnh được nghiên cứu theo dạng
công nghệ cao, hội tụ các công nghệ nông nghiệp tiên tiến của thời đại như
công nghệ sinh học, công nghệ nhà kính, công nghệ thủy canh và bán thủy
canh, công nghệ thông tin, công nghệ sử dụng hiệu quả nước,… do chuyên
gia của nhiều bộ môn khác nhau tập trung cùng làm việc theo một quy chế
thống nhất nhưng đơn giản, giải quyết dứt điểm nhưng vẫn mang tính bền
vững những vấn đề nổi cộm của ngành hoa - cây cảnh. Một số nước có mô
hình dạng này là Úc, Tân Tây Lan, Do Thái. Ở Á châu như Thái Lan,
Ngày nay các mô hình nông nghiệp công nghệ cao ở Chu Hải, Quảng
Đông, Thẩm Quyến đã cung cấp đầy đủ nông sản và rau quả cho vùng, xuất
khẩu sang Hồng Kông và thế giới. Đặc biệt Khu Nông nghiệp Côn Minh có
tiếng trên thế giới là trung tâm chuyên sản xuất hoa - cây cảnh cho thị trường
trong và ngoài nước. Côn Minh sản xuất khoảng 600 triệu cành hoa mỗi năm,
trị giá 350 triệu đô la Mỹ. Côn Minh cũng đã xây dựng được hệ thống đấu giá
hoa ở Dounan nhờ sự hợp tác với Hà Lan – là một nước hàng đầu trong ngành 18
sản xuất và xuất khẩu hoa. Hà Lan sản xuất 59% hoa cắt cành và 50% hoa chậu
cung cấp thị trường thế giới. Bước vào thế kỷ 21, Trung Quốc đang chuyển dần
từ thị trường hướng đến sản xuất (production-oriented) sang thị trường tiêu thụ
(consumption-oriented) nên sẽ là một thị trường lớn ở châu Á.
2.3.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa, cây cảnh trong nước
Nghề trồng hoa cây cảnh đã có từ lâu nhưng trong vài năm trở lại đây
mới thực sự phát triển mạnh mẽ theo hướng sản xuất hàng hoá. Một số nước
trong khu vực như Thái Lan, Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore, mặc dù
điều kiện tự nhiên không đa dạng như nước ta nhưng nhờ có sự đột phá trong
áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong chọn tạo, lai ghép các giống hoa cây
cảnh nên hàng năm giá trị thu về từ xuất khẩu hoa cây cảnh tương đối lớn.
Nhiều nước trên thế giới đã chọn cho mình một loài hoa riêng để làm "quốc
hoa" như Nhật Bản (hoa Anh đào), Hà Lan (hoa Tulip) Hiện nay, Thái Lan
đang nổi tiếng với mô hình hoa cắt như hoa lan, hoa hồng do sử dụng công
nghệ bảo quản và đóng gói tốt nên sản phẩm giữ được lâu và có giá trị cao
Tham khảo và học hỏi kinh nghiệm sản xuất của các nước này là việc làm rất
cần thiết.
Theo thống kê của Bộ nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, hiện nay
nước ta có gần 15000 ha trồng hoa cây cảnh, chủ yếu tập trung ở Hà Nội, Hải
Phòng, Lâm Đồng, Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó, diện tích trồng hoa
vườn cây cảnh có giá trị trên 1 tỷ đồng. Sản phẩm hoa cây cảnh được tiêu thụ
trong địa bàn huyện, tỉnh và các tỉnh lân cận như Hưng Yên, Hà Nội, Hải
Phòng, Quảng Ninh,
Quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi trên đất nông nghiệp
của huyện nói chung, hiệu quả của nghề trồng hoa cây cảnh nói riêng đã mang
lại hiệu quả khá cao, thu nhập /1 sào hoa cây cảnh gấp 3 - 10 lần so với sản
xuất lúa màu đơn thuần trên cùng một diện tích, đồng thời quá trình chuyển
đổi sang trồng hoa cây cảnh đã giải quyết việc làm cho gần 22000 lao động
trong tỉnh.