ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LỤC LĂNG MẪN
Tên đề tài:
“THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ XÃ KHANG NINH - HUYỆN BA BỂ
TỈNH BẮC KẠN” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Khoa : Kinh tế & PTNT
Lớp : K41 – KTNN
Khóa học : 2009 - 2014
Giảng viên hướng dẫn : KS. Tống Thị Thùy Dung
Khoa KT& PTNT - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, tháng 05 năm 2014
LỜI CẢM ƠN
MI : thu nhập hỗn hợp
LĐ : Lao động
BQ : Bình quân
ĐVT : Đơn vị tính
DT : Diện tích
Ha : Hecta
Kg : Kilôgam
CC : Cơ cấu
BVTV : Bảo vệ thực vật
TTCN :Tiểu thủ công nghiệp
DV : Dịch vụ
UBND : Ủy Ban Nhân Dân
HTX : Hợp Tác Xã
CN-TNCN : Công nghiệp-Tiểu thủ công nghiệp DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Tình hình sử dụng đất đai của xã qua 3 năm (2011 - 2013) 29
Bảng 3.2: Tình hình dân số và lao động của xã qua 3 năm 2011- 2013 31
Bảng 3.3. Kết quả sản xuất kinh doanh của xã qua 3 năm (2011 – 2013) 36
Bảng 3.4: Thông tin cơ bản về nhóm hộ điều tra 38
Bảng 3.5: Tình hình đất đai bình quân/hộ của nhóm hộ điều tra. 39
Bảng 3.6. Các công cụ sản xuất của nhóm hộ điều tra 42
Bảng 3.7: Chi phí trồng lúa của các nhóm hộ điều tra 43
Bảng 3.8: Chi phí trồng màu của nhóm hộ điều tra 45
Bảng 3.9: Chi phí cho ngành chăn nuôi của hộ/năm 46
Bảng 3.10: Kết quả sản xuất ngành trồng trọt của nhóm hộ điều tra 48
Bảng 3.11: Kết quả sản xuất ngành chăn nuôi của nhóm hộ điều tra 50
Bảng 3.12: Tổng thu nhập và cơ cấu thu nhập của nhóm hộ điều tra 51
Nam. 16
1.2.3. Các bài học kinh nghiệm rút ra đối với phát triển kinh tế hộ nông dân ở
Việt Nam nói chung và cho xã Khang Ninh nói riêng. 19
CHƯƠNG II. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 22
2.1.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22
2.1.1.Đối tượng nghiên cứu 22
2.1.2.Phạm vi nghiên cứu 22
2.3. Phương pháp nghiên cứu 23
2.3.1. Phương pháp thu thập số liệu 23
2.3.1.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 23
2.3.1.2. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 23
2.3.2. Phương pháp điều tra chọn mẫu 23
2.3.3. Phương pháp xử lý thông tin số liệu 24
2.3.4. Phương pháp phân tích số liệu 24 1
2.4.Hệ thống chỉ tiêu dùng trong nghiên cứu đề tài 25
2.4.1. Hệ thống chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất kinh doanh của nông hộ 25
2.4.2. Các chỉ tiêu phản ánh đời sống thu chi của nông hộ 25
2.4.3. Các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất và các công thức tính 25
CHƯƠNG III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 27
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 27
3.1.1.1. Vị trí địa lý 27
3.1.1.2. Địa hình 27
3.3.1.1. Trình độ văn hóa của chủ hộ 54
3.3.1.2. Đất đai 56
3.3.1.3. Vốn đầu tư cho sản xuất 56
3.3.2. Về thị trường 57
3.3.3. Về khoa học công nghệ 58
3.3.4. Vấn đề cơ sở hạ tầng 59
3.4. Đánh giá chung về kinh tế hộ ở xã Khang Ninh 59
3.4.1. Khó khăn và thuận lợi trong phát triển kinh tế ở xã Khang Ninh 59
3.4.2. Những vấn đề đặt ra trong phát triển kinh tế hộ ở xã Khang Ninh 61
3.5. Định hướng và một số giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế hộ xã Khang
Ninh 62
3.5.1. Định hướng phát triển kinh tế hộ ở xã Khang Ninh 62
3.5.2. Một số giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế hộ xã Khang Ninh 62
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
4.1.Kết luận 68
4.2. Kiến nghị 69
4.2.1. Đối với nhà nước 69
4.2.2. Đối với địa phương 69
4.2.3. Đối với hộ nông dân 70 3
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp giữ vai trò qua trọng trong phát triển kinh tế, đặc biệt với
các nước đang phát triển và nhất là nước ta. Bởi vì các nước đang phát triển
nói chung và nước ta nói riêng đa số người dân sống dựa vào nghề nông.
lớn, song chính trong bản thân nó vẫn đang tồn tại những mâu thuẫn cơ bản
cần giải quyết đó là:
- Sản xuất trong kinh tế hộ hiện nay chủ yếu là hoạt động sản xuất nông
nghiệp, yêu cầu ứng dụng khoa học, kỹ thuật vào sản xuất bị kìm hãm bởi
diện tích đất manh mún, quy mô nhỏ do kết quả của việc chia đất bình quân.
- Mâu thuẫn giữa tăng dân số và thiếu việc làm, kết hợp với tính thời vụ
trong nông nghiệp tạo ra hiện tượng dư thừa lao động, dẫn đến năng suất lao
động bình quân thấp.
- Tình trạng thiếu kiến thức, thiếu vốn đầu tư đang là tình trạng chung
của các hộ gia đình nên khi có chính sách cho vay vốn hộ cũng không biết sử
dụng sao cho có hiệu quả.
Những khó khăn này tồn tại chủ yếu ở các tỉnh miền núi, các vùng dân
tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa,… đã gây nhiều trở ngại cho tiến trình phát
triển của đất nước. Khang Ninh là một xã thuộc huyện Ba bể - tỉnh Bắc Kạn
nền sản xuất của xã nói chung vẫn chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Kinh tế
nông nghiệp nói chung và kinh tế hộ của xã nói riêng đang dần phát triển theo
đà phát triển chung của cả nước nhưng nó cũng không tránh khỏi những mâu
thuẫn tồn tại cần được giải quyết.
Xuất phát từ thực trạng đó em nghiên cứu đề tài : “Thực trạng và một số
giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế hộ tại xã Khang Ninh, huyện Ba Bể, tinh
Bắc Kạn” 5
2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài
2.1.Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng và tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân tại xã từ
6
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
1.1. Lý luận về hộ, kinh tế hộ
1.1.1. Một số khái niệm về hộ
Hộ là một tổ chức kinh tế - xã hội ra đời từ rất lâu, trải qua các giai đoạn
phát triển khác nhau của đất nước. Trong bất kỳ giai đoạn nào hộ luôn là đối
tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới theo đó cũng có những
khái niệm khác nhau. Sau đây là một số khái niệm về hộ:
Theo liên hợp quốc: “Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái
nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”[3].
Tại cuộc thảo luận quốc tế lần thứ tư về quản lý nông trại ở Hà Lan năm
1980 các đại biểu nhất trí rằng: “hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội có liên
quan đến sản xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác”[3].
Theo Raul Ituna – (Giáo sư trường Đại học Tổng hợp Lioobon) khi
nghiên cứu cộng đồng nông dân trong quá trình quá độ ở một số nươc Châu Á
đã chứng minh: “ Hộ là tập hợp những người có chung huyết tộc có quan hệ
mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra vật phẩm để bảo tồn chính bản
thân của họ và cộng đồng”[3].
Theo Giáo sư T.G.mc.Gee, 1989 “Hộ là một nhóm người cùng chung
huyết tộc, hay không cùng chung huyết tộc, ở chung một mái nhà, ăn chung
một mâm cơm và có chung một ngân quỹ”[3].
- Một số khái niệm về hộ nông dân.
Theo ông Đào Thế Tuấn ( 1997 ) cho rằng: “ Hộ nông dân là những hộ
chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề
cá và các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”[2].
trong nông nghiệp. Nó được hình thành và phát triển một cách khách quan,
lâu dài, dựa trên sự tư hữu các yếu tố sản xuất, là loại hình kinh tế có hiệu
quả, phù hợp với sản xuất nông nghiệp, thích ứng, tồn tại và phát triển trong
mọi chế độ kinh tế xã hội. 8
1.1.2. Vai trò của kinh tế hộ
Kinh tế hộ là hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp chủ yếu của nền
sản xuất hàng hoá, vì vậy nó có vai trò hết sức to lớn trong việc sản xuất
lương thực, thực phẩm cung cấp cho xã hội. Kinh tế hộ là tế bào quan trọng
để phát triển nông nghiệp nông thôn, thực hiện sự phân công lao động của xã
hội.
Kinh tế hộ có vai trò quan trọng trong việc khôi phục, bảo vệ và phát
triển môi trường, xây dựng và phát triển nông thôn mới.
Phát triển kinh tế hộ nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả đất đai, vốn,
kỹ thuật, kinh nghiệm. Kinh tế hộ cũng sẽ đi đầu trong việc thâm canh tăng
năng suất, ứng dụng công nghệ mới, sử dụng giống mới, sử dụng phân bón
thuốc hoá học một cách hợp lý, yêu cầu nhiều hơn đối với dịch vụ và đầu vào.
Kinh tế hộ nông dân góp phần tạo việc làm ổn định, tăng thu nhập cho
người lao động khuyến khích làm giàu đi đôi với xoá đói giảm nghèo.
Như vậy, phát triển kinh tế hộ góp phần bảo vệ môi trường, thúc đẩy quá
trình chuyển dịch lao động, cơ giới hóa nông nghiệp, kích thích các ngành
công nghiệp chế biến, công nghiệp cung cấp đầu vào cho nông nghiệp và các
ngành dịch vụ nông nghiệp phát triển do đó thúc đẩy quá trình công nghiệp
hóa hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn Việt Nam[8]
1.1.3. Các đặc trưng của kinh tế hộ
- Có sự gắn kết chặt chẽ giữa kết quả sản xuất và lợi ích người lao động.
Trong kinh tế hộ người gắn kết với nhau trên cả cơ sở kinh tế lẫn huyết tộc và có
chung ngân quỹ nên dễ dàng có sự nhất trí đồng tâm chặt chẽ cùng nhau phát
triển. Nhân tố làm nâng cao hiệu quả sản xuất của hộ đó chính là lợi ích
kinh tế, nó còn là động lực thúc đẩy những hoạt động của mỗi cá nhân trong hộ.
1.1.4. Phân loại hộ nông dân
Phân loại căn cứ vào mục tiêu và cơ chế hoạt động gồm 2 loại
- Hộ nông dân hoàn toàn tự cấp không có phản ứng với thị trường. 10
Loại hộ này có mục tiêu là tối đa hóa lợi ích, đó là việc sản xuất các sản
phẩm cần thiết để tiêu dùng trong gia đình.
- Hộ nông dân sản xuất hàng hóa chủ yếu.
Loại hộ này có mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận được biểu hiện rõ rệt và
họ có phản ứng gay gắt với thị trường vốn, ruộng đất, lao động.
Phân loại theo tính chất của ngành sản xuất của hộ gồm có 4 loại
- Hộ thuần nông: Là loại hộ chỉ thuần túy sản xuất nông nghiệp.
- Hộ chuyên nông: Là loại hộ chuyên làm các ngành nghề như cơ khí,
mộc, rèn, sản xuất nguyên vật liệu xây dựng. thủ mỹ nghệ, dệt, may…
- Hộ kiêm nông: Là loại hộ vừa làm nông nghiệp vừa làm nghề tiểu thủ
công nghiệp nhưng thu từ nông nghiệp là chính.
- Hộ buôn bán: Là loại hộ buôn bán là chính, ở nơi đông dân cư, có quầy
hàng…
Phân loại căn cứ vào mức thu nhập của nông hộ gồm 5 loại
- Hộ giàu.
- Hộ khá.
nguồn nước. Bởi vì những loại cây trồng và gia súc tồn tại theo quy luật sinh
học, nếu môi trường thuận lợi cây trồng, con gia súc phát triển tốt, năng suất
cao, còn ngược lại sẽ phát triển chậm, năng suất chất lượng giảm từ đó dẫn
đến hiệu quả sản xuất thấp kém.
• Nhóm nhân tố thuộc kinh tế và tổ chức, quản lý
Đây là nhóm yếu tố có liên quan đến thị trường và các nguồn lực chủ
yếu có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế nói chung và phát
triển kinh tế hộ nông dân nói riêng.
- Trình độ học vấn và kỹ năng lao động:
Người lao động phải có trình độ học vấn và kỹ năng lao động để tiếp thu
những tiến hộ khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất tiên tiến. Trong sản
xuất, phải giỏi chuyên môn, kỹ thuật, trình độ quản lý mới mạnh dạn áp dụng
thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm mang lại lợi nhuận cao. Điều
này là rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả trong sản xuất kinh 12
doanh của hộ, ngoài ra còn phải có những tố chất của một người dám làm
kinh doanh.
- Vốn:
Trong sản xuất nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng, vốn là điều
kiện đảm bảo cho các hộ nông dân về tư liệu sản xuất, vật tư nguyên liệu cũng
như thuê nhân công để tiến hành sản xuất. Vốn là điều kiện không thể thiếu,
là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa.
- Công cụ lao động:
Công cụ lao động có vai trò quan trọng đối với việc thực hiện các biện
pháp kỹ thuật sản xuất. Muốn sản xuất có hiệu quả, năng suất cao cần phải sử
triển kinh tế nông hộ.
- Ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ:
Sản xuất của hộ nông dân không thể tách rời những tiến bộ khoa học kỹ
thuật. Vì nó đã tạo ra cây trồng vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt.
Thực tế cho thấy những hộ nhạy cảm với tiến bộ kỹ thuật về giống, công nghệ
sản xuất, hiểu biết thị trường, dám đầu tư lớn và chấp nhận những rủi ro trong
sản xuất nông nghiệp, họ giàu lên rất nhanh. Nhờ có công nghệ mà các yếu tố
sản xuất như lao động, đất đai, sinh vật, máy móc và thời tiết khí hậu kết hợp
với nhau để tạo ra sản phẩm nông nghiệp. Như vậy, ứng dụng các tiến bộ kỹ
thuật mới vào sản xuất nông nghiệp có tác dụng thúc đẩy sản xuất hàng hoá
phát triển, thậm chí những tiến bộ kỹ thuật làm thay đổi hẳn bằng sản xuất
hàng hoá.
Nhóm nhân tố thuộc quản lý vĩ mô của Nhà nước
Nhóm nhân tố này bao gồm chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà
nước như: chính sách thuế, chính sách ruộng đất, chính sách bảo hộ, trợ giá
nông sản phẩm, miễn thuế cho sản phẩm mới, chính sách cho vay vốn, giải
quyết việc làm, chính sách đối với đồng bào đi xây dựng vùng kinh tế mới
Các chính sách này có ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế nông hộ là công 14
cụ đắc lực để Nhà nước can thiệp có hiệu quả vào sản xuất nông nghiệp, tạo
điều kiện cho các hộ nông dân phát triển kinh tế.
Tóm lại: Từ các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ nông dân có
thể khẳng định: Hộ nông dân sản xuất tự cung tự cấp muốn phát triển kinh tế
cần phải phá vỡ kết cấu kinh tế khép kín của hộ để chuyển sang sản xuất với
quy mô lớn và chính sách kinh tế là tiền đề, là môi trường để đầu tư, đưa tiến
,vật nuôi, vào sản xuất nhất là lúa, ngô, bông.
- Thái Lan: Là một nước trong khu vực Đông Nam Á của châu Á, chính
phủ Thái Lan đã thực hiện nhiều chính sách để đưa đất nước từ lạc hậu trở
thành nước có nền khoa học kỹ thuật tiên tiến. Một số chính sách có liên quan
đến việc phát triển kinh tế vùng núi ban hành (Từ 1950 đến năm 1980).
+ Thứ nhất: Xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng ở nông thôn. Mạng lưới
đường bộ bổ sung cho mạng lưới đường sắt, phá thế cô lập
Các vùng ở xa (Bắc, Đông bắc,Nam…) đầu tư xây dựng đập nước ở các vùng.
+ Thứ hai: Chính sách mở rộng diện tích canh tác và đa dạng hóa sản
phẩm như cao su ở vùng đồi phía Nam, ngô, mía, bông, sắn, cây lấy sợi ở
vùng núi phía Đông Bắc.
+ Thứ ba: Đẩy mạnh công nghiệp hóa công nghiệp hóa chế biến nông
sản để xuất khẩu như: ngô, sắn…sang các thị trường Châu Âu và Nhật Bản.
+ Thứ tư: Thực hiện chính sách đầu tư nước ngoài và chính sách thay thế
nhập khẩu trong lĩnh vực công nghiệp nhẹ. Nhà nước cũng thực hiện chính
sách trợ giúp tài chính cho nông dân như: cho nông dân vay tiền với lái suất
thấp, ứng trước tiền cho nông dân và cam kết mua sản phẩm với giá trị định
trước… cùng với nhiều chính sách khác đã thúc đẩy vùng núi Thái Lan phát
triển theo hướng sản xuất hàng hóa. Hàng năm có khoảng 95% sản lượng cao
su, hơn 4 triệu tấn dầu cọ do nông dân sản xuất ra. Xong trong quá trình thực
hiện có bộc lộ một số vấn đề còn tồn tại: Đó là việc mất cân bằng sinh thái, là
hậu quả của một nền nông nghiệp làm nghèo kiệt đất đai. Kinh tế vẫn mất cân
đối giữa các vùng, xu hướng nông dân rời bổ nông thôn ra thành thị lâu dài
hoặc rời bỏ nông thôn theo thời vụ ngày càng gia tăng. 16
17
hưởng ứng. Các cấp Hội Nông dân xác định đây là phong trào trọng tâm,
nòng cốt có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xóa đói giảm
nghèo, xây dựng nông thôn mới của hội viên. Thực hiện tốt phong trào này sẽ
góp phần xây dựng nông nghiệp, nông dân, nông thôn.[9]
- Phú Thọ ( xã Mỹ Lương) : tập trung phát triển kinh tế nông thôn, đầu
tư xây dựng và nâng cấp kết cấu hạ tầng sản xuất, nhất là giao thông, thủy lợi,
trường học và các công trình phúc lợi xã hội để nâng cao đời sống vật chất,
tinh thần cho người dân. Để tạo hệ thống đường giao thông liên thôn thuận
lợi, xã quan tâm chú trọng phong trào bê tông hóa đường giao thông nông
thôn. Trong 2 năm 2011 và 2012, xã đã hoàn thành bê tông 4 tuyến đường
liên thôn phục vụ đi lại, phát triển kinh tế trên địa bàn. Hiện nay, xã Mỹ
Lương vẫn còn trên 40% hộ nghèo; thu nhập bình quân đầu người đạt
850.000đồng/người/tháng, chính quyền xã xác định vấn đề cốt lõi nhất trong
phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng nông thôn mới ở xã là phát triển kinh
tế để giảm nghèo và nâng cao thu nhập cho bà con. Để làm được việc này, xã
vận động, chỉ đạo nhân dân đẩy mạnh phát triển nông, lâm nghiệp, đưa các
loại cây, con giống mới có năng suất, giá trị cao vào sản xuất; khuyến khích
doanh nghiệp, cá nhân đầu tư ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, chế biến nông
– lâm sản. Theo đó xã vận động, chỉ đạo nhân dân cấy 100% diện tích lúa
đúng thời vụ bằng các giống lúa có năng suất chất lượng cao như: Nhị ưu 838,
Nhị ưu 63, TH3-3, Chiêm hương, HT1… năng suất trung bình đạt gần 53
tạ/ha, tổng sản lượng đạt 2.743 tấn/năm. Là một trong số những địa phương
có diện tích rừng lớn của huyện Yên Lập, Mỹ Lương đã vận động nhân dân
sử dụng có hiệu quả diện tích đất rừng, mỗi năm thu nhập từ trồng rừng của
bà con khoảng 1,5 tỷ đồng.
Cùng với phát triển trồng trọt Mỹ Lương còn chú trọng phát triển chăn
nuôi, chủ yếu chăn nuôi lợn và gia cầm. Từ những mô hình chăn nuôi nhỏ lẻ
Với lợi thế của mình những năm qua, Bắc Quang đã có nhiều giải pháp
phát triển kinh tế, lấy kinh tế hộ nông dân làm mũi nhọn, làm ra phong trào
làm kinh tế hộ nông dân vừa và nhỏ theo định hướng hàng hóa. Những mô 19
hình kinh tế hộ đã trở thành điểm mẫu để người nông dân trong thôn, xã học
hỏi và nhân rộng thành phong trào đều khắp toàn huyện.
Các mô hình kinh tế đều có sự liên kết giữa các hộ với nhau, tạo ra một
lượng hàng hóa nhất định có sự thống nhất về giá cả cho từng loại sản phẩm,
đủ điều kiện để cung cấp cho thị trường hay tư thương theo từng chu kỳ chăn
nuôi hay mùa vụ sản xuất. Để trao đổi hàng hóa thuận lợi, huyện Bắc Quang
xây dựng hàng chục chợ xã và cụm ngoài xã những chợ truyền thống, đây vừa
là đầu mối thu gom tiêu thụ sản phẩm vừa là những “vệ tinh” kinh tế, giúp
người nông dân tiêu thụ sản phẩm một cách nhanh chóng và đúng giá. Đồng
thời các chợ đầu mối này cũng là nơi thu hút các nhà đầu tư các doanh
nghiệp, tư thương có cái nhìn đúng, đánh giá chính xác để đầu tư chế biến các
mặt hàng nông lâm sản ở từng khu vực và mô hình kinh tế trên địa bàn
huyện.[9]
1.2.3. Các bài học kinh nghiệm rút ra đối với phát triển kinh tế hộ nông
dân ở Việt Nam nói chung và cho xã Khang Ninh nói riêng.
• Đối với Việt Nam
Chủ trương, chính sách về giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho kinh
tế hộ (đất nông nghiệp 20 năm, đất lâm nghiệp 50 năm) đã nhanh chóng đi
vào cuộc sống của hàng triệu hộ nông dân. Có như vậy các hộ nông dân mới
yên tâm sản xuất và tập trung đầu tư trên đất đai được giao sử dụng lâu dài
của mình. Từ đó diện mạo của kinh tế hộ nông dân Việt Nam đã thay đổi một
mục tiêu cơ bản mà Nhà nước đã đặt ra: "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng và văn minh".
Nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng và vận dụng sáng tạo vào
tình hình thực tế của xã để đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp và kinh
tế hộ nông dân.
Trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp và kinh tế hộ nông dân,
Đảng bộ, UBND xã đã chỉ đạo các ban ngành tìm mọi cách góp phần tăng
năng suất cây trồng vật nuôi, xây dựng cơ cấu giống hợp lý, phù hợp với từng
loại đất, áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật trong canh tác.