1
I HC THI NGUYấN
TRNG I HC NễNG LM
NễNG SN TNG
Tờn ti:
Đánh giá hiệu quả sử dụng của hai loại thức ăn khác nhau tới khả
năng sinh trởng của gà thịt F1 (Mía lai Lơng Phợng) tại trại Gia
cầm khoa Chăn nuôi thú y, trờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
KhóA LUậN TốT NGHIệP ĐạI HọC
H o to : Chớnh quy
Chuyờn ngnh : Chn nuụi thỳ y
Lp : K42 - CNTY
Khoa : CNTY
Khoỏ hc : 2010-2014
Ging viờn hng dn: TS. T Trung Kiờn
H o to : Chớnh quy
Chuyờn ngnh : Chn nuụi thỳ y
Lp : K42 - CNTY
Khoa : CNTY
Khoỏ hc : 2010-2014
Ging viờn hng dn: TS. T Trung Kiờn
Thỏi Nguyờn, nm 2014
3
LỜI CẢM ƠN
Được sự nhất chí của Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y, trường Đại
học Nông Lâm Thái Nguyên, thầy giáo hướng dẫn và sự tiếp nhận của trại
Chăn nuôi gia cầm của khoa Chăn nuôi thú y. Qua quá trình học tập ở nhà
trường và sau 6 tháng thực tập tại cơ sở, tôi được sự giúp đỡ và chỉ bảo tận
tình của thầy cô giáo hướng dẫn, bạn bè và công nhân viên của trại chăn nuôi
gia cầm. Nay tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp. Thành công này không
chỉ là nỗ lực của cá nhân tôi mà bao gồm cả công sức của rất nhiều người. Tôi
muốn dành một vài lời để bày tỏ tấm lòng của tôi với những sự giúp đỡ đó.
Đầu tiên, tôi muốn cảm ơn thầy giáo TS. Từ Trung Kiên, người đã tận
tình hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này. Thầy không những hướng dẫn
tôi hoàn thành về nội dung và hình thức của khóa luận mà còn động viên tôi
rất nhiều trong quá trình thực tập, phân tích số liệu và biên soạn khóa luận.
người cán bộ có trình độ chuyên môn cao, năng lực tốt, góp phần xứng đáng
vào sự nghiệp phát triển đất nước.
Được sự nhất trí của ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, thầy giáo
hướng dẫn, tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá hiệu quả sử dụng của hai loại
thức ăn khác nhau tới khả năng sinh trưởng của gà thịt F1 (Mía lai Lương
Phượng) tại trại Chăn nuôi gia cầm khoa Chăn nuôi thú y, trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên”.
Được sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo hướng dẫn, cùng với sự nỗ
lực của bản thân, tôi đã hoàn thành bản khóa luận này. Do một số yếu tố
khách quan cũng như chủ quan của bản thân, khóa luận chắc chắn không
tránh khỏi sai sót. Tôi rất mong được sự quan tâm góp ý của các thầy cô và
các bạn bè để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn.
5
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Lịch phòng vaccine cho gà 12
Bảng 1.2. Kết quả công tác phục vụ sản xuất 15
Bảng 2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm 28
Bảng 2.2. Hàm lượng dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm 29
Bảng 2.3. Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (%) 32
Bảng 2.4. Sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiêm qua các tuần tuổi
CP : Protein thô
Cs : Cộng sự
EN : Chỉ số kinh tế
G : gam
Kg : Kilo gam
ME : Năng lượng trao đổi
PI : Chỉ số sản xuất
SS : Sơ sinh
TTA : Tiêu tốn thức ăn
8
MỤC LỤC
Trang
Phần 1: CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1
1.1. ĐIỀU TRA CƠ BẢN 1
1.1.1. Điều kiện tự nhiên 1
1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 2
1.1.3. Tình hình sản xuất của cơ sở 3
1.1.4. Quá trình thành lập và phát triển của trại gia cầm khoa Chăn nuôi -
Thú y trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên 6
1.2. NHẬN XÉT CHUNG 7
1.2.1. Thuận lợi 7
2.3. Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 27
2.3.1. Đối tượng nghiên cứu 27
2.3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành 27
2.3.3. Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 279
2.3.4. Phương pháp nghiên cứu 28
2.4. Kết quả và phân tích kết quả 31
2.4.1. Kết quả nuôi sống của gà thí nghiệm 31
2.4.2. Kết quả về sinh trưởng của gà thí nghiệm 33
2.4.3. Khả năng thu nhận và chuyển hóa thức ăn 39
2.4.4. Kết quả về hiệu quả sử dụng thức ăn cho gà thí nghiệm. 40
2.4.5. Chỉ số sản xuất và chỉ số kinh tế 42
2.4.6. Sơ bộ hạch toán thu chi cho 1 kg khối lượng gà xuất bán (đồng/kg) 43
2.5. KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 44
2.5.1. Kết luận 44
Thái Nguyên là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc nước ta nên có khí hậu
đặc trưng cho vùng Đông Bắc đó là khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới với hai
mùa rõ rệt đó là: mùa mưa và mùa khô.
Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình dao động
từ 24-29
o
C, ẩm độ trung bình từ 80-86%, lượng mưa trung bình là
160mm/tháng tập trung chủ yếu vào tháng 5, 6, 7, 8. Với khí hậu trên, trong
chăn nuôi cần chú ý công tác phòng bệnh cho đàn vật nuôi.
Mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau. Trong các tháng này
khí hậu lạnh và khô, nhiệt độ dao động từ 12-26
o
C, ẩm độ từ 76-83%. Về mùa
đông còn có gió mùa đông bắc gây rét và có sương muối gây ảnh hưởng xấu
đến sản xuất nông nghiệp.2
1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
1.1.2.1. Cơ cấu tổ chức quản lý của trại
Trại thực tập thí nghiệm trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên được
thành lập ngày 03/08/1974 với cơ cấu tổ chức như sau:
Ban lãnh đạo trại gồm: 1 trưởng trại và 2 phó trại.
Bên cạnh ban lãnh đạo trại còn có đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật có
nhiệm vụ tham mưu cho ban lãnh đạo hoàn thành tốt nhiệm vụ của trại.
Trại thực tập thí nghiệm có các đội ngũ cán bộ công nhân viên trong đó
có một chi bộ Đảng, một công đoàn cơ sở, một chi đoàn thanh niên luôn tích
cực hoạt động.
Với cơ cấu tổ chức như trên, nhiệm vụ của trại cần phải thực hiện tốt là:
Xây dựng và tổ chức sản xuất theo kế hoạch nhằm phục vụ công tác đài
1.1.3.1. Ngành trồng trọt
Trại thực tập đã đầu tư một lượng lớn cơ sở vật chất cho ngành trồng
trọt nhằm đảm bảo cho công tác học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên
và giáo viên đồng thời nhân, lai tạo các giống tốt cung cấp cho nhân dân trong
và ngoài tỉnh.
- Cây lúa: trại có tổng diện tích trồng lúa là 16,6 ha. Diện tích đất này
chủ yếu sử dụng cho công tác học tập và nghiên cứu khoa học, một phần được
giao khoán cho các hộ gia đình, cán bộ công nhân viên của trại. Quy hoạch
trồng lúa chủ yếu để sản xuất giống cung cấp cho nhân dân.
- Cây chè: trại có 6 ha chè, với diện tích chè trên đảm bảo cho công tác
học tập và nghiên cứu của giáo viên và sinh viên. Đối với cây chè, trại giao
khoán cho các hộ gia đình, cán bộ công nhân của trại chăm sóc và quản lý,
khi thu hoạch trại thu mua sản phẩm.
4
- Cây ăn quả: trại có vườn cây ăn quả tương đối phong phú: nhãn, vải,
hồng, bưởi, xoài, táo… Đối với cây ăn quả chủ yếu phục vụ cho công tác học tập
và nghiên cứu, đồng thời sản xuất cây giống cung cấp cho những người làm
vường. Trại có vườn ươm giống tương đối lớn gồm nhiều các loại cây giống.
1.1.3.2. Ngành lâm nghiệp
Đối với ngành lâm nghiệp do thành lập sau nên ngành đã được đầu tư
tương đối đồng bộ, phát triển hơn các ngành khác. Trại cũng có vườn ươm
nhân cây giông, đáp ứng nhu cầu học tập và nghiên cứu. Cung cấp cây giống
lâm nghiệp đáng kể cho công tác trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi chọc…
Trại không ngừng mở rộng diện tích sản xuất cây lâm nghiệp.
1.1.3.3. Ngành chăn nuôi
Ngành chăn nuôi của trại gồm: chăn nuôi lợn, gia cầm, cá. Quy mô
chăn nuôi chưa lớn nhưng đã đáp ứng được nhu cầu học tập, rèn luyện tay
nghề của sinh viên, thực hiện được các chuyên đề nghiên cứu khoa học của
giáo viên và sinh viên đồng thời hàng năm còn cung cấp một lượng con giống
thủy sản như: máy bơm, lưới, bình oxy Hàng năm trại đã cung cấp gần 25
vạn cá giống và khoảng 3 tấn cá thịt ra thị trường. Trại đã tiến hành nuôi thử
nghiệm cá Rô Phi đơn tính, cá Trê lai, đặc biệt nuôi thử nghiệm cá Chim
Trắng nước ngọt, bước đầu cho kết quả tốt. Trại còn mở lớp đào tạo công
nhân kỹ thuật nuôi trồng thủy sản.
- Công tác thú y:
Trại thực hành thực nghiệm thực hiện nghiêm ngặt quy trình vệ sinh
thú y nhằm không để dịch bệnh xảy ra.
Vệ sinh hàng ngày: chuồng trại, máng ăn, máng uống được cọ rửa, quét
dọn sạch trước khi cho gia súc, gia cầm ăn. Chuồng nuôi đảm bảo cho gia súc,
gia cầm thích hợp tùy theo mùa và điều kiện thời tiết.
6
Phòng bệnh định kỳ: trước khi nuôi gia súc, gia cầm, đã được dọn vệ
sinh tiêu độc khử trùng chuồng trại, định kỳ tiêm phòng cho đàn gia súc, gia
cầm của trại. Cụ thể, đối với gia súc tiêm phòng vaccine: tụ huyết trùng, dịch
tả, phó thương hàn, LMLM. Đối với gia cầm chủng các loại vaccine:
Newcastle, Gumboro, Đậu, Cúm, OVO4. Thường xuyên làm vệ sinh và định
kỳ tổng vệ sinh toàn bộ khu vực trại chăn nuôi. Phát hiện và điều trị kịp thời
những con ốm, xử lý những súc vật chết đúng quy định của thú y.
1.1.4. Quá trình thành lập và phát triển của trại gia cầm khoa Chăn nuôi -
Thú y trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
- Quá trình thành lập và quy mô của trại: Trại gia cầm khoa Chăn
nuôi - Thú y được xây dựng lại trên nền khu trại gà cũ của trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên theo mô hình chăn nuôi gà đẻ an toàn sinh học từ
năm 2013. Vị trí:
+ Phía nam giáp đường dân sinh vào khu Giáo dục quốc phòng.
+ Phía tây giáp vườn ươm khoa Lâm Nghiệp.
+Phía đông giáp khu Hoa viên cây cảnh.
+Phía bắc giáp khu cây trồng cạn.
2
.
+ Khu nhà xưởng và công trình phụ trợ có diện tích 120 m
2
. Trong đó có
các công trình như:
7
01 kho thuốc, dụng cụ thú y: 20 m
2
01 phòng ấp trứng gia cầm (máy ấp điện): 30 m
2
01 kho chứa và chế biến thức ăn chăn nuôi: 50 m
2
01 Kho dụng cụ (máng ăn, uống, đệm lót ): 20 m
2
+ Diện tích ao 3000 m
2
.
+ Diện tích đất còn lại là 3.960 m
2
được quy hoạch để trồng cây thức ăn
bổ sung cho gà.
Toàn bộ diện tích được rào bằng tường gạch kết hợp với lưới thép B40
với tổng chiều dài là 180 m.
- Chức năng và nhiệm vụ của trại: xây dựng mô hình chăn nuôi gà đẻ
an toàn sinh học phục vụ cho học tập, nghiên cứu khoa họa và rèn nghề của
1.2.2. Khó khăn
Tuy nhiên, trang trại gà đang gặp những điều kiện khó khăn:
Do mới được thành lập và nâng cấp nên trại gà không tránh khỏi những
khó khăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật và sản xuất, kinh nghiệm
sản xuất, kinh nghiệm quản lý chưa nhiều.
Do đất đai bạc mầu, nghèo dinh dưỡng và khí hậu có một số tháng trong
năm không được thuận lợi nên việc sản xuất còn gặp nhiều khó khăn, khả
năng sinh trưởng, phát triển của vật nuôi cây trồng bị hạn chế.
Mặc dù trang trại đã được phòng chống dịch bệnh chặt chẽ nhưng vẫn
xảy ra và tồn đọng trong các giai đoạn sinh trưởng của gia cầm.
1.3. Nội dung, phương pháp và kết quả phục vụ sản xuất
1.3.1. Nội dung thực tập tốt nghiệp
1.3.1.1. Công tác phục vụ sản xuất
- Công tác ứng dụng tiến bộ kĩ thuật vào chăn nuôi
Công tác thức ăn: Tính toán lượng thức ăn gà ăn hàng ngày
Công tác chăm sóc nuôi dưỡng: Chăm sóc toàn bộ gà của trại.
- Công tác thú y
Làm công tác vệ sinh môi trường, vệ sinh chuồng trại và xung quanh
chuồng trại.
Thực hiện nghiêm túc quy trình tiêm phòng.
9
Phát hiện và điều trị bệnh kịp thời cho vật nuôi.
1.3.1.2. Công tác nghiên cứu khoa học
Thực hiện chuyên đề nghiên cứu khoa học với tên đề tài : “Đánh giá hiệu
quả sử dụng của hai loại thức ăn khác nhau tới khả năng sinh trưởng của
gà thịt F1 (Mía lai Lương Phượng) tại trại Gia cầm khoa Chăn nuôi thú y,
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”.
1.3.2. Biện pháp tiến hành
Theo yêu cầu của nội dung thực tập tốt nghiệp trong thời gian thực tập
0
C. Từ 3 - 6 ngày tuổi
nhiệt độ cần thiết là 30
0
C sau đó nhiệt độ giảm dần theo ngày tuổi đến khi
thích hợp. Thường xuyên theo dõi đàn gà: Nếu gà tập trung đông, tụ đống gần
lò sưởi là hiện tượng gà thiếu nhiệt, cần tăng nhiệt độ lò. Còn gà tách xa lò
sưởi là nhiệt độ nóng quá phải giảm nhiệt cho phù hợp. Chỉ khi nào thấy gà
tản đều khi đó là nhiệt độ phù hợp. Máng ăn, máng uống đều được điều chỉnh
theo độ tuổi của gà, ánh sáng được đảm bảo cho gà hoạt động bình thường.
Giai đoạn hậu bị: Gà nuôi sinh sản từ 6-18 tuần tuổi, giai đoạn này
lượng thức ăn cho gà được xác định trong khẩu phần ăn theo các giai đoạn
khác nhau (giai đoạn 6-10 tuần tuổi và từ 10-18 tuần tuổi). Ở giai đoạn này
cho ăn khống chế có thể dùng 1 trong 2 phương pháp: Là cho gà 2 ngày ăn 1
ngày nhịn hoặc ngày nào cũng cho ăn theo khẩu phần khống chế. Khẩu phần
ăn được xác định tùy theo khối lượng cơ thể gà gầy hay béo mà điều chỉnh
phù hợp. Ngày cho ăn 2 lần để giảm những ảnh hưởng xấu và stress cho đàn
gà. Khi phân phối thức ăn vào máng thì trong vòng 5 phút tất cả các máng đều
có thức ăn. Máng gà cho giai đoạn này cần treo cao sao cho gờ miệng máng
luôn ngang với diều gà để tránh rơi vãi thức ăn, không khống chế nước uống.
Sử dụng thức ăn của hãng JAPFA.
Công tác quản lý đàn gà giai đoạn hậu bị: Hàng ngày theo dõi và giám
sát tình trạng sức khỏe của đàn gà. Khi phát hiện gà có triệu chứng, biểu hiện
bệnh, tiến hành theo dõi, kiểm tra, chẩn đoán bệnh và có biện pháp điều trị
bệnh kịp thời cho đàn gà. Trong quá trình nuôi dưỡng tiến hành tiêm chủng
các loại vaccine cho gà theo đúng lịch phòng bệnh theo quy trình kỹ thuật
chăn nuôi đã quy định, thường xuyên kiểm tra và tiến hành cân khối lượng gà
hàng tuần, thực hiện nghiêm ngặt chế độ chiếu sáng về thời gian và cường độ.
Định kỳ thay đệm lót khô và tơi xốp.
12
Bảng 1.1: Lịch phòng vaccine cho gà
Ngày tuổi Vaccine sử dụng Phương pháp dùng
5 ND - IB lần 1 Nhỏ mắt, mũi 1 giọt
7
Chủng đậu Chủng màng cánh
Gumboro lần 1 Nhỏ miệng 1 -2 giọt
14 Gumboro lần 2 Nhỏ miệng 1 - 2 giọt
21 ND - IB lần 2 Nhỏ mắt 1 giọt
28 Gumboro lần 3 Nhỏ miệng 1 -2 giọt
* Chẩn đoán và điều trị bệnh
Trong quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng đàn gà tại trại, chúng tôi luôn
theo dõi tình hình sức khỏe của đàn gà để chẩn đoán và có những hướng điều
trị kịp thời. Thời gian thực tập ở trại, chúng tôi thường gặp một số bệnh sau:
• Bệnh cầu trùng:
- Nguyên nhân: Bệnh cầu trùng do các loại động vật đơn bào khác nhau
thuộc họ cocidia gây ra, ký sinh chủ yếu trên tế bào biểu mô ruột.
- Triệu chứng: Qua quan sát chuồng nuôi thấy phân loãng hoặc sệt, màu
socola, đôi khi có lẫn máu. Mổ khám những con bị chết thấy ruột non, manh
tràng bị tụ huyết. Manh tràng sưng, chứa hơi.
- Bệnh tích: Mào, tích, cơ bắp nhợt nhạt. Mổ khám nếu là cầu trùng
manh tràng thì thấy manh tràng ứ đầy máu, sưng to. Nếu là cầu trùng ruột non
thì tá tràng sưng to, ruột phình to từng đoạn, niêm mạc tá tràng viêm, trên bề
mặt thấy các ổ tròn xám.
- Điều trị: Khi đàn gà bị nhiễm cầu trùng, chúng tôi tiến hành điều trị
như sau:
+ Dùng Rigecoccin: Liều trị 1g/2 lít nước uống.
+ B.complex: Liều 1g/2 lít nước.
+ Vitamin K: Liều 1g/2 lít nước.
Cho gà uống liên tục 4 ngày thì thấy gà hoạt động và ăn uống bình
Mổ cắn đứt lông: Ở gà nuôi nhốt không được vận động, dinh dưỡng và
khoáng không đủ gây nên hiện tượng gà mổ lông nhau, quanh ống chân lông bị
mổ có sắc tố tập trung tạo hình màu nâu sẫm.
14
Mổ cắn trên đầu: Khi ở mào, tích có vết thương là gà khác mổ cắn tiếp.
Gà nuôi nhốt hay mổ cắn mào, tích lẫn nhau.
Nguyên nhân: Có rất nhiều nguyên nhân gây nên hiện tượng mổ cắn
như: thiếu máng ăn, thiếu thức ăn xanh, thiếu máng uống, bị kích thích do
ngoại ký sinh trùng. Khi đã có một con mổ cắn nhau, đàn gà tiếp tục thói quen
đó không cần có sự kích thích nào khác.
Biện pháp khắc phục, hạn chế: Thức ăn chất lượng tốt, cho ăn lượng
thức ăn đủ không để gà đói lâu, cho ăn thêm rau xanh, có đầy đủ máng ăn
máng uống, đảm bảo chuồng đủ độ thông thoáng, tránh ánh sáng mạnh quá gây
kích thích cho gà. Khi gà bị mổ cắn bắt nhốt riêng và bôi xanh methylen vào,
không được bôi thuốc đỏ vì màu đỏ kích thích làm gà tiếp tục mổ cắn.
1.3.4. Tham gia các công việc khác
Trong thời gian thực tập, ngoài việc chăm sóc, nuôi dưỡng đàn gà thí
nghiệm, bản thân tôi còn tham gia vào một số công việc khác như:
+ Tiêu độc, khử trùng chuồng trại và khu vực xung quanh.
+ Chọn lọc và loại thải gà đẻ kém
+ Sửa chữa chuồng trại
+ Chăm sóc đàn gà thịt
15
Bảng 1.2. Kết quả công tác phục vụ sản xuất
Nội dung công việc
Đơi vị
Số lượng
học Nông Lâm Thái Nguyên, được sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo TS.Từ
Trung Kiên, tôi đã có điều kiện tiếp xúc với thực tiễn sản xuất, nâng cao kiến
thức, hiểu biết thêm về nghề nghiệp của mình và bằng sự lỗ lực của bản thân
tôi đã hoàn thành tốt nhiệm vụ đề ra.
Điều quan trọng hơn là tôi rút ra được bài học kinh nghiệm bổ ích về
chuyên môn từ thực tiễn sản xuất như:
+ Biết cách chăm sóc nuôi dưỡng, quản lý.
+ Biết cách dùng một số loại vaccine phòng bệnh và thuốc điều trị bệnh.
+ Biết chẩn đoán một số bệnh thông thường và biện pháp điều trị.
+ Tay nghề thực tế được nâng cao rõ rệt.
Có niềm tin ở chính mình, giúp tôi yêu nghề hơn, say mê với công
việc, không ngừng cố gắng học hỏi để làm tốt hơn khi ra thực tiễn sản xuất.
16
Tôi thấy rằng việc đi cơ sở thực tập là rất cần thiết đối với bản thân tôi cũng
như mỗi sinh viên trước khi ra trường.
1.4.2. Tồn tại
Trong thời gian thực tập với kết quả thu được tôi thấy còn một số tồn tại sau:
- Thời gian thực tập có hạn, kinh nghiệm thực tế chưa nhiều nên kết
quả thu được chưa cao.
- Còn non về tay nghề, đôi khi chưa mạnh dạn trong công việc. Các
kiến thức được học và rèn luyện chưa được áp dụng hết vào thực tiễn.
- Tôi thấy từ kiến thức trên sách vở vận dụng vào thực tế sản xuất là một quá
trình dài do vậy bản thân tôi là một kỹ sư thú y trong tương lại, tôi nhận thấy cần
khắc phục những khó khăn và luôn cố gắng rèn luyện vươn lên.