ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
oOo
LÀNH VĂN QUÂN Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH TÍCH LUỸ CÁC BON TRONG
CÁC TRẠNG THÁI RỪNG KEO TRỒNG TẠI XÃ TÂN
THÁI, HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : QLTNR
Khoa : Lâm nghiệp
Khoá học : 2010-2014 Thái nguyên, năm 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
oOo
một sinh viên ở giảng đường Đại học. Để trở thành một cử nhân hay một kỹ
sư đóng góp những gì mình đã học được cho sự phát triển đất nước. Đồng
thời là cơ hội để sinh viên vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, xây dựng phong
cách làm việc khoa học và chuyên nghiệp.
Được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp và giáo viên
hướng dẫn, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu xác định tích luỹ
các bon trong các trang thái rừng trồng Keo tại xã Tân Thái, huyện Đại
Từ, tỉnh Thái Nguyên”.
Trong thời gian thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp, dưới sự hướng
dẫn tận tình của giáo viên hướng dẫn và được phía nhà trường tạo điều kiện
thuận lợi, tôi đã có một quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và học tập nghiêm túc
để hoàn thành đề tài. Kết quả thu được không chỉ do nỗ lực của cá nhân tôi
mà còn có sự giúp đỡ của quý thầy cô, gia đình và bạn bè.
Tôi xin chân thành cảm ơn
Bán giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp đã tạo
điều kiện giúp tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Thầy giáo TS. Đỗ Hoàng Chung đã hướng dẫn, hỗ trợ tôi hoàn thành
tốt đề tài về phương pháp, lý luận và nội dung trong suốt thời gian thực hiện
khóa luận tốt nghiệp.
Các cán bộ, nhân viên của xã Tân Thái đã quan tâm, giúp đỡ tôi trong
thời gian thực tập.
Gia đình đã tạo điều kiện học tập tốt nhất.
Các bạn đã giúp đỡ, trao đổi thông tin về đề tài trong thời gian thực tập.
Trong quá trình thực hiện và trình bày khóa luận không thể tránh khỏi
những sai sót và hạn chế, do vậy tôi rất mong nhận được sự góp ý, nhận xét
phê bình của quý thầy cô và các bạn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 05 năm 2014
Sinh viên thực tập
MỤC LỤC
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục đích nghiên cứu 3
1.3. Mục tiêu nghiên cứu 3
1.4. Ý nghĩa đề tài 3
1.4.1. Ý nghĩa học tập và nghiên cứu 3
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn sản xuất 3
Phần 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
2.1. Nghiên cứu về sinh khối và năng suất rừng 4
2.1.1. Trên thế giới
4
2.1.2. Ở Việt Nam 5
2.2. Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO
2
của rừng 7
2.2.1. Trên thế giới 7
2.2.2. Ở Việt Nam
10
2.3. Phương pháp xác định sinh khối và xác định CO
2
trong sinh khối 14
4.1. Một số đặc điểm rừng trông Keo tại xã Tân Thái huyện Đại Từ tỉnh Thái
Nguyên. 31
4.1.1. Thực trạng và nguồn gốc rừng trồng Keo ở địa bàn nghiên cứu 31
4.1.2 Đặc điểm chung của lâm phần rừng trồng Keo ở trên địa bàn nghiên cứu. . 32
4.2. Xác định sinh khối tươi của rừng trồng Keo. 33
4.2.1. Đặc điểm sinh khối tầng cây gỗ của rừng trồng Keo. 33
4.2.2. Đặc điểm sinh khối tươi của cây bụi thảm tươi và thảm mục 34
4.2.2.1. Đặc điểm sinh khối tươi của cây bụi, thảm tươi. 34
4.2.2.2. Đặc điểm sinh khối tươi của thảm mục. 35
4.2.3. Đặc điểm sinh khối khô của rừng trồng Keo qua các độ tuổi tại xã Tân Thái
36
4.2.3.1. Sinh khối khô của rừng Keo 2-3 tuổi 36
4.2.3.2. Sinh khối khô của rừng Keo 4-5 tuổi 37
4.2.3.3. Sinh khối khô của rừng Keo 6-7 tuổi 38
4.3. Lượng các bon tích lũy trong rừng trồng Keo xã Tân Thái 39
4.3.1. Khả năng tích luỹ các bon của các thành phần trên mặt đất ở các trạng
thái rừng trồng Keo ở xã Tân Thái. 39
4.3.1.1. Lượng các bon tích lũy trong rừng trồng độ tuổi 2-3. 39
4.3.1.2. Lượng các bon tích lũy trong rừng trồng độ tuổi 4-5. 40
4.3.1.3. Lượng các bon tích lũy trong rừng trồng độ tuổi 6-7. 41
4.4. Đề xuất một số giải pháp 43
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44
5.1. Kết luận 44
5.2. Kiến nghị 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
I. Tiếng Việt 46
II. Tiếng Anh 48
lớn. Rừng cung cấp cho ta những sản vật quý hiếm, thanh lọc không khí, điều
hòa khí hậu, bảo vệ sự sống,… Đứng trước những thách thức về biến đổi khí
hậu, giá trị của rừng càng được đề cao. Những năm gần đây, đã có nhiều
nghiên cứu trên thế giới và trong nước nhằm nỗ lực bảo vệ và phát triển tài
nguyên rừng.
Giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính từ phá rừng và suy thoái rừng
(REDD) ở các nước đang phát triển là sang kiến toàn cầu đã được hội nghị
các nước thành viên thứ 13 (COP13) của công ước khung liên hợp quốc về
biến đổi khí hậu (UNFCCC) và nghị định như Kyoto thông qua tại Ba-li
(Indonesia) năm 2007. Hàng năm lượng khí thải từ phá rừng và suy thoái rừng
ở các nước đang phát triển chiếm 20% so với tổng sản lượng phát thải hiệu
ứng nhà kính trên toàn cầu, vì thế sang kiến REDD đã dược hình thành từ ý
tưởng giản đơn ban đầu là trả tiền cho các nước đang phát triển để làm giảm
phát khí thải CO2 từ nghành lâm nghiệp. Một số vấn đề đặt ra là cần phải
lượng hoá cacbon cơ sở, hiện đang được lưu trữ ở các cánh rừng. Các bể chứa
cacbon chính trong hệ sinh thái rừng nhiệt đới là các sinh khối sống của cây
cối và thực vật dưới tán và khối lượng vật liệu chết rơi rụng, mảnh vụn gỗ và
các chất hữu cơ trong đất. Các bon được lưu trữ trong sinh khối sống trên mặt
đất của cây thường là các bể chứa lớn nhất và ảnh hưởng trực tiếp lớn nhất từ
nạn phá rừng và suy thoái. Như vậy, ước tính các bon trong sinh khối trên mặt
đất của rừng là là bước quan trọng nhất trong việc xác định số lượng, dòng
2
các bon từ rừng nhiệt đới phương thức đo lường đối với các bể chứa đã được
mô tả ở các tài liệu của Post và cộng sự (1999), Brown Masera (2003),
Pearson và cộng sự (2005), IPCC (2006).
Sinh trưởng nhanh và năng suất cao đó là những loại cây trồng rừng tại
khu vực nhiệt đới. Ở khu vực này việc sản xuất gỗ có ý nghĩa và tầm quan
trọng hang. Diện tích rừng trồng trên thế giới khoảng 130 triệu ha (Allan and
thái rừng trồng keo tại xã Tân Thái, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên”
1.2. Mục đích nghiên cứu
Xác định được tổng trữ lượng các bon tích lũy của các trạng thái rừng
keo trồng tại xã Tân Thái huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được hiện trạng các loại rừng Keo trồng, khả năng sinh
trưởng độ che phủ của rừng keo theo từng độ tuổi tại xã tân thái, đại từ,
thái nguyên.
- Xác định được lượng các bon tích lũy trên mặt đất trong rừng Keo
trồng qua từng độ tuổi khác nhau.
- Tính toán được tổng lượng các bon tích lũy trong các loại rừng Keo
trồng tại xã tân thái, đại từ, thái nguyên.
1.4. Ý nghĩa đề tài
1.4.1. Ý nghĩa học tập và nghiên cứu
- Qua quá trình thực hiện đề tài, sinh viên sẽ được thực hành việc nghiên cứu
khoa học, biết phương pháp phân bổ thời gian hợp lý để đạt hiệu quả cao trong quá
trình làm việc, đồng thời là cơ sở để củng cố những kiến thức đã học trong nhà
trường vào hoạt động thực tiễn .
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn sản xuất
- Thúc đẩy việc trồng rừng của người dân, giúp người dân hiểu rõ được
chu kỳ của rừng trồng để thu được lợi ích trong việc trồng và phát triển rừng
sản xuất.
4
Phần 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Nghiên cứu về sinh khối và năng suất rừng
2.1.1. Trên thế giới
Sinh khối và năng suất rừng là những vấn đề đã được rất nhiều tác giả
Canell (1982) đã cho ra đời cuốn sách “Sinh khối và năng suất sơ cấp
của rừng thế giới", cho đến nay nó vẫn là tác phẩm quy mô nhất. Tác phẩm đã
tổng hợp 600 công trình nghiên cứu được tóm tắt xuất bản về sinh khối khô,
thân, cành, lá và một số thành phần sản phẩm sơ cấp của hơn 1.200 lâm phần
thuộc 46 nước trên thế giới [30].
2.1.2. Ở Việt Nam
Nghiên cứu về sinh khối rừng ở nước ta tiến hành muộn nhưng cũng đã
có một số công trình nghiên cứu sau:
Nguyễn Hoàng Trí (1986) thực hiện nghiên cứu “Sinh khối và năng suất
rừng đước” đã áp dụng phương pháp “cây mẫu” để nghiên cứu năng suất, sinh
khối một số quần xã rừng Đước đôi rừng ngập mặn ven biển Minh Hải [19].
Hà Văn Tuế (1994) cũng dùng phương pháp “cây mẫu” để nghiên cứu
năng suất, sinh khối một số rừng trồng nguyên liệu giấy tại Vĩnh Phúc [21].
Lê Hồng Phúc (1996) đã có công trình nghiên cứu về sinh khối hoàn
chỉnh, đây được xem là tác phẩm mang tính chất đi đầu trong lĩnh vực nghiên
cứu sinh khối ở nước ta. Với đối tượng nghiên cứu là Thông ba lá tại Đà Lạt.
Sau khi nghiên cứu, tác giả đã lập được một số phương trình tương quan giữa
sinh khối của các bộ phận của cây rừng với đường kính D
1.3
[10].
Vũ Văn Thông (1997) với luận văn Thạc sỹ của mình đã xác lập được
mối quan hệ giữa sinh khối của các bộ phận với đường kính D
1.3
cho loài Keo
lá tràm [17].
6
Đặng Trung Tấn (2001) cũng đã nghiên cứu về “Sinh khối rừng Đước”
và đã nhận định tổng sinh khối khô rừng Đước ở Cà Mau là 327m
7
động trong khoảng 53.440 - 309.689 kg/ha còn tổng sinh khối khô dao động
trong khoảng 22.965-105.026 kg/ha [6].
Đỗ Hoàng Chung (2012) đã nghiên cứu về đa dạng nhóm sinh vật phân
giải và cường độ phân giải thảm mục trong rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên tại
trạm đa dạng sinh học Mê Linh, Vĩnh Phúc kết quả cho thấy sinh khối khô
của tầng thảm mục tại các quần xã rừng có sự khác biệt. Tổng sinh khối khô
của tầng thảm mục tại các quần xã rừng nghiên cứu nằm trong khoảng 8,35 -
12,91 tấn/ha [24].
Nguyễn Thanh Tiến (2012) nghiên cứu khả năng hấp thụ CO
2
của trạng
thái rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên sau khai thác kiệt tại tỉnh Thái Nguyên
đã cho thấy sinh khối khô rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên trạng thái IIb tại
Thái Nguyên là 76,46 tấn/ha. Trong đó: Sinh khối khô tầng cây gỗ trung bình
63,38 tấn/ha; Sinh khối tầng cây dưới tán (cây bụi thảm tươi, cây tái sinh)
trung bình 4,86 tấn/ha; Sinh khối khô vật rơi rụng trung bình 8,22 tấn/ha [25].
2.2. Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO
2
của rừng
2.2.1. Trên thế giới
Nơi có khả năng hấp thụ một khối lượng lớn CO
2
phát thải vào không
khí bởi các hoạt động của con người đó là đại dương và thảm thực vật. Trong
đó thảm thực vật đã lưu giữ một lượng CO
2
lớn hơn 1 nửa khối lượng chất khí
phát thải đó và cũng chính từ nguyên liệu carbon này hàng năm thảm thực vật
thường tập trung ở 4 bộ phận chính: Thảm thực vật còn sống trên mặt đất, vật
rơi rụng, rễ cây và đất rừng. Việc xác định lượng carbon trong rừng thường
được thực hiện thông qua xác định sinh khối rừng [34].
Kết quả nghiên cứu về sự biến động carbon sau khai thác rừng:
- Brown, S. (1997) đã nhận định rằng: Một khu rừng nguyên sinh có
thể hấp thụ được 280 tấn carbon và sẽ giải phóng 200 tấn carbon nếu chuyển
thành du canh du cư và sẽ giải phóng nhiều hơn một chút nếu được chuyển
thành đồng cỏ hay đất nông nghiệp. Rừng trồng có thể hấp thụ khoảng 115
9
tấn carbon và con số này sẽ giảm từ 1/3 đến 1/4 khi rừng bị chuyển đổi sang
canh tác nông nghiệp [27].
- Rodel D. Lasco (2002) lượng sinh khối và carbon của rừng nhiệt đới
Châu Á bị giảm khoảng 22-67% sau khai thác. Tại Philippines sau khai thác
thì lượng CO
2
bị mất là 50% so với rừng thành thục trước khai thác và ở
Indonesia là 38-75% [36].
- Theo Putz và Pinard (1993) ở Malaisia nếu khai thác chọn lấy đi 8-15
cây/ha (tương đương 80m
3
/ha hay 22 tấn carbon/ha) sẽ làm tổn thương 50%
số cây được giữ lại. Ở Sabah sau khai thác 1 năm lượng sinh khối đã đạt 44-
67% so với trước khai thác (nếu khai thác theo phương thức "Khai thác giảm
thiểu tác động" (dẫn theo Phạm Xuân Hoàn, 2005) [4].
- Xét trên phạm vi toàn cầu, số liệu thống kê năm 2003 cho thấy lượng
carbon lưu trữ trong rừng khoảng 800-1.000 tỷ tấn. Trong 1 năm rừng hấp thụ
khoảng 100 tỷ tấn khí carbonic và thải ra khoảng 80 tỷ tấn oxy [4].
- Tổng lượng hấp thu dự trữ carbon của rừng trên thế giới khoảng 830
và tính cả trong sinh khố và đất là 90 - 780 tấn/ha [32].
- Năm 2000 tại Indonesia, Noordwijk đã nghiên cứu khả năng tích luỹ
carbon của các rừng thứ sinh, các hệ thống nông lâm kết hợp và thâm canh
cây lâu năm. Kết quả cho thấy lượng carbon hấp thụ trung bình là 2,5
tấn/ha/năm [32].
Công trình nghiên cứu tương đối toàn diện và có hệ thống về lượng
carbon tích luỹ của rừng được thực hiện bởi Ilic (2000) và Mc Kenzie (2001).
Theo Mc Kenzie, carbon trong hệ sinh thái rừng thương tập trung ở bốn bộ
phận chính: thảm thực vật còn sống trên mặt đất, vật rơi rụng, rễ cây và đất
rừng. Việc xác định lượng carbon trong rừng thường được thực hiện thông
qua xác định sinh khối rừng [34].
2.2.2. Ở Việt Nam
Nguyễn Ngọc Lung (2004), công bố nghiên cứu sinh khối rừng Thông ba
lá để tính toán khả năng cố định CO
2
mà cây rừng hấp thụ. Đây là công trình
11
nghiên cứu có ý nghĩa trong lĩnh vực khoa học nghiên cứu khả năng hấp thụ
CO
2
của rừng, tạo tiền đề cho việc xây dựng dự án trồng rừng CDM sau này [8].
Nguyễn Văn Dũng (2005) nghiên cứu về rừng Thông Mã vỹ tại Núi
Luốt - Đại học lâm nghiệp cho thấy rừng Thông mã vỹ thuần loài 20 tuổi
lượng carbon tích luỹ là 80,7-122 tấn/ha, giá trị carbon tích luỹ ước tính đạt
25,8-39 triệu VNĐ/ha. Rừng Keo lá tràm trồng thuần loài 15 tuổi có tổng
lượng carbon tích luỹ là 62,5-103,1 tấn/ha, giá trị tích luỹ carbon ước tính đạt
20-33 triệu VNĐ [2].
Vũ Tấn Phương (2006) đã nghiên cứu trữ lượng carbon theo các trạng
12
Lý Thu Huỳnh (2007) nghiên cứu về khả năng hấp thụ carbon của rừng
Mỡ, kết quả thu được tổng lượng carbon tích luỹ dao động từ 40.933 -
145.041 kg/ha; trong đó chủ yếu tập trung vào carbon trong đất trung bình là
59%, tầng cây gỗ 30%, vật rơi rụng 4% và cây bụi thảm tươi là 2% [6].
Phạm Tuấn Anh (2007) Nghiên cứu về năng lực hấp thụ CO
2
của rừng
tự nhiên lá rộng thường xanh ở Đăk Nông cho kết quả: Lượng tích luỹ CO
2
hàng năm từ 1,73 đến 5,18 tấn/ha/năm tuỳ theo trạng thái rừng [1].
Ngô Đình Quế (2005) 12 khi nghiên cứu, xây dựng các tiêu chí, chỉ tiêu
trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch ở Việt Nam đã tiến hành đánh giá khả
năng hấp thụ CO
2
thực tế của một số loại rừng trồng ở Việt Nam gồm: Thông
nhựa, keo lai, Mỡ, keo lá tràm và bạch đàn Uro ở các tuổi khác nhau. Kết quả
tính toán cho thấy khả năng hấp thụ CO
2
của các lâm phần khác nhau tuỳ
thuộc vào năng suất lâm phần đó ở các tuổi nhất định. Để tích luỹ khoảng 100
tấn CO
2
/ha Thông nhựa phải đến tuổi 16 - 17, Thông mã vĩ và Thông ba lá ở
tuổi 10, Keo lai 4 - 5 tuổi, Keo tai tượng 5 - 6 tuổi, Bạch đàn Uro 4 - 5 tuổi.
Kết quả này là rất quan trọng nhằm làm cơ sở cho việc quy hoạch vùng trồng,
xây dựng các dự án trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch (CDM). Tác giả đã
), chiều cao vút ngọn
(H
vn
), mật độ (N), như Nguyễn Văn Dũng (2005) 2 đã xây dựng quan hệ
cho 2 loài Thông mã vĩ và Keo lá tràm; Ngô Đình Quế (2005) 13 đã xây dựng
mối quan hệ cho các loài Thông nhựa, Keo lai, Keo tai tượng, Keo lá tràm,
Bạch đàn Uro; Vũ Tấn Phương (2006) xây dựng các phương trình quan hệ
Keo lai, Keo tai tượng, Keo lá tràm, Bạch đàn Urophylla và Quế 12. Đây là
những cơ sở quan trọng cho việc xác định nhanh lượng carbon tích luỹ của
rừng trồng nước ta thông qua điều tra một số chỉ tiêu đơn giản.
Khả năng hấp thụ của rừng tự nhiên cũng được quan tâm nghiên cứu.
Vũ Tấn Phương (2006) đã nghiên cứu trữ lượng carbon theo các trạng thái
rừng, kết quả cho thấy rừng giàu có tổng trữ lượng carbon là 694,9 - 733,9 tấn
CO
2
/ha, rừng trung bình 539,6 - 577,8 tấn CO
2
/ha, rừng nghèo 387,0 - 478,9
tấn CO
2
/ha, rừng phục hồi 164,9 - 330,5 tấn CO
2
/ha và rừng tre nứa là 116,5 -
277,1 tấn CO
2
/ha [12].
Theo Hoàng Xuân Tý (2004), nếu tăng trưởng rừng đạt 15m
3
/ha/năm,
tổng sinh khối tươi và chất hữu cơ của rừng sẽ đạt được xấp xỉ 10 tấn/ha/năm
2
trong sinh khối
2.3.1. Phương pháp xác định sinh khối
Phương pháp xác định có ý nghĩa rất quan trọng khi nghiên cứu về sinh
khối, vì nó liên quan đến độ chính xác của công trình nghiên cứu. Tùy từng
tác giả với những điều kiện khác nhau mà sử dụng các phương pháp xác định
sinh khối khác nhau, trong đó có thể kể đến một số tác giả chính như sau:
• Một số tác giả như Transnean (1926), Huber (Đức, 1952),
Monteith (Anh, 1960 - 1962), Lemon (Mỹ, 1960 - 1987), Innone (Nhật, 1965 -
1968), … đã dùng phương pháp dioxit carbon để xác định sinh khối. Theo đó
sinh khối được đánh giá bằng cách xác định tốc độ đồng hóa CO
2
.
• Aruga và Maidi (1963) đưa ra phương pháp “Chlorophyll” để xác
định sinh khối thông qua hàm lượng Chlorophyll trên một đơn vị diện tích
mặt đất. Đây là chỉ tiêu biểu thị khả năng của hệ sinh thái hấp thụ các tia bức
xạ hoạt động quang tổng hợp.
• Edmonton (1968) đề xướng phương pháp Oxygen nhằm định
lượng oxygen tạo ra trong quá trình quang hợp của thực vật màu xanh. Từ đó
tính ra được năng suất và sinh khối rừng.
• Schumarcher, Spurr, Prodan, Alder, Abadie: đã sử dụng mô hình
toán học để mô phỏng sinh khối, năng suất rừng thông qua một số nhân tố
điều tra như: đường kính, chiều cao, cấp tuổi, mật độ…
• Whitaker (1961, 1966), Mark (1971) cho rằng “số đo năng suất
chính là số đo tăng trưởng, tích lũy sinh khối ở cơ thể thực vật trong quần xã”
• Newbuold (1967) đề nghị phương pháp “cây mẫu” để nghiên cứu
sinh khối và năng suất của quần xã từ các ô tiêu chuẩn.
15
được xác định theo phương trình hóa học sau:
CO
2
= C + O
2
= 510,4 + (510,4 * 2,67) = 1873,17kg
16
Tương tự, trong quá trình hình thành nên 61,9 kg Hydro, cây rừng sản
xuất 1 lượng ôxy là:
H
2
O - H
2
+ 1/2 O
2
= 61,9 + (61,9*8) = 557,10 kg
Như vậy để tạo thành 1 tấn sinh khối khô tuyệt đối, cây rừng đã sử
dụng khoảng 1873,17kg CO
2
và thải vào khí quyển 1.449,97kg O
2
. Vậy, dựa
vào đường carbon trong sinh khối thực vật, chúng ta xác định được lượng
CO
2
mà cây hấp thụ được trong không khí.
Xác định trữ lượng carbon bằng cách sử dụng hệ số mặc định về trữ
lượng cacbon trong sinh khối khô là 0,5 (IPCC, 2005) và lượng carbon tương