Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang. - Pdf 29



I HC THI NGUYấN
TRNG I HC NễNG LM
Trần Văn Tuyến

Tờn ti:

NGHIấN CU MT S C IM SINH VT HC V SINH
THI HC CA LOI THIT SAM GI L NGN
(PSEUDOTSUGA BREVIFOLIA W.C CHENG & L.K.FU, 1975)
TI HUYN NG VN, TNH H GIANG
Khóa luận tốt nghiệp đại học

H o to : Chớnh quy
Chuyờn ngnh : Qun lý Ti nguyờn rng Khóa luận tốt nghiệp đại học

H o to : Chớnh quy
Chuyờn ngnh : Qun lý Ti nguyờn rng
Khoa : Lõm nghip
Khúa hc : 2010 - 2014
Ging viờn hng dn: Th.S Nguyn Th Thoa
Khoa Lõm nghip - Trng i hc Nụng Lõm Thỏi Nguyờn Thỏi Nguyờn 2014
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân
tôi. Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn
toàn trung thực, khách quan, chưa công bố trên một tài liệu nào, nếu có gì sai
tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.

sự quan tâm, giúp đỡ của Ban giám hiệu, Khoa Lâm Nghiệp và các thầy giáo,
cô giáo thuộc Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên. Nhân dịp này cho em
xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ quý báu đó.
Trước tiên, cho em xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới ThS. Nguyễn Thị
Thoa, Ths. Lê Văn Phúc - với tư cách là người hướng dẫn khoa học, đã tận tình
giúp đỡ, hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện đề tài này.
Em cũng xin cảm ơn Ban Giám Đốc và Ban lãnh đạo Hạt Kiểm Lâm
huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang là nơi em đã tiến hành thực tập và nghiên
cứu đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và thu thập số
liệu ngoại nghiệp để hoàn thành đề tài này.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn các bạn lớp 42 - Quản lý Tài
nguyên rừng, bạn bè và người thân trong gia đình đã giúp đỡ, động viên em
trong suốt thời gian học tập và hoàn thành đề tài.
Vì điều kiện thời gian, nhân lực và những khó khăn khách quan nên
bản đề tài nghiên cứu khoa học này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu
sót. Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy, cô giáo, các
bạn sinh viên để đề tài được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Người thực hiện
Trần Văn Tuyến

MỤC LỤC


2.3.2.4. Điều kiện kinh tế - xã hội 16
2.3.3. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Sà phìn. 17
2.3.3.1. Kinh tế - xã hội xã Sà Phìn 17
2.4. Nhận xét những thuận lợi và khó khăn của địa phương khu vực
nghiên cứu 17
2.4.1. Thuận lợi 17
2.4.2. Khó khăn 18
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 19
3.1. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 19
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 19
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu 19
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành 19
3.2.1. Địa điểm tiến hành nghiên cứu 19
3.2.2. Thời gian tiến hành nghiên cứu 19
3.3. Nội dung nghiên cứu 19
3.4. Phương pháp nghiên cứu 20
3.4.1. Phương pháp nghiên cứu chung 20
3.4.2. Phương pháp nghiên cứu ngoại nghiệp 21
3.4.2.1. Nghiên cứu đặc điểm hình thái của loài Thiết sam giả lá ngắn
(Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) 21
3.4.2.2. Nghiên cứu đặc điểm phân bố và sinh thái loài Thiết sam giả lá ngắn
(Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) 21
3.4.2.3. Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc lâm phần có loài Thiết sam giả
lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) phân bố 22
3.4.2.4. Nghiên cứu đặc điểm tái sinh nơi có loài thiết sam giả lá ngắn
(Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) phân bố 23
3.4.3. Phương pháp nội nghiệp 23

4.5. Đề xuất một số biện pháp nhằm bảo tồn và phát triển loài cây Thiết sam
giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) 43
4.5.1. Giải pháp về chính sách 43
4.5.2. Các giải pháp về kỹ thuật 44
4.5.3. Nâng cao ý thức và năng lực của cộng đồng trong công tác bảo vệ đa
dạng sinh học 44
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 45
5.1. Kết luận 45
5.2 Kiến nghị 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
I. Tài liệu trong nước 48
II. Tài liệu nước ngoài 50
PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Kích thước cây Thiết sam giả lá ngắn điều tra tại xã Sà Phìn, huyện
Đồng Văn, tỉnh Hà Giang 28
Bảng 4.2: Kích thước cấy Thiết sam giả lá ngắn điều tra tại xã Thài Phìn
Tủng, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang 28
Bảng 4.3: Đặc điểm phân bố của loài TSGLN theo độ cao tại xã Thài Phìn
Tủng, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang 31
Bảng 4.4: Đặc điểm phân bố của loài TSGLN theo độ cao tại xã Sà Phìn
huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang 32
Bảng 4.5: Cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cao nơi loài Thiết sam giả lá ngắn
phân bố tại sườn núi đá 33

H
DC
: Chiều cao dưới cành
Hvn : Chiều cao vút ngọn
OTC : Ôtiêu chuẩn
ODB : Ô dạng bản
TS : Tái sinh
TSGLN : Thiết sam giả lá ngắn
VQG : Vườn Quốc Gia 1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Việt Nam được biết đến như một trung tâm đa dạng sinh học của thế
giới với các hệ sinh thái tự nhiên phong phú và đa dạng. Các hệ sinh thái
rừng, đất ngập nước, biển, núi đá vôi, v.v, Những nét đặc trưng của vùng
khí hậu nhiệt đới, là nơi sinh sống và phát triển của nhiều loài hoang dã đặc
hữu, có giá trị, trong đó có những loài không tìm thấy ở nơi nào khác trên
thế giới. Việt Nam cũng là nơi được biết đến với nhiều nguồn gen hoang dã
có giá trị, đặc biệt là các cây thuốc, các loài hoa, cây cảnh nhiệt đới, v.v,…
Đa dạng sinh học ở Việt Nam có ý nghĩa to lớn trên nhiều phương
diện khác nhau về sinh thái, kinh tế và xã hội. Giá trị sinh thái và môi
trường thể hiện ở chỗ sự đa dạng sinh học giúp bảo vệ tài nguyên đất và
nước, điều hòa khí hậu, phân hủy các chất thải. Giá trị kinh tế thể hiện rõ ở
sự đóng góp của các nghành liên hệ mật thiết đến đa dạng sinh học đối với
nền kinh tế như nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và du lịch. Giá trị
nhân văn của đa dạng sinh học là góp phần giáo dục con người, tạo công ăn
việc làm, ổn định trật tự xã hội.

vôi. Nằm ở cực Bắc nước ta, cao và khá rộng lớn bắt đầu từ phía Tây từ khi
kết thúc thung lũng ở phía Đông huyện Yên Minh, về phía Đông đến bờ
phải của sông Nho Quế, về phía Nam đến bờ trái của sông Gâm và về phía
Bắc đến biên giới Việt Trung. Độ cao từ khoảng 1000m đến các đỉnh cao
nhất thường không quá 1600m so với mặt nước biển. Cao nguyên núi đá
vôi huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang được các nhà khoa học trong nước và
quốc tế xác định là khu vực cần ưu tiên cho việc bảo tồn đa dạng sinh học
trên núi đá vôi. Nơi đây đã được các cấp chính quyền của tỉnh Hà Giang,
các tổ chức, cá nhân quan tâm thực hiện nhiều nghiên cứu về đa dạng sinh
học, quản lý tài nguyên thiên nhiên và phát triển sinh kế cộng đồng. Tuy
nhiên công tác bảo tồn đa dạng sinh học ở đây vẫn đang gặp nhiều khó
khăn và thách thức, nguyên nhân là do nhu cầu sử dụng tài nguyên đa dạng
sinh học tăng cao, mặt khác do tầm quan trọng và giá trị trực tiếp của đa 3
dạng sinh học đối với cuộc sống của con người rất lớn. Bên cạnh đó do
nhận thức của người dân còn thấp và năng lực quản lý của các cơ quan
chức năng còn hạn chế, cộng với các giải pháp bảo tồn chưa cụ thể, chưa
sâu sát nên hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học chưa cao làm cho tài nguyên đa
dạng sinh học tại cao nguyên núi đá vôi huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang ngày
càng bị suy giảm thậm chí một số loài có nguy cơ biến mất.
Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu,
1975) là một trong số 33 loài cây lá kim bản địa ở Việt Nam, có phân bố tự
nhiên hiện còn sót lại ở vùng núi đá vôi huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.
Đây là loài cây gỗ nhỡ, gỗ đẹp và bền, thường mọc trên các đỉnh núi đá vôi
có độ cao từ 500 - 1500m so với mặt nước biển. Loài này mang nhiều ý
nghĩa về sinh thái, giá trị thương mại, giá trị sử dụng, giá trị văn hóa cảnh
quan. Hiện nay vùng phân bố tự nhiên bị thu hẹp nhanh chóng và số lượng
cá thể trưởng thành của loài bị giảm sút nghiêm trọng do nhiều nguyên

những kiến thức đã học vào thực tế, có điều kiện học hỏi những kiến thức
thực tiễn từ các cán bộ quản lý và chuyên môn tại địa phương nhằm nâng
cao kiến thức và kĩ năng cho mình để thực hiện tốt công việc sau này.
Kết quả thực hiện đề tài có thể làm cơ sở cho giảng viên, sinh viên
tiếp tục nghiên cứu khoa học chuyên sâu về loài Thiết sam giả lá ngắn
(Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975).
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
Giúp các nhà quản lý có cái nhìn tổng thể hơn về công tác quản lý bảo
vệ rừng tại khu vực nghiên cứu, từ đó có những điều chỉnh hợp lý nhằm
đem lại hiệu quả cao trong quản lý bảo vệ tài nguyên rừng.
Làm cơ sở đưa ra giải pháp bảo tồn và phát triển loài cây: Thiết sam
giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) góp phần
nâng cao tính đa dạng sinh học. 5
PHẦN 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học loài cây
2.1.1. Trên thế giới
Các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm về sinh thái học thực vật
nhằm tìm hiểu sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa các loài thực vật với nhau
và giữa chúng với điều kiện nơi mọc, các phương pháp nghiên cứu đó đã
được trình bày trong “Thực nghiệm sinh thái học” của Stephen,
D.Wrattenand, Gary L.A.ry (1980), W.Lacher (1987) [25] các tác giả đã
ghi rõ sự thích nghi của các loài với các điều kiện dinh dưỡng khoáng, ánh
sáng, chế độ nhiệt, chế độ ẩm, khí hậu.

đối với một số loài cây như trên đã phần nào làm sáng tỏ những đặc điểm
cấu trúc, tái sinh của rừng nhiệt đới nói chung. Đó là cơ sở để tôi lựa chọn
nội dung nghiên cứu này.
2.1.2. Ở Việt Nam
Ở nước ta, nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài cây
bản địa đã được thực hiện, có thể tổng hợp và liệt kê ra đây một số nghiên
cứu có liên quan như sau:
Nguyễn Bá Chất (1996) [3] đã nghiên cứu đặc điểm lâm học và biện
pháp gây trồng nuôi dưỡng cây Lát hoa, ngoài những kết quả nghiên cứu về
các đặc điểm phân bố, sinh thái, tái sinh,…Tác giả cũng đã đưa ra một số
biện pháp kĩ thuật gieo ươm cây con và trồng rừng đối với Lát hoa.
Trần Minh Tuấn (1997) [13] đã nghiên cứu một số đặc tính sinh vật
học loài Phỉ ba mũi làm cơ sở cho việc bảo tồn và gây trồng tại Vườn Quốc
gia Ba Vì - Hà Nội, ngoài những kết quả về đặc điểm hình thái, tái sinh tự
nhiên, sinh trưởng và phân bố của loài, tác giả còn đưa ra một số định
hướng về kỹ thuật lâm sinh để tạo cây con từ hạt và trồng rừng đối với loài
cây này.
Vũ Văn Cần (1997) [2] đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm sinh
vật học của cây Chò đãi làm cơ sở cho công tác tạo giống trồng rừng ở
Vườn Quốc gia Cúc Phương, ngoài những kết luận về đặc điểm phân bố, 7
hình thái, vật hậu, tái sinh tự nhiên, đặc điểm lâm phần,…tác giả cũng đưa
ra những kĩ thuật tạo cây con từ hạt đối với loài cây Chò đãi.
Nguyễn Thanh Bình (2003) [1] đã nghiên cứu một số đặc điểm lâm
học của loài Dẻ ăn quả phục hồi tự nhiên tại Bắc Giang. Với kết quả nghiên
cứu đạt được, tác giả đã đưa ra nhiều kết luận, ngoài những đặc điểm về
hình thái, vật hậu, phân bố, cấu trúc, tái sinh của loài tác giả còn cho rằng
phân bố N - H và N - D đều có một đỉnh, tương quan giữa Hvn và D1.3 có

Quốc. Ở Việt Nam, Bách xanh hiện còn ở Ba Vì và Lâm Đồng, phân bố ở
độ cao từ 900m-1500m, chúng thường mọc theo đám, trong kiểu rừng kín
thường xanh hỗn hợp cây lá rộng, lá kim cận nhiệt đới núi thấp, có sự phân
tầng khá rõ rệt rừng thường có 3 tầng chính. Bách xanh là một loài thực vật
quý hiếm, ở VQG Ba Vì hiện có 486 cây, là nguồn gen quý giá của quốc
gia cần được bảo vệ. Phùng Tiến Huy (1996) [7].
Bách vàng (Xanthocyparis vietnamensis Farjon & Hiep) thuộc họ
Hoàng đàn (Cupressaceae), là chi thực vật mới được phát hiện trong hệ
sinh thái núi đá vôi tại Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Bát Đại Sơn thuộc
huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang. Đây là một phát hiện hiếm hoi trong thực
vật học vì trong vòng 60 năm trở lại đây chỉ có 4 phát hiện tương tự cho
lớp Thông (Pinopsida) (Farjon et. Al., 2003). Kết quả đánh giá hiện trạng
bảo tồn và nghiên cứu nhân giống bằng giâm hom loài bách vàng ở Hà
Giang, tác giả Tô Văn Thảo và cộng sự cho thấy: chỉ gặp Bách vàng ở phần
đỉnh dông của các núi đá vôi ở độ cao trong khoảng 1.050m đến 1.330m.
Tổng số cây Bách vàng còn lại ước tính 561 cây, số cây trưởng thành ước
tính cho toàn quần thể là 290 cây, tỷ lệ cây con tái sinh ở các điểm dao
động từ 10 - 15%. Loài này hiện đang bị đe dọa nghiêm trọng do có khu
phân bố hẹp, số lượng cây ít và bị khai thác lấy gỗ bởi người dân địa
phương. Bách vàng có khả năng nhân giống từ các cây trưởng thành mọc
trong tự nhiên. Khả năng ra rễ của hom Bách vàng giảm theo kích thước
đường kính của cây. Qua đó tác giả cũng đã thử nghiệm nhân giống Bách
vàng bằng hom nhằm phục vụ cho công tác bảo tồn chuyển vị và làm cơ sở
phát triển loài cây này ra trồng rừng tại địa phương. 9
Tóm lại, với những kết quả của những công trình nghiên cứu như trên
là cơ sở tốt để tôi lựa chọn những nội dung và hướng đi thích hợp cho đề
tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của loài Thiết sam giả lá ngắn

Ngoài ra có sự phát hiện thêm loài Pseudotsuga wilsoniana từ Đài Loan.
Ngoài Pseudotsuga wilsoniana, một số loài khác cũng được đề nghị đưa
tách biệt khỏi Pseudotsuga sinensis (Pseudotsuga forrestii, Pseudotsuga
salvadorii, Pseudotsuga gaussenii, Pseudotsuga brevifolia, Pseudotsuga
xichangensis) nhưng đã không được chấp nhận rộng rãi.
Mối quan hệ giữa các loài này được chấp nhận rộng rãi sau nghiên cứu
của Strauss et al (1990) [24] sử dụng các mảnh vỡ hạn chế DNA Gernandt
và Liston (1999) [20] sử dụng DNA ribosome hạt nhân.
Những công trình nghiên cứu trên chủ yếu tập trung sắp xếp, mô tả
loài và ghi chú về khu vực phân bố phục vụ mục đích phân loại là chủ yếu.
Chưa có công trình nào tiến hành điều tra chi tiết về đặc tính sinh thái học của
loài như tái sinh, tổ thành,… đây chính là động lực giúp tôi chọn vấn đề nghiên
cứu này.
2.2.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, những tài liệu đề cập về loài Thiết sam giả lá ngắn là rất
hiếm và hầu như chưa có công trình nghiên cứu cụ thể và chi tiết nào về
loài cây này. Trong sự hiếm hoi về tài liệu đề cập đến loài Thiết sam giả lá
ngắn, tôi đã cố sưu tầm và có thể kể đến một số công trình sau:
Sách đỏ Việt Nam, phần thực vật (2007) [9] đã đề cập đến tình trạng
bảo tồn của 8 loài thuộc họ Thông (Pinaceae), trong đó có loài Thiết sam
giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu). Loài này được
ghi nhận là có nguồn gen quý hiếm được xếp hạng: VU A1a,c,d, B1+2b,e -
Loài sẽ nguy cấp. Tài liệu cũng chỉ ra rằng ở Việt Nam, loài này mới chỉ
được ghi nhận bắt gặp ở một số tỉnh miền núi phía Bắc như: Hà Giang, Cao
bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn với số lượng cá thể ít nguy cơ đe dọa rất cao.
Trong cuốn sách cây lá kim Việt Nam (Nguyễn Đức Tố Lưu và Philip Ian
Thomas, 2004) [5] đề cập đến 30 loài cây lá kim của Việt Nam trong đó có
cây Thiết sam giả lá ngắn: Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C 12
điểm trên trục trung chuyển giữa vùng cao Đồng Văn - Quản Bạ với Trung
Quốc và thành phố Hà Giang. Vị trí đó vừa là lợi thế, vừa là thách thức đối
với huyện Yên Minh trong xu thế hội nhập nền kinh tế của cả huyện nói
riêng và cả tỉnh Hà Giang nói chung với nền kinh tế của cả nước.
2.3.1.2. Địa hình, địa thế.
Diện tích tự nhiên là 44.666ha, trong đó 11.837ha là đất sản xuất nông
nghiệp. Diện tích núi đá chiếm 73,49%. Địa hình phức tạp, có nhiều núi
cao, vực sâu chia cắt. Nhiều ngọn núi cao như Lũng Táo 1.911m. Độ cao
trung bình 1.200m so với mực nước biển. Địa hình thấp dần từ Tây sang
Đông.
2.3.1.3. Đất đai thổ nhưỡng.
Thổ nhưỡng của Hà Giang rất phong phú với 9 nhóm đất chính, trong
đó nhóm đất xám chiếm diện tích lớn nhất với 585.418 ha, chiếm 74,28%
diện tích tự nhiên. Các nhà khoa học đã xác định và phân chia các khu vực
thổ nhưỡng chính của Hà Giang như sau: Khu vòm nâng sông Chảy, lớp
thổ nhưỡng hình thành trên nền 2 nhóm đá chính là macma axit và đá biến
chất. Địa hình nơi đây được xếp vào kiểu núi khối tảng dạng vòm trên nền
nguyên sinh phân cắt mạnh. Khu vực này có lượng mưa trung bình hàng
năm khá lớn (3.000 mm). Với những điều kiện như vậy, đã tạo nên ở đây
một lớp phủ thổ nhưỡng đa dạng.
2.3.1.4. Khí hậu thủy văn.
* Khí hậu: Khí hậu ở huyện Đồng Văn mang tính ôn đới và phân ra
nhiều tiểu vùng khí hậu khác nhau. Một năm chia ra thành 2 mùa rõ rệt,
mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) và mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4
năm sau), thường có sương mù, sương muối, thời tiết khô hanh. Lượng
mưa trung bình khá cao, khoảng 1.600 - 2.000mm/năm. Ở một vài tiểu
vùng nhiệt độ có lúc xuống tới 4-5°C như ở Lán Xì, Phó Bảng,… thời tiết

mặc áo cánh cổ tròn, xẻ ngực. Không giống như nhóm Lô Lô đen, phụ nữ
Lô Lô hoa mặc áo tay cắt chẽn, quần có trang trí hoa văn chứ không mặc
váy. Tuy nhiên trang phục nữ giới của 2 nhóm Lô Lô đều trang trí các loại 14
hoa văn hình tam giác, hình vuông, hình quả thảo quả, hình chim ngó bá,
Phụ nữ Lô Lô thường đeo những đồ trang sức bằng bạc, nhôm có sắc trắng,
sáng lấp lánh.
Nhân dân các dân tộc huyện Đồng Văn có đời sống văn hóa, tinh thần
khá phong phú, đa dạng. Mỗi dân tộc có những nét văn hóa truyền thống

riêng biệt, khẳng định sự trường tồn trong quá trình hình thành phát triển
của dân tộc mình như: Trống đồng Lô Lô, trống đồng Pu Péo, tiếng khèn
của dân tộc Mông, các làn điệu dân ca của dân tộc Tày, Nùng, Dao,
Giấy,… cùng tồn tại và phát triển trong nền văn hóa truyền thống các dân
tộc Việt Nam. Bên cạnh những nét riêng biệt mang đậm bản sắc dân tộc,
trong quá trình giao tiếp văn hóa các dân tộc có sự đan xen lẫn nhau càng
tăng thêm vẻ đẹp phong phú, đa dạng của văn hóa các dân tộc tại huyện
Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.
Khí hậu Đồng Văn mang tính ôn đới, thích hợp trồng các loại cây ăn
quả như: Lê, đào, mận, táo,… và các loại cây dược liệu quý như: Đỗ trọng,
huyền xâm, xuyên khung, ý dĩ, thảo quả,… Đồng Văn có giống chè ngon nổi
tiếng phù hợp với vùng đất Lũng Phìn. Rừng Đồng Văn có thảm thực vật
phong phú, thích hợp cho sự phát triểu nhiều loài như: dẻ, sồi, thông đá, pơ
mu,… Động vật gồm các loài như: sóc, gà lôi, nhím, trăn, rắn, tê tê,… Cây trồng
nông nghiệp chủ yếu là ngô, một số vùng trồng lúa và các loài cây họ đậu.
Các loài vật nuôi tại huyện Đồng Văn rất phong phú, người dân nuôi các
loại gia súc như: bò, dê, ngựa để lấy thịt, dùng sức kéo và vận chuyển hàng hóa.
Đồng Văn nổi tiếng với cột cờ Lũng Cú được dựng từ thời Lý, phố cổ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status