Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THPT huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ - Pdf 29

B GIO DC V O TO
HC VIN QUN Lí GIO DC
_____________

_____________
NGUYN TH PHNG THY
QUảN Lý HOạT ĐộNG GIáO DụC ĐạO ĐứC
CHO HọC SINH CáC TRƯờNG TRUNG HọC PHổ THÔNG
HUYệN THANH THủY, TỉNH PHú THọ
Chuyờn ngnh: Qun lý giỏo dc
Mó s: 60.14.01.01
LUN VN THC S QUN Lí GIO DC
Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS. Lấ TH TUYT HNH
H NI - 2014
2
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cám ơn Học viện Quản lý Giáo dục, Trung tâm Đào tạo
sau đại học - Bồi dưỡng nhà giáo và CBQL cùng toàn thể các cán bộ, các thầy cô
giáo đã tham gia giảng dạy và tư vấn, hỗ trợ, giúp đỡ em trong quá trình học tập và
nghiên cứu.
Đặc biệt, em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới PGS.TS Lê
Thị Tuyết Hạnh - người Thầy hướng dẫn khoa học đã trực tiếp giúp đỡ, tận tình chỉ
bảo, khích lệ, động viên và luôn cho em những lời khuyên hữu ích để em thực hiện
đề tài và hoàn thành luận văn này.
Em cũng xin chân thành cám ơn Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo và học sinh
tại 3 trường THPT huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ cùng các cơ quan đoàn thể xã
hội và phụ huynh học sinh của các trường đã nhiệt tình cộng tác, cung cấp thông tin,
số liệu, đóng góp ý kiến và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình nghiên
cứu, khảo sát thực tế làm luận văn.
Em xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã tin tưởng, cổ vũ, tạo động lực giúp em
vượt qua khó khăn để kiên trì theo đuổi việc học.

5
DANH MỤC CÁC BẢNG
5
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Từ cổ chí kim, từ đông sang tây, dù ở chế độ nào, thời đại nào, con người
cũng luôn là chủ thể sáng tạo ra lịch sử. Vai trò của con người trong xã hội là hết
sức to lớn. Đảng ta đã xác định, con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự
phát triển xã hội, là nguồn lực của mọi sự phát triển. Trong đó, giáo dục là nhân tố
quan trọng nhất tạo ra nguồn lực cho sự phát triển đó.
Nhận thức được vai trò to lớn của giáo dục, Đảng và Nhà nước ta đã coi giáo
dục – đào tạo là quốc sách hàng đầu. Về chiến lược con người trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nghị quyết hội nghị lần thức hai Ban chấp hành
Trung ương khóa VIII khẳng định: “Xây dựng những con người và thế hệ thiết tha
gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có
ý chí kiên cường để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước…, là những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa ‘hồng” vừa
“chuyên”.
Điều 2 Luật Giáo dục (sửa đổi, bổ sung năm 2009) cũng chỉ rõ: “Mục tiêu
giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức,
sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công
dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc…”
Đại hội XI của Đảng tiếp tục khẳng định: “Bồi dưỡng các giá trị văn hóa
trong thanh niên, học sinh, sinh viên, đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí
tuệ, đạo đức và bản lĩnh con người Việt Nam.”
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng, trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng
và nhân dân ta đòi hỏi thế hệ thanh niên, học sinh, sinh viên trở thành lực lượng tiên
phong có cả tài năng và đạo đức, trong đó đạo đức là yếu tố cơ bản nhất. Bác Hồ đã

- Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ học sinh của các trường
THPT huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ.
- Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ học sinh của Hiệu
trưởng các trường THPT huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lí hoạt động GDĐĐ cho học sinh các
trường THPT huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
7
8
- Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ học sinh của Hiệu
trưởng các trường THPT huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
5. Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn về nội dung: Tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt
động giáo dục đạo đức cho học sinh của Hiệu trưởng các trường THPT huyện
Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
- Giới hạn về không gian: 03 trường THPT trên địa bàn huyện Thanh Thủy,
tỉnh Phú Thọ.
- Giới hạn về thời gian: 5 năm, từ năm học 2008 – 2009 đến năm học 2012 - 2013.
- Giới hạn về đối tượng khảo sát:
+ CB, GV: 100 (Ban Giám hiệu: 8, Tổ trưởng chuyên môn: 12, GVCN: 50,
GVBM: 22, CB đoàn: 8)
+ Học sinh: 300
6. Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh các trường THPT tên địa
bàn huyện Thanh Thủy còn nhiều hạn chế bất cập, chất lượng GDĐĐ chưa đáp ứng
được yêu cầu. Nếu nghiên cứu đề xuất được các biện pháp quản lý hoạt động
GDĐĐ phù hợp với đối tượng và tình hình thực tế của địa phương sẽ góp phần nâng
cao chất lượng GDĐĐ cho học sinh.
7. Phương pháp nghiên cứu
- Các phương pháp nghiên cứu lí luận: Phân tích, tổng hợp, so sánh, thống

9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội
dung luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lư hoạt động giáo dục đạo đức cho học
sinh THPT
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các
trường THPT huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các
trường THPT huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
9
10
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Trên thế giới
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, xuất hiện từ buổi bình minh của lịch sử
xã hội loài người. Những tư tưởng đạo đức, giá trị đạo đức, đạo đức học đã hình thành
hơn 26 thế kỷ trước đây trong triết học phương Đông: Trung Quốc, Ấn Độ… và triết
học phương Tây: Hy Lạp cổ đại, La Mã cổ đại… Nó được hoàn thiện và phát triển trên
cơ sở các chế độ kinh tế-xã hội nối tiếp nhau từ thấp đến cao, mà hiện nay chúng ta
đang phấn đấu để đạt tới một nền đạo đức văn minh và tiến bộ hơn.
Ở phương Tây, thời Hy lạp cổ đại, nhà triết học Socrate(469 – 399 TCN) cho
rằng; cái gốc của đạo đức là tính thiện, bản thân con người vốn thiện. Nếu tính thiện
ấy được lan tỏa thì con người sẽ hạnh phúc. Muốn xác định được chuẩn mực đạo
đức, theo ông phải nhận thức bằng lý tính với phương pháp nhận thức khoa học.
Ở phương Đông cổ đại, Khổng Tử (551 – 479 TCN) là nhà hiền triết nổi
tiếng của Trung Quốc đã xây dựng học thuyết “Nhân – Lễ - Chính danh”, trong đó
Nhân (lòng thương người) là yếu tố hạt nhân, là đặc điểm cơ bản nhất của con
người. Đứng trên lập trường coi trọng đạo đức, ông có câu nói nổi tiếng truyền lại

Ngày nay, trong công cuộc đổi mới, phát triển và hội nhập toàn cầu, thực
hiện CNH - HĐH đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề GDĐĐ.
Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ V BCHTW khoá VIII (07/1998) Đảng ta đã xác
định chiến lược xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới. Đến
Nghị quyết Hội nghị lần thứ X BCH TW khoá IX (07/2004) Đảng ta tiếp tục xác định
nhiệm vụ cụ thể của thời kỳ mới đó là: “Đẩy mạnh giáo dục xã hội chủ nghĩa, bồi
dưỡng lòng yêu nước, tạo sự chuyển biến rõ rệt về bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối
sống, năng lực trí tuệ con nguời Việt Nam, đủ sức thực hiện thành công sự nghiệp
CNH- HĐH đất nước [7, tr 60]. Đồng thời Hội nghị còn nhấn mạnh hai trong ba
nhiệm vụ trọng tâm đó là: “Tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng tư tưởng,
đạo đức, lối sống và đời sống văn hoá lành mạnh trong xã hội…” và “Nâng cao chất
lượng, hiệu quả nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam theo năm đức tính được xác
định trong Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII)”.[7, tr 65, 67]
11
12
Đặc biệt là gần đây nhất, Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đã phát động
cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; Bộ Giáo
dục và Đào tạo cũng đã kịp thời phát động cuộc vận động: “Nói không với tiêu cực
trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”. Hai cuộc vận động lớn này đã và
đang có những tác động sâu sắc đến đời sống văn hóa, tinh thần của toàn xã hội,
đến nền GD nước nhà, đặc biệt là công tác GDĐĐ cho HS.
Trong những năm qua, nhiều giáo trình đạo đức được biên soạn khá công
phu. Tiêu biểu như giáo trình Đạo đức học của Trần Hậu Kiêm (NXB Chính trị
Quốc gia, 1997), Phạm Khắc Chương – Hà Nhật Thăng (NXB Giáo dục, 2001);
Giáo trình Đạo đức học do GS.TS Nguyễn Ngọc Long chủ biên (NXB Chính trị
Quốc gia, 2000); Giáo trình đạo đức học Mác-Lenin (PGS.TS Vũ Trọng Dung chủ
biên, NXB Chính trị Quốc gia, 2005),…
Vấn đề GDĐĐ cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu: Đặc trưng và
phương pháp GDĐĐ (Hoàng An, 1982); GDĐĐ trong nhà trường (Hà Thế Ngữ -
Đặn Vũ Hoạt, 1988); Tìm hiểu định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam trong

vùng, miền, địa phương cụ thể. Trong khi đó, trong giai đoạn hiện nay chưa có đề
tài nào đi sâu nghiên cứu về các biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS các
trường THPT trên địa bàn huyện Thanh Thủy. Vì vậy, tác giả chọn đề tài này với
tâm nguyện góp một phần nhỏ bé vào việc đưa ra các biện pháp quản lý hoạt động
GDĐĐ cho HS, nhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ cho HS các trường THPT huyện
Thanh Thủy trong bối cảnh mới hiện nay.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Đạo đức
Theo quan điểm học thuyết Mác – Lênin: “Đạo đức là một hình thái ý thức
xã hội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội. Đạo đức là
một hình thái ý thức xã hội phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội. Vì vậy,
tồn tại xã hội thay đổi thì ý thức xã hội (đạo đức) cũng thay đổi theo. Và như vậy,
đạo đức xã hội luôn mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc.” [5, tr 23]
Theo phân tích của các nhà nho thì đạo đức gồm “Đạo” và “Đức”. “Đạo” là
con đường, là lối đi phù hợp với lẽ đời. Sống trên đời phải có “đạo” tức là giữ đúng
cương vị, đường lối, phải đúng “đạo làm mẹ”, “đạo làm con”, “đạo làm chồng”,
“đạo làm cha”, “đạo làm vua”, “đạo làm tướng”,”đạo làm tôi”… Những người
13
14
không tuân theo lẽ phải đó, không giữ đúng ngôi… tức là những kẻ vô đạo. “Đức”
là tình cảm và hành động rất quý toát ra từ tâm con người. Nó chỉ cái đẹp bên trong.
Những người tốt thực sự, yêu thương con người, tỏ lòng tôn trọng và sẵn sàng giúp
đỡ người khác mà không vụ lợi thì được coi là con người có đức độ. Ngược lại, một
người chỉ tốt bên ngoài để che giấu cái xấu xa bên trong thì người ta gọi là kẻ đạo
đức giả, kẻ thất đức… Đạo đức là kết hợp cả cái lẽ cần có (yêu cầu bên ngoài) với
cái tâm (bên trong) của con người. Nó là sự kết hợp giữa cái tự nguyện với những
quy định chung của xã hội; giữa nhu cầu và lợi ích của mình với nhu cầu và lợi ích
của tập thể, của cộng đồng.
Theo Từ điển Tiếng Việt (Nhà xuất bản Khoa học xã hội) thì: “Đạo đức là
những tiêu chuẩn, những nguyên tắc quy định hành vi quan hệ của con người đối

đức và hành vi đạo đức. Chúng có quan hệ hữu cơ với nhau: Quan hệ đạo đức là hệ
thống những mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội về
mặt đạo đức. Ý thức đạo đức là sự phản ánh những quan hệ đạo đức dưới dạng
những quy tắc, chuẩn mực phù hợp với những quan hệ đạo đức. Ý thức đạo đức là
tiêu chuẩn giá trị cao nhất tạo nên bản chất đạo đức của con người. Nó bao gồm tri
thức đạo đức và tình cảm đạo đức. Hành vi đạo đức là sự hiện thực hoá ý thức đạo
đức. Nó làm cho ý thức được cụ thể hoá và trở nên có ý nghĩa.
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội luôn mang tính lịch sử, tính giai cấp,
tính dân tộc gắn với tiến trình phát triển của nhân loại và dân tộc. Đạo đức cũng
chịu sự quy định của điều kiện kinh tế, vật chất xã hội đồng thời cũng chịu sự tác
động qua lại chế ước lẫn nhau của các hình thái ý thức khác như pháp luật, văn hoá,
giáo dục, tập quán…
Đạo đức của con người biến đổi cùng với sự biến đổi và phát triển của các
điều kiện kinh tế xã hội. Theo thời gian phạm trù đạo đức ngày càng được hoàn
thiện, đầy đủ hơn. Trong xã hội ta hiện nay, các giá trị đạo đức là sự kết hợp hài hoà
của đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc với đạo đức cách mạng và xu thế tiến
bộ của thời đại, nhân loại. Đạo đức XHCN được thể hiện cụ thể trong những yêu
cầu, chuẩn mực sau:
- Yêu nước, yêu XHCN.
- Yêu thương và có trách nhiệm với gia đình, quý trọng và bảo vệ hạnh phúc
gia đình, hiếu kính với cha mẹ.
15
16
- Yêu lao động và có thái độ lao động XHCN.
- Có tinh thần tập thể, ý thức cộng đồng và tính đoàn kết kỷ luật.
- Tinh thần nhân đạo XHCN.
- Có tinh thần quốc tế XHCN trong thời đại mới.
- Nếp sống văn minh.
Những chuẩn mực đạo đức đó là mục tiêu giáo dục ở nhiều bậc học, nhiều
lứa tuổi. Đồng thời, chúng có giá trị định hướng, chi phối quá trình nhận thức và

Giáo dục theo nghĩa rộng là giáo dục xã hội được coi là lĩnh vực hoạt động
của xã hội nhằm truyền đạt những kinh nghiệm xã hội-lịch sử chuẩn bị cho thế hệ
trẻ trở thành lực lượng tiếp nối sự phát triển xã hội, kế thừa và phát triển nền văn
hóa của loài người và dân tộc.
Giáo dục theo nghĩa hẹp là giáo dục trong nhà trường. Đó là quá trình tác
động có tổ chức, có kế hoạch, có quy trình chặt chẽ nhằm mục đích cung cấp kiến
thức, kỹ năng hình thành thái độ, hành vi cho thiếu niên, xây dựng và phát triển
nhân cách theo chuẩn mực, quy mô mà xã hội đương thời mong muốn.
1.2.2.2. Giáo dục đạo đức
Như vậy, GDĐĐ là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức
của nhà giáo dục và yếu tố tự giáo dục của người học để trang bị cho học sinh tri
thức, ý thức đạo đức, niềm tin và tình cảm đạo đức và quan trọng nhất là hình
thành ở các em hành vi, thói quen đạo đức phù hợp với các chuẩn mực xã hội.
GDĐĐ về bản chất là quá trình biến hệ thống các chuẩn mực đạo đức từ
những đòi hỏi bên ngoài xã hội đối với cá nhân thành những đòi hỏi bên trong của
cá nhân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của đối tượng giáo dục.
GDĐĐ cho HS là một quá trình lâu dài, liên tục về thời gian và rộng khắp về
ko gian, từ mọi lực lượng xã hội, trong đó nhà trường giữ vai trò rất quan trọng.
GDĐĐ trong nhà trường là một bộ phận không thể thiếu được của quá trình
giáo dục tổng thể. Nó có quan hệ biện chứng với các quá trình giáo dục bộ phận
khác như giáo dục trí tuệ, giáo dục thẩm mĩ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động
hướng nghiệp.
GDĐĐ không chỉ là khoa học mà còn là nghệ thuật. Nó đòi hỏi nhà giáo dục
vừa phải tuân theo quy luật hình thành phát triển nhân cách vừa phải tìm và vận
17
18
dụng khéo léo các biện pháp sư phạm tác động vào ý thức học sinh để tổ chức và
quản lí được các hoạt động GDĐĐ một cách có hiệu quả. Đây là quá trình lâu dài,
phức tạp đòi hỏi phải công phu, kiên trì, liên tục về thời gian, rộng khắp về không
gian, từ mọi lực lượng xã hội, trong đó nhà trường giữ vai trò rất quan trọng.

nhằm đạt được những mục tiêu xác định. Hệ thống đó vừa động, vừa ổn định bao
gồm nhiều thành phần có tác động qua lại lẫn nhau.” [1, tr 54]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, người góp phần đổi mới lý luận dạy học;
Quản lý là hệ thống tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến
đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất
định.[21, tr 34]
Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý, nhưng ta có thể hiểu một
cách tổng quát: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản
lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra.
Quản lý có 4 chức năng cơ bản là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra -đánh
giá và thông tin là trung tâm của quản lý. Có thể mô hình hóa mối quan hệ giữa các
chức năng quản lý như sau:
1.2.3.2. Quản lý giáo dục
Khi hoạt động giáo dục ra đời tất yếu kéo theo sự xuất hiện của quản lý giáo
dục.Nếu giáo dục là một hiện tượng xã hội thì quản lý giáo dục là một dạng của quản
lý xã hội đặc thù. Quản lý giáo dục là một trong những yếu tố cơ bản và quan trọng
trong trong việc nâng cao chất lượng giáo dục. Vì vậy, người ta rất quan tâm đến hoạt
động quản lý giáo dục và có nhiều khái niệm khác nhau về quản lý giáo dục.
Theo nhà nghiên cứu giáo dục M.I. Konzacov: “Quản lý giáo dục là tác động
có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp
khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống nhằm mục đích đảm bảo việc hình
thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật
chung của xã hội cũng như những quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển
thể lực và tâm lý trẻ em.” [19, tr 10]
19
20
Theo cố GS. Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là những tác động có
mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống
vận hành theo đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của
nhà trường XHCN Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế

xã hội sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có
khoa học và có hướng của chủ thể quản lý trên tất cả các mặt của đời sống nhà
trường để đảm bảo sự vận hành tối ưu xã hội – kinh tế và tổ chức sư phạm của quá
trình dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn lên.” [21, tr 2]
Theo GS. Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của
Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo
nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành
giáo dục.” [25, tr 56]
Như vậy, có thể hiểu quản lý nhà trường thực chất là hệ thống những tác
động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhà trường lên tất
cả các nguồn lực nhằm đẩy mạnh hoạt động nhà trường theo nguyên lý giáo dục
tiến tới mục tiêu giáo dục mà trọng tâm của nó là đưa hoạt động dạy học và giáo
dục tiến lên trạng thái mới về chất.
1.2.3.4. Quản lý hoạt động GDĐĐ
Trong nhà trường, hoạt động quản lý bao gồm nhiều nội dung, trong đó quản
lý hoạt động GDĐĐ cho HS là một nội dung quan trọng.
Quản lý hoạt động GDĐĐ là sự tác động mục đích, có kế hoạch của chủ thể
quản lý tới các đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động GDĐĐ đạt được hiệu quả và
mục tiêu đề ra.
Đó là quá trình chủ thể quản lý xác định mục tiêu, xây dựng kế hoạch, vạch
ra những phương hướng, tìm biện pháp, huy động các nguồn lực, triển khai thực
hiện, đôn đốc, giám sát điều chỉnh và đưa ra những quyết định sáng suốt, kịp thời
nhằm thực hiện được các mục tiêu, đáp ứng được những yêu cầu của xã hội về chất
lượng đạo đức HS .
GDĐĐ cho HS là một lĩnh vực quản lý rất khó khăn, phức tạp đòi hỏi người
quản lý phải có năng lực quản lý vững vàng, toàn diện; khả năng vận dụng các biện
pháp quản lý linh hoạt và phải luôn là tấm gương về đạo đức nhà giáo cho cán bộ,
giáo viên, nhân viên, HS.
21
22

1.2.4.2. Biện pháp quản lý
Biện pháp quản lý là cách thức chủ thể quản lý sử dụng các công cụ quản lý
tác động vào việc thực hiện từng khâu của chức năng quản lý trong mỗi quá trình
quản lý nhằm tạo thêm năng lực thực hiện mục tiêu quản lý.
Biện pháp quản lí là cách thức con đường cụ thể để thực hiện nhiệm vụ quản
lí nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức.
1.2.4.3. Biện pháp quản lý giáo dục
Trong giáo dục, biện pháp quản lý là cách thức mà nhà quản lý giáo dục
(Hiệu trưởng) khai thác và sử dụng các công cụ giáo dục (nhân lực, tài lực, vật
lực…) vào việc tổ chức các hoạt động, các cách thức cho GV, HS và các lực lượng
xã hội phối hợp một cách thống nhất việc thực hiện các nội dung giáo dục trong quá
trình quản lý giáo dục nhằm đạt mục tiêu giáo dục nhất định.
Biện pháp quản lí giáo dục là cách thức tiến hành, cách thức giải quyết quá
trình tác động đến con người nhằm hình thành và phát triển nhân cách con người
phù hợp với những nguyên tắc, chuẩn mực mà xã hội đương thời đặt ra.
1.2.4.4. Biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ
Biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ là những cách thức tác động có hướng
đích của chủ thể quản lý lên hoạt động GDĐĐ cho HS nhằm đạt được các mục tiêu
đề ra.
Biện pháp quản lý GDĐĐ cho HS là cách thức tác động có hướng đích của
nhà quản lý giáo dục lên hoạt động GDĐĐ cho HS để đạt được mục tiêu đề ra.
Biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh là cách thức, con đường
tác động có định hướng của chủ thể quản lý tới các thành tố tham gia vào quá trình
GDĐĐ cho học sinh nhằm làm cho mọi lực lượng giáo dục nhận thức đúng đắn về
tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức, tích cực tham gia vào quá trình
GDĐĐ để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu đã đề ra.
1.3. GDĐĐ cho học sinh THPT
1.3.1. Đặc điểm của học sinh THPT
HS THPT là những em đang ở độ tuổi từ 15-18. Ở tuổi vị thành niên này
diễn ra những biến động hết sức mạnh mẽ và phức tạp từ thể chất đến thế giới tâm

Nhưng cũng ở chính độ tuổi này tính độc lập của các em phát triển rất cao,
các em ngày càng trở nên ít hoặc không muốn phụ thuộc vào cha mẹ mà chú ý
nhiều đến bạn bè để đạt được nhu cầu được độc lập, được khẳng định bản thân.
24
25
1.3.1.3. Về giao tiếp và đời sống tình cảm
Do những biến đổi sinh lý sâu sắc, hoóc môn sinh dục phát triển mạnh mẽ
dẫn đến những biến đổi rõ rệt về tâm lý, tình cảm. Các em chuẩn bị bước vào mối
quan hệ yêu đương, học cách biểu lộ tình cảm yêu và được yêu, tỏ ra thân mật và
tạo sức hấp dẫn trong quan hệ với bạn khác giới.
Sự phát triển cảm xúc làm các em thay đổi không những trong tính tình mà
còn trong cách cư xử hàng ngày.
1.3.2. Mục tiêu, nhiệm vụ GDĐĐ cho học sinh THPT
1.3.2.1. Mục tiêu GDĐĐ cho HS
GDĐĐ là một bộ phận của quá trình giáo dục toàn diện của nhà trường. Do
đó mục tiêu GDĐĐ nằm trong mục tiêu chung của nhà trường THPT.
GDĐĐ ở trường THPT nhằm giáo dục cho HS các chuẩn mực xã hội đối với
người công dân ở mức độ phù hợp trên cơ sở đóng góp hình thành nhân cách của
con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay phù hợp với xu thế phát triển và tiến
bộ của thời đại. GDĐĐ cần đạt được các mục tiêu sau:
Về kiến thức:
- Hiểu được những chuẩn mực đạo đức và pháp luật cơ bản, phổ thông, thiết
thực, phù hợp với lứa tuổi HS THPT trong các quan hệ với bản thân, với mọi người,
với công việc và môi trường sống.
- Hiểu được ý nghĩa của các chuẩn mực đạo đức được đúc kết từ truyền
thống đến hiện đại, mang bản sắc văn hóa dân tộc trong sự hội nhập thế giới với
những tinh hoa tiến bộ của nhân loại; hiểu được sự phát triển cá nhân và xã hội, sự
cần thiết phải rèn luyện và cách thức rèn luyện để đạt được những chuẩn mực đó.
Về thái độ tình cảm:
- Có thái độ đúng đắn, rõ ràng trước các hiện tượng, sự kiện đạo đức, pháp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status