BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THỦY NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CÔNG THỨC BÀO CHẾ
VIÊN VENLAFAXIN DẠNG CỐT GIẢI PHÓNG KÉO DÀI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ
HÀ NỘI - 2015BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
chính xác trong quá trình làm nghiên cứu.
Tôi cũng xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới:
ThS. Nguyễn Văn Hà
DS Lê Văn Lâm
là người đã luôn hỗ trợ và đưa ra những ý kiến thiết thực cho tôi trong thời gia
làm thực nghiệm.
Trong thời gian làm khóa luận tốt nghiệp tại bộ môn Bào chế - Trường Đại học
Dược Hà Nội tôi đã may mắn nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các thầy cô,
anh
chị kỹ thuật viên ở bộ môn, nếu không có sự giúp đỡ đó khóa luận của tôi sẽ rất
khó
có thể hoàn thành được. Vì vậy qua khóa luận này tôi muốn gửi lời cảm ơn chân
thành nhất tới các thầy cô và các anh chị đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ
tôi
trong thời gian vừa qua.
Và tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn của mình đến toàn thể thầy cô trong ban
giám
hiệu nhà trường, các phòng ban và cán bộ nhân viên trong trường đã đã dạy dỗ,
dìu
dắt tôi trong suốt 5 năm học tại trường.
Cuối cùng, cho tôi gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới gia đình, bạn bè, những
người thân thiết đã luôn động viên và là chỗ dựa tinh thần cho tôi từ những ngày
đầu tiên cho đến khi tôi hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp dược sĩ như ngày
hôm
nay.
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Thủy
MỤC LỤC
2.1.2. Thiết bị 17
2.2. Nội dung nghiên cứu 17
2.3. Phương pháp nghiên cứu 17
2.3.1. Phương pháp bào chế viên nén venlafaxin 75mg giải phóng kéo dài
cốt thân nước 17
2.3.2. Phương pháp đánh giá 18
2.3.3. Phương pháp thiết kế thí nghiệm và tối ưu hóa công thức 22
CHƢƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24
3.1. Xây dựng đường chuẩn biểu diễn mối quan hệ giữa mật độ quang và nồng
độ dung dịch venlafaxin hydroclorid trong môi trường nước 24
3.2. Khảo sát một số chỉ tiêu chất lượng của viên đối chiếu 25
3.3. Khảo sát ảnh hưởng của một số tá dược tới khả năng giải phóng dược chất. 26
3.3.1. Khảo sát ảnh hưởng của từng tá dược 26
3.3.2. Khảo sát sự kết hợp của các tá dược kiểm soát giải phóng 30
3.4. Thiết kế nghiên cứu và tối ưu hóa viên nén venlafaxin giải phóng kéo dài 35
3.4.1. Lựa chọn biến công thức và thiết kế, tiến hành thí nghiệm 35
3.4.2. Ảnh hưởng của các biến độc lập đến khả năng giải phóng dược chất 39
3.4.3. Lựa chọn công thức tối ưu 42
3.5. Đánh giá viên nén venlafaxin giải phóng kéo dài 24 giờ bào chế theo
công thức tối ưu 43
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47 DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu
Nội dung
ANOVA
Tổ chức y tế thế giới (World Health Organization)
HEC
Hydroxy ethyl cellulose
PEG
Poly (ethylen glycol) DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Một số chế phẩm venlafaxin trên thị trường 4
Bảng 2: Nguyên liệu, tá dược dùng trong bào chế viên nén venlafaxin giải phóng
kéo dài 16
Bảng 3: Yêu cầu về độ hòa tan theo tiêu chuẩn cơ sở của viên đối chiếu 21
Bảng 4: Nồng độ và mật độ quang đo được của dung dịch venlafaxin tại bước
sóng λ = 235 nm 24
Bảng 5: Kết quả thử hòa tan viên đối chiếu (n=6) 25
Bảng 6: Thành phần các mẫu viên nghiên cứu chứa các loại tá dược kiểm soát
giải phóng khác nhau 27
Bảng 7: Kết quả thử hòa tan các mẫu viên nghiên cứu chứa các loại tá dược kiểm
soát giải phóng khác nhau 28
Bảng 8: Thành phần các mẫu viên có sự kết hợp các tá dược kiểm soát giải
phóng 31
Bảng 9: Kết quả thử hòa tan các mẫu viên có sự kết hợp các tá dược kiểm soát
giải phóng 31
Bảng 10: Biến đầu vào và các khoảng biến thiên 35
Bảng 11: Tỷ lệ của các tá dược kiểm soát giải phóng trong 17 công thức thực
nghiệm 36
Bảng 12: Kết quả đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng bột và chất lượng viên
của 17 công thức thực nghiệm 37
Bảng 13: Kết quả thử hòa tan của 17 mẫu viên thực nghiệm (n=6) 38
Bảng 14: Giá trị R
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay trên thế giới trầm cảm là một căn bệnh vô cùng phổ biến, theo tổ chức
y tế thế giới (WHO), ước tính có khoảng 350 triệu người (tương ứng 5% dân số thế
giới) bị mắc chứng bệnh này, tại Việt Nam con số này là 3 – 5% [9]. Bệnh thường
xuất hiện với các triệu chứng như âu lo, chán nản sâu sắc, mất hứng thú, xa lánh các
hoạt động, luôn trong trạng thái tuyệt vọng và rối loạn bữa ăn, giấc ngủ [5].
Trầm cảm nếu không được điều trị kịp thời sẽ làm giảm chất lượng cuộc sống
của cá nhân, gia đình, xã hội và xấu nhất là tự sát. Cũng theo WHO, bệnh trầm cảm
cướp đi mỗi năm trung bình 850.000 mạng người [10].
Venlafaxin là một chất thuộc nhóm các thuốc ức chế chọn lọc Serotonin và
nonepinephrin (SNRIs). Xét về tác dụng chống trầm cảm của venlafaxin, một số
công trình nghiên cứu đã cho thấy venlafaxin có tác dụng tương đương với các
thuốc chống trầm cảm như các thuốc chống trầm cảm 3 vòng (TCAs), các thuốc ức
chế chọn lọc tái hấp thu serotonin (SSRIs). Bên cạnh đó venlafaxin cũng gây ít tác
dụng phụ lên người sử dụng hơn so với các thuốc chống trầm cảm khác [3], [16],
[17].
Venlafaxin có thời gian bán thải khoảng 5 giờ, khi sử dụng thuốc ở dạng thuốc
quy ước mỗi ngày bệnh nhân phải dùng từ 2 đến 3 lần. Dạng bào chế GPKD có ưu
điểm là giảm số lần dùng thuốc trong ngày, giúp duy trì ổn định nồng độ thuốc
trong vùng điều trị, do đó giảm được tác dụng không mong muốn của thuốc. Ở Việt
Nam hiện nay chúng tôi chưa thấy công trình nghiên cứu nào về kỹ thuật bào chế
dạng thuốc GPKD chứa venlafaxin được công bố. Vì lý do đó chúng tôi thực hiện
đề tài “Nghiên cứu xây dựng công thức bào chế viên venlafaxin dạng cốt giải
Công thức phân tử: C
17
H
27
NO
2
HCl
Tên khoa học: (R/S)-1-[2-(dimethylamino)-1-(4-methoxyphenyl) ethyl]
cyclohexanol hydrochlorid
Phân tử lượng: 313,9 g/mmol [14].
1.1.3. Tác dụng dƣợc lý
Venlafaxin có tác dụng chống trầm cảm do có khả năng tác dụng trên hoạt
động dẫn truyền thần kinh ở hệ thần kinh trung ương. Các nghiên cứu lâm sàng cho
thấy venlafaxin và chất chuyển hóa chính của nó O-desmethylvenlafaxin (ODV), là
các chất ức chế mạnh sự tái hấp thu serotonin, norepinephrin và cũng ức chế yếu sự
tái hấp thu dopamin. Venlafaxin ức chế hấp thu serotonin mạnh hơn 3 lần so với
norepinephrin và mạnh hơn nhiều lần so với dopamin.
3
Venlafaxin khác với các thuốc chống trầm cảm 3 vòng (TCAs), nó ít hoặc
không có tác dụng lên neuroreceptor khác nhau. Do đó, nó không tương tác với các
thụ thể α hoặc β-adrenergic, muscarinic cholinergic, histaminergic hoặc
serotoninergic. Venlafaxin không có tác dụng lên kênh natri nhanh của tế bào tim và
do vậy có thể tránh được độc tính lên tim như khi sử dụng các TCAs. Venlafaxin
không ức chế hoạt động của monoamine oxidase. Nhiều thuốc chống trầm cảm sau
khi dùng trường diễn mới làm giảm đáp ứng của thụ thể β-adrenergic. Venlafaxin là
thuốc duy nhất trong các loại thuốc chống trầm cảm làm giảm đáp ứng của thụ thể
β-adrenergic sau khi điều trị với chỉ một liều đơn, đây là đặc tính mà venlafaxin
được cho là có thời gian khởi đầu chống trầm cảm nhanh hơn các thuốc khác [15],
[20], [22].
1ml dung dịch NaOH tương đương 31,39 mg C
17
H
28
ClNO
2
[14].
1.1.7. Một số chế phẩm venlafaxin trên thị trƣờng
Bảng 1: Một số chế phẩm venlafaxin trên thị trường
Dạng bào chế
Tên biệt dƣợc
Hàm lƣợng
Hãng sản xuất
Viên nén GPKD
24 giờ
Venlafaxin
STADA
75 mg
STADA
Viên nang giải
phóng chậm 24
giờ
Venlift OD
75 mg
Torrent
Pharmaceuticals
limitted
Viên nang giải
phóng chậm 24
giờ
Theo các tài liệu chính thống có thể chia thành các loại sau: thuốc giải phóng
kéo dài, thuốc giải phóng có kiểm soát, thuốc giải phóng theo chương trình, thuốc
giải phóng nhắc lại, thuốc giải phóng tại đích [1] .
1.2.3. Ƣu nhƣợc điểm của thuốc giải phóng kéo dài
1.2.3.1. Ưu điểm
Duy trì được nồng độ dược chất trong máu trong vùng điều trị, giảm được dao
động nồng độ máu của thuốc (tránh được hiện tượng đỉnh – đáy), do đó giảm được
tác dụng không mong muốn của thuốc.
Giảm được số lần dùng thuốc cho người bệnh, tránh quên thuốc, bỏ thuốc, thức
dậy giữa đêm để uống thuốc… Từ đó đảm bảo được sự tuân thủ của người bệnh.
Nâng cao được sinh khả dụng (SKD) của thuốc do thuốc được hấp thu đều đặn,
triệt để hơn.
Giảm được lượng thuốc dùng cho cả đợt điều trị, do đó giảm giá thành của một
liệu trình điều trị [1].
1.2.3.2. Nhược điểm
Nếu có hiện tượng ngộ độc, tác dụng không mong muốn hay không chịu thuốc
thì không thải trừ ngay thuốc ra khỏi cơ thể được.
6
Tác dụng lâm sàng của thuốc phụ thuộc nhiều vào kỹ thuật bào chế và những
thay đổi sinh học trong cơ thể người bệnh.
Chỉ có một số rất ít dược chất chế được dưới dạng GPKD [1].
1.2.4. Một số yêu cầu về dƣợc chất bào chế dạng giải phóng kéo dài
1.2.4.1. Độ tan
Độ tan của dược chất ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hấp thu dược chất. Mối
quan hệ giữa tốc độ hấp thu và độ tan được thể hiện qua phương trình Noyes-
Withney:
dt
dC
trương nở/ ăn mòn, hệ giải phóng dược chất theo cơ chế áp suất thẩm thấu, trao đổi
ion…Nhưng trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ đề cập đến hệ cốt trương nở/ ăn
mòn.
1.2.5.1. Nguyên tắc cấu tạo của hệ cốt
Dược chất được phối hợp với một polyme thân nước hoặc với sáp hay chất
béo, đóng vai trò cốt mang thuốc. Sau khi uống, cốt sẽ hòa tan hoặc ăn mòn từ từ
trong đường tiêu hóa để kéo dài sự giải phóng dược chất.
1.2.5.2. Quá trình giải phóng dược chất từ hệ cốt
Cốt thấm nước và hòa tan lớp dược chất ở bề mặt cốt.
Polyme trương nở tạo thành hàng rào gel kiểm soát quá trình giải phóng dược
chất.
Môi trường hòa tan khuếch tán qua lớp gel thấm vào trong cốt hòa tan dược chất
và cốt.
Dung dịch dược chất khuếch tán qua lớp gel ra môi trường bên ngoài.
Như vậy quá trình giải phóng dược chất của hệ không chỉ phụ thuộc vào sự
hòa tan của cốt mà còn phụ thuộc rất nhiều vào sự khuếch tán dược chất qua lớp
gel. Sự khuếch tán dược chất biểu thị theo phương trình Noyes- Withney:
dt
dC
=
h
D
.A.(C
s
- C)
Trong đó: D: hệ số khuếch tán dược chất.
H: bề dày khuếch tán.
A: tổng diện tích bề mặt tiếp xúc của dược chất với môi trường hòa tan.
C
s
1.3.1. Khái niệm
Tối ưu hóa một công thức hay một quy trình bào chế là việc tìm công thức, thông số
(hay điều kiện tiến hành) của quy trình để sản phẩm làm ra đạt kết quả tốt nhất
trong giới hạn mong muốn của người làm thí nghiệm.
9
1.3.2. Biến đầu vào và biến đầu ra
Biến đầu ra (còn gọi là biến phụ thuộc hay đáp ứng): là các kết quả của thí
nghiệm mà người làm thí nghiệm thấy cần phải đo đạc và đánh giá. Ví dụ: độ rã,
độ hòa tan, độ đồng đều khối lượng…
Biến đầu vào (còn gọi là biến độc lập hay yếu tố): là những biến mà người làm
thí nghiệm có thể thay đổi giá trị của nó khi tiến hành thí nghiệm và sự thay đổi
này sẽ kéo theo sự thay đổi giá trị của biến đầu ra. Ví dụ: lực dập, tá dược, nhiệt
độ sấy,…
1.3.3. Thiết kế thí nghiệm
Thiết kế thí nghiệm là phương pháp lập kế hoạch và tiến hành thực nghiệm để thu
nhận được thông tin tối đa từ tập hợp các dữ liệu thí nghiệm trong sự có mặt của
nhiều yếu tố có thể làm biến đổi kết quả thí nghiệm với số thí nghiệm tối thiểu.
1.3.4. Trình tự thiết kế thí nghiệm và tối ƣu hóa
Xác định biến đầu ra cần tối ưu hóa và yêu cầu của chúng.
Xác định các biến đầu vào có khả năng ảnh hưởng đến biến đầu ra.
Sàng lọc: thiết kế các thí nghiệm sơ bộ nhằm phân tích ảnh hưởng của các biến
đầu vào lên các biến đầu ra để loại bỏ các biến đầu vào không hoặc ít ảnh hưởng.
Thiết kế và tiến hành thí nghiệm để phân tích ảnh hưởng của các biến đầu vào
còn lại lên các biến đầu ra. Từ các kết quả thí nghiệm, xây dựng mối quan hệ giữa
các biến đầu ra và các biến đầu vào.
Tối ưu hóa các biến đầu ra dựa trên các mối quan hệ đã xây dựng để tìm các giá
trị tối ưu của các biến đầu vào.
Làm thí nghiệm theo các giá trị tối ưu của các biến đầu vào vừa tìm được để
kiểm tra và điều chỉnh nếu cần.
talc. Tạo viên nén lõi: Tất cả các thành phần được cân và rây qua rây số 85. Ngoại
trừ tá dược trơn (magnesi stearat, talc), tá dược dính polyvinylpyrrolidon (PVP),
các thành phần còn lại được trộn đều và làm ẩm với dung dịch PVP 10 % sau đó
tạo cốm bằng cách cho khối bột tạo thành qua rây số 18. Làm khô bằng cách sấy ở
60
0
C trong 3-4 giờ, hàm lượng ẩm còn lại khoảng 2-4%. Cốm khô được rây qua
11
rây số 26 và trộn với bột talc, magnesi stearat, tạo thành viên nén có đường kính 9
mm và lực nén khoảng 4,5-5 kg/cm
2
. Bao viên nén lõi: Viên nén lõi sẽ được bao
bởi màng bao bán thấm là dung dịch cellulose acetat (CA) cùng với dầu thầu dầu
(tổng CA là 20%) như là chất hóa dẻo. Sử dụng nồi bao vách ngăn, hình quả lê,
bằng thép không gỉ. Chuẩn bị dung dịch bao: CA được cân, hòa tan trong cốc
đang có sẵn aceton và khuấy. Tiếp tục khuấy cho đến khi thu được dung dịch
trong. PEG 400 được hòa tan trong một cốc khác với lượng nước đã được xác định
trước. Chuyển từ từ dung dịch PEG 400 sang cốc đang có dung dịch AC và khuấy.
Quy trình bao: Viên nén lõi được đặt cùng với viên nén giả dược, nồi bao được
quay với tốc độ 60 vòng/phút. Quá trình bao được bắt đầu với nhiệt độ khí đầu ra
28
0
C. Dung dịch bao được phun với tốc độ 12-14 ml/phút và áp suất không khí
được giữ ở 30-35lb/in
2
. Nhiệt độ khí đầu ra được duy trì là 28
0
C bằng cách duy trì
nhiệt độ khí đầu vào là 45-50
ướt, dược chất được cho vào lớp giữa với một lượng polyme. Hai lớp ngoài cùng
được tạo bởi lượng polyme còn lại và các tá dược khác. Hạt và viên nén tạo ra đều
được đánh giá theo tiêu chuẩn. Viên tối ưu được đánh giá khả năng giải phóng
trong các môi trường pH khác nhau với sự có mặt của ethanol. Kết quả: hạt trơn
chảy tốt. Khả năng giải phóng của viên thử cũng tương đương với viên chuẩn
Effexor khi thay đổi tỷ lệ polyme trong lớp giữa cũng như hai lớp ngoài. Cần tăng
thêm lượng polyethylen oxid lên so với gôm xanthan vì Polyethylen oxid có khả
năng hút nước cao và tạo ra hàng rào gel yếu. Mẫu viên tối ưu có khả năng giải
phóng dược chất không phụ thuộc vào pH môi trường cũng như sự có mặt của
ethanol. Sự hòa tan của viên chuẩn và viên thử tuân theo phương trình động học
Weibull. Kết luận: Viên nén nhiều lớp cấu tạo từ các polyme thân nước, gôm
xanthan hoặc polyethylen oxid có khả năng kéo dài giải phóng dược chất
venlafaxin [26].
Nguyễn Văn Hà đã nghiên cứu bào chế viên nén venlaffaxin GPKD bằng
phương pháp dập thẳng với các tác nhân kiểm soát giải phóng như HPMC
K100M, Precirol, Compritol, NaCMC, HPC. Điều kiện thử hòa tan như sau: tốc độ
khuấy 50 vòng /phút, 900 ml nước cất, nhiệt độ 37±0,5ºC. Viên đối chiếu là
Effexor XR 75 mg. Kết quả thu được là các mẫu viên sử dụng Precirol và
Compritol đều giải phóng nhanh, sau 4h đã cho kết quả giải phóng lần lượt là 83 –
95 % và 89,5 – 100,6%. Do đó các tá dược béo chỉ được dùng kết hợp với các tá
dược kiểm soát giải phóng khác để bào chế viên GPKD. Hệ cốt GPKD bao gồm
13
HPMC và các tá dược béo chỉ có khả năng kiểm soát giải phóng trong một giới
hạn nhất định. Mẫu viên cho thấy khả năng giải phóng phù hợp với viên chuẩn
nhất là mẫu có sự kết hợp giữa NaCMC – H, HPC – M và tá dược béo. Việc sử
dụng các tá dược độn khác nhau cũng không có ảnh hưởng đáng kể tới khả năng
giải phóng của viên. Công thức viên nén venlafaxin tối ưu bao gồm: Precirol,
NaCMC-H, HPC-M, Avicel và Magnesi stearat [21].
Yang Liu cùng cộng sự đã nghiên cứu bào chế pellet chứa venlafaxin HCl
thổi 0,3 Mpa. Làm khô pellet thu được tại 40
0
C trong 24 giờ. Pellet thu được được
khảo sát, đánh giá in vitro và in vivo và so sánh với một thuốc khác đang lưu hành
14
trên thị trường là viên GPKD Effexor XR. Phép thử in vitro được thực hiện trên
thiết bị thử độ hòa tan với các điều kiện: kiểu quay là giỏ quay, tốc độ quay 100
vòng/phút, thể tích môi trường 900 ml, được thử với 6 môi trường hòa tan khác
nhau. Các môi trường hòa tan: Nước, đệm phosphat pH 6,8, đệm phosphat pH 7,2,
acid HCl 0,1 M, dung dịch đệm NaAc-HAc pH 4,5 và môi trường có pH thay đổi.
Kết quả khảo sát độ hòa tan in vitro đã được so sánh và đánh giá. Công thức 1,
được bao bởi Eudragit NE30D, thể hiện đặc tính phóng thích hoạt chất tương tự
trong các môi trường hòa tan khác nhau. Trong khi đó thuốc từ công thức 2 và
viên Effexor XR thể hiện tốc độ hòa tan chậm hơn trong môi trường HCl 0,1M và
dung dịch đệm NaAc-HAc pH4,5 so với các môi trường có pH cao hơn. Tốc độ
phóng thích của thuốc từ công thức 2 và từ viên Effexor XR trong 4 giờ đầu là
chậm hơn nhiều so với từ công thức 1, điều này có thể liên quan đến kỹ thuật bao.
Tốc độ phóng thích của thuốc từ công thức 1 gần như không khác nhau trong các
môi trường hòa tan khác nhau có thể do đặc tính của Eudragit NE30D là trung tính
và không nhạy cảm với pH [32].
Prakrash Katakam và cộng sự đã nghiên cứu bào chế viên nén venlafaxin
giải phóng kéo dài với sự kết hợp các tá dược thân nước, sơ nước bằng phương
pháp tạo cốm đun chảy. Các polyme được chọn đều có đặc tính tạo hệ cốt, kết quả
đo nhiệt vi sai chỉ ra rằng không có tương tác nào giữa các polyme được chọn với
dược chất venlafaxin. Thiết kế các mẫu viên khảo sát với thành phần bao gồm sự
kết hợp giữa các loại tá dược thân nước, sơ nước như sau: Carbopol 71G, HPMC
K15M, PEO, NaCMC, Eudragit RS100 và precirol. Khảo sát bột trước khi dập cho
thấy khả năng trơn chảy tốt. Đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng của viên tạo ra
cho thấy đều đạt tiêu chuẩn Dược điển, cụ thể là đường kính: 9,0 ± 0,0 mm, độ
2.1.1. Nguyên liệu
Bảng 2: Nguyên liệu, tá dược dùng trong bào chế viên nén venlafaxin giải phóng
kéo dài
STT
Nguyên liệu
Nguồn gốc
Tiêu chuẩn
1
Venlafaxin hydroclorid
India
BP
2
Hydroxy propyl methyl cellulose
K100M
Mỹ
TCCS
3
Natri carboxy methyl cellulose – M
Nhật
TCNSX
4
Dicalci phosphat
Trung Quốc
TCNSX
5
Avicel PH 101
Mỹ
TCNSX
6
Talc
Lô sản xuất: 69145H
Ngày sản xuất: 1/8/2012
Hạn sử dụng: 1/8/2015 17
2.1.2. Thiết bị
1. Máy dập viên tâm sai KORSCH (Đức)
2. Máy đo lực gây vỡ viên ERWEKA TBH 200 (Đức).
3. Hệ thống thử hòa tan tự động VANKEL- VARIAN (Mỹ- Austalia).
4. Máy đo quang phổ UV- VIS HITACHI (Nhật).
5. Cân xác định độ ẩm của hạt và bột SARTORIUS MA30 (Đức).
6. Cân phân tích PRECISA XB220 CA, cân kỹ thuật, tủ sấy.
7. Bình định mức, cốc có mỏ và các dụng cụ thủy tinh khác.
2.2. Nội dung nghiên cứu
Khảo sát ảnh hưởng của các polyme đến khả năng giải phóng venlafaxin từ
viên nén GPKD.
Thiết kế thí nghiệm và tối ưu hóa để lựa chọn công thức tối ưu cho viên nén
venlafaxin 75 mg GPKD 24 giờ dựa vào tiêu chuẩn viên đối chiếu Effexor.
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.3.1. Phƣơng pháp bào chế viên nén venlafaxin 75mg giải phóng kéo dài cốt
thân nƣớc
Bào chế viên nén venlafaxin bằng phương pháp dập thẳng bằng máy dập
viên tâm sai KORSCH (Đức) [2], [6]. Các bước tiến hành bào chế viên nén
venlafaxin như Hình 1.