BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
VŨ VIỆT ANH ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG THUỐC
CỦA BỆNH VIỆN LAO VÀ BỆNH PHỔI
HÀ NAM NĂM 2011
LUẬN VĂN DƯỢC SỸ CHUYÊN KHOA CẤP I
HÀ NỘI – 2013
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
kinh tế Dược cùng toàn thể các thầy cô trong trường Đại học Dược Hà Nội đã
dạy dỗ, dìu dắt tôi trong suốt thời gian học tập tại trường.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo trong bộ
môn Quản lý và kinh tế dược. Xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, các bác sĩ,
dược sĩ của Bệnh viện lao và bệnh phổi Hà Nam.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cha mẹ, vợ, con, anh
chị em và những người thân yêu của tôi, những người đã nuôi dưỡng, chia sẻ,
động viên giúp đỡ tôi trưởng thành và vươn lên trong cuộc sống.
Hà Nội, ngày 31 tháng 8 năm 2013
HỌC VIÊN
Vũ Việt Anh
MỤC LỤC
Trang
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1. Một vài nét về bệnh lao 3
1.1.1. Bệnh lao và các hiểm họa cho thế giới 3
3.3 Tồn trữ bảo quản và quy trình cấp phát thuốc 40
3.3.1 Tồn trữ và bảo quản 40
3.3.2 Quy trình cấp phát cho bệnh viện 41
3.4 Giám sát việc sử dụng thuốc trong bệnh viện 43
3.4.1 Giám sát tủ thuốc trực tại các khoa lâm sàng: 43
3.4.2 Giám sát hoạt động giao nhận thuốc tại khoa lâm sàng 44
3.4.3 Theo dõi phản ứng có hại của thuốc và cách xử lý 45
Chương 4 BÀN LUẬN 48
KẾT LUẬN 51
Ý KIẾN ĐỀ XUẤT 52
Tài liệu tham khảo 53
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt
ADR Adverse Drug Reaction Phản ứng có hại của thuốc
ABF Acid Fast bacilli Vi khuẩn kháng acid - Vi khuẩn lao
AIDS Acquired Immune
Dificiency Syndrom
Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc
phải
BYT Bộ Y tế
COPD Chronic Otructicve
Pulmonary Disease
Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính
CTCLQG Chương trình chống lao Quốc gia
CSSKBĐ Chăm sóc sức khoẻ ban đầu
DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
Bảng 1.1 Ước tính bệnh nhân lao mới mắc năm 2011 theo khu vực 4
Bảng 1.2
Cơ c
ấu nhân lực của Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Hà Nam 9
Bảng 1.3 Cơ cấu nhân lực dược 14
Bảng 3.4
Cơ cấu bệnh tật của Bệnh viện lao và Bệnh phổi Hà Nam
DANH MỤC HÌNH
STT Tên hình Trang
Hình 1.1. Sơ đồ tổ chức quản lý nghiệp vụ và hệ điều trị 8
Hình 1.2 Biểu đồ cơ cấu nhân lực bệnh viện 9
Hình 1.3 Sơ đồ màng lưới chống lao tại Hà Nam 14
Hình 1.4 Sơ đồ cung ứng thuốc trong bệnh viện 19
Hình 3.5 Sơ đồ quy trình xây dựng danh mục thuốc của bệnh viện 28
Hình 3.6 Sơ đồ quy trình mua thuốc ở bệnh viện 34
Hình 3.7 Biểu đồ tỷ trọng một số nhóm thuốc chính được sử dụng 2011 36
Hình 3.8
Biểu đồ kinh phí mua thuốc sản xuất trong nước/thuốc nhập
khẩu
37
Hình 3.9 Sơ đồ cấp phát thuốc cho bệnh viện 41
Hình 3.10
Sơ đồ cấp phát thuốc cho tuyến quận, huyện 42
Hình 3.11
Giao nhận thuốc tại khoa lâm sàng 45
bệnh phổi thuộc Sở Y tế Hà Nam. Tuy mới được thành lập nhưng bệnh viện đã
thực hiện tốt nhiệm vụ của một bệnh viện chuyên khoa và mục tiêu của chương
trình chống lao là đảm bảo cung cấp đầy đủ thuốc men trang thiết bị y tế,
phương tiện chẩn đoán cho bệnh viện và các đơn vị trong mạng lưới chống lao 2
Tỉnh Hà Nam. Từ khi được thành lập 1997 đến nay chưa có một đề tài nào đánh
giá việc cung ứng thuốc cũng như quản lý sử dụng thuốc, an toàn, hợp lý, kinh
tế của bệnh viện. Và việc thực hiện các mục tiêu của Chương trình chống lao
Quốc gia tại Hà Nam với sự chỉ đạo của Bệnh viện lao và Bệnh phổi Hà Nam.
Xuất phát từ thực tế yêu cầu và dựa trên lý thuyết của khoa học quản lý,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hoạt động cung ứng thuốc
của Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Hà Nam năm 2011” nhằm các mục tiêu:
1. Phân tích việc triển khai các hoạt động lựa chọn và mua thuốc của
Bệnh viện lao và Bệnh phổi Hà Nam 2011.
2. Phân tích hoạt động tồn trữ, bảo quản, cấp phát và giám sát sử dụng
thuốc tại Bệnh viện lao và bệnh phổi Hà Nam 2011.
Từ đó có những đề xuất nhằm hoàn thiện hơn trong quá trình cung ứng
thuốc của Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Hà Nam phục vụ trong điều trị được tốt
hơn.
Bệnh lao là bệnh của người nghèo, phát sinh với tốc độ chóng mặt trong
cộng đồng người nghèo, thiếu dưỡng chất và điều kiện sống không đáp ứng đủ
yêu cầu. Nếu không được điều trị, mỗi bệnh nhân lao có thể lây nhiễm cho từ
10-15 người/năm [6].
Trong khu vực Tây Thái Bình Dương, bệnh lao đã cướp đi sinh mạng của
360.000 người/năm, hầu hết là người nghèo. Mỗi ngày có khoảng 6.000 người
trong khu vực bị nhiễm bệnh lao, có nghĩa là một người nhiễm lao chỉ trong thời
gian 14 giây [36].
Bệnh lao ảnh hưởng đến cuộc sống của người nghèo trong nhiều khía
cạnh. Đối với người nghèo, chi phí để chữa trị bệnh lao là một gánh nặng. Bệnh 4
phổ biến ở độ tuổi lao động từ 15 đến 54, làm giảm thu nhập 3-4 tháng/năm và
đẩy họ lún sâu vào con đường nghèo đói. Thậm chí nếu điều trị miễn phí thì
người nghèo vẫn phải tốn khoảng 30% thu nhập hàng năm. Thiếu thông tin và ý
thức bị cô lập trong vùng xa xôi hẻo lánh, tính tiết kiệm và mạng lưới y tế công
cũng như tư không đến được tận nơi và những yếu tố dẫn người nghèo mắc bệnh
lao nhanh hơn.
WHO đang đẩy mạnh chiến lược chống lao nhằm cải thiện hơn nữa điều
kiện cho bệnh nhân nghèo được tiếp cận với DOTS, kết hợp đồng thời với chẩn
đoán, điều trị miễn phí thông qua tổ chức tình nguyện viên tại các nước.
Hiện nay, trên thế giới có khoảng 2,2 tỷ người đã nhiễm lao (chiếm 1/3
dân số thế giới). Theo số liệu công bố của WHO, ước tính trong năm 2005 có
thêm khoảng 9 triệu người mắc lao mới và 2 triệu người chết do lao. Khoảng
95% số bệnh nhân lao và 98% số người chết do lao ở các nước có thu nhập vừa
và thấp, 75% bệnh nhân lao cả nam và nữ ở độ tuổi lao động. Trong đó, khoảng
80% số bệnh nhân lao của toàn cầu tập trung ở 22 nước có gánh nặng bệnh lao
cao [40]].
1000
350
149
556
83,0
Châu Mỹ 370
4,0
165
43
19
53
6,0
Trung Đông 622
7,0
279
55
373
22,0
Toàn Cầu 8797
100
3887
141
63
1823
29,0
5
(Nguồn: Tổ chức y tế thế giới)
Mức độ nặng nề của bệnh lao đã ảnh hưởng tới thu nhập quốc dân và chỉ
số phát triển con người của các quốc gia. Tại diễn đàn các Đối tác chống lao lần
thứ nhất diễn ra năm 2001 tại trụ sở của Ngân hàng thế giới ở Washington với
sự có mặt của đại diện cấp Bộ trưởng các quốc gia có tình hình bệnh lao nặng nề
đã nhận định, bệnh lao là nguyên nhân chủ yếu làm nghèo đói dai dẳng và là trở
đưng thứ 13 trong 22 nước có số bệnh nhân lao cao trên toàn cầu. Trong khu
vực Tây - Thái Bình Dương, Việt Nam đứng thứ ba sau Trung Quốc và
Philipine về số lượng bệnh nhân lao lưu hành cũng như bệnh nhân lao mới xuất
hiện hàng năm [6].
Năm 1995, trước những biến động xấu đi của tình hình dịch tễ bệnh lao
toàn cầu, công tác chống lao thực sự bắt đầu phải đối mặt với những thách thức
mới là bệnh lao kháng thuốc và lao /HIV, Nhà nước và Bộ y tế Việt Nam đã
quyết định đưa CTCL thành một trong những chương trình y tế Quốc gia trọng
điểm. Cùng với sự đầu tư phát triển các chương trình y tế quốc gia nói chung,
Bộ y tế và Chính phủ đã ưu tiên đầu tư nguồn lực lớn cho CTCL. Ban chỉ đạo
CTCL và Chính quyền địa phương các cấp đã tham gia tích cực triển khai công
tác này, cùng với sự hợp tác và giúp đỡ có hiệu quả về tài chính và kỹ thuật của
các tổ chức quốc tế.
Năm 1996, CTCLQG với sự hỗ trợ về kỹ thuật và tài chính của Chính phủ
Hà Lan, Hiệp hội chống lao Hoàng Gia Hà Lan, Uỷ ban hợp tác y tế Hà Lan -
Việt Nam, CTCLQG đã hình thành và xây dựng kế hoạch phòng chống lao giai
đoạn 1996-2000. Đến năm 1999, chiến lược DOTS ( điều trị bằng hoá trị liệu
ngắn ngày có kiểm soát trực tiếp) đã được bao phủ 100% số huyện trên cả nước
[6], [29].
Trong giai đoạn 1997-2002, CTCLQG đã phát hiện được 532.703 bệnh
nhân lao các thể, tỷ lệ phát hiện đạt 82% số bệnh nhân ước tính(So với mục tiêu
của WHO là 70%), CTCLQG đã điều trị 260.698 bệnh nhân lao phổi AFB (+)
với tỷ lệ khỏi là 92% [20].
Với những kết quả đạt được trong chỉ tiêu phát hiện và điều trị bệnh nhân,
năm 1996, Việt Nam là nước đầu tiên ở Châu Á đã đạt được mục tiêu của WHO. 7
Việt Nam đã được WHO và Ngân hàng thế giới đánh giá cao thành tích đạt
8
Bệnh viện gồm 13 khoa phòng chia làm 3 khối theo hình 1.1 Hình 1.1: Sơ đồ tổ chức quản lý nghiệp vụ và hệ điều trị
Được tổ chức chặt chẽ dưới sự lãnh đạo của Ban giám đốc.
* Cơ cấu nhân lực của bệnh viện:
Cơ cấu nhân lực của Bệnh viện lao và Bệnh phổi Hà Nam được trình bày
ở bảng 1.2 và hình 1.2.
Bảng 1.2: Cơ cấu nhân lực của Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Hà Nam
TT Phân loại cán bộ Số lượng (người) Tỷ trọng (%)
1
Y tá, kỹ thuật viên,Điều dưỡng
cao đẳng
49 55,1
2 Đại học điều dưỡng 6 6,7
3 DSTH, Dược tá 9 10,1
4 Bác sỹ chuyên khoa I 8 9,0
5 Bác sỹ 7 8,0
6 Đại học khác 4 4,4
7 Cán bộ khác 4 4,4
8 DS ĐH 2 2,3
Tổng cộng 89 100
Hình 1.2 Biểu đồ cơ cấu nhân lực của Bệnh viện
Tỷ lệ cán bộ dược so với toàn bệnh viện là 12,4% (11/89): 2 dược sỹ đại
học, chưa có trên đại học. Trình độ Bác sỹ chuyên khoa I là 9%, Bác sĩ 8% , Tỷ
lệ y tá, KTV,Điều dưỡng cao đẳng 51,1% Số này có ảnh hưởng đến hoạt động
khám chữa bệnh: Hiểu biết chỉ định dùng thuốc, quyết định phác đồ điều trị và
9
8
2.3
10.1
55.1
6.7
công tác chuyên về dược lâm sàng.
1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của bệnh viện
Theo quy chế bệnh viện 1997 của bộ trưởng BYT thì bệnh viện Lao và
Bệnh phổi Hà Nam trực thuộc Sở Y tế là đơn vị sự nghiệp y tế có chức năng
khám và điều trị bệnh nhân lao và bệnh phổi trên địa bàn tỉnh Hà Nam và một số
người dân ngoại tỉnh khi có nhu cầu khám chữa bệnh tại bệnh viện. Bệnh viện
có chức năng, nhiệm vụ được quy định theo quy chế bệnh viện Việt Nam là:
- Khám chữa bệnh
- Chỉ đạo tuyến.
- Phòng bệnh và giáo dục truyền thông.
- Đào tạo cán bộ.
- Nghiên cứu khoa học.
- Hợp tác quốc tế. 11
- Quản lý kinh tế [2], [9].
1.2.3 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của khoa dược bệnh viện
Theo TT22/2011/TT-BYT ngày 10 tháng 6 năm 2011 của bộ trưởng BYT
quy định.
* Vị trí, chức năng của khoa Dược
Khoa Dược là khoa chuyên môn chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Giám đốc
bệnh viện. Khoa Dược có chức năng quản lý và tham mưu cho Giám đốc bệnh
viện về toàn bộ công tác dược trong bệnh viện nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ,
kịp thời thuốc có chất lượng và tư vấn, giám sát việc thực hiện sử dụng thuốc an
toàn, hợp lý.
* Nhiệm vụ của khoa Dược
- Lập kế hoạch, cung ứng thuốc bảo đảm đủ số lượng, chất lượng cho
nhu cầu điều trị và thử nghiệm lâm sàng nhằm đáp ứng yêu cầu chẩn đoán, điều
trị và các yêu cầu chữa bệnh khác (phòng chống dịch bệnh, thiên tai, thảm họa).
ngày 04/7/1997 của Bộ trưởng Bộ Y tế, bệnh viện đã tiến hành triển khai thành
lập Hội đồng thuốc và điều trị bệnh viện [12], [13], [16].
* Chức năng- nhiệm vụ của HĐT & ĐT: Tư vấn cho giám đốc bệnh viện
về các vấn đề có liên quan đến thuốc và điều trị bằng thuốc của bệnh viện, thực
hiện tốt chính sách quốc gia về thuốc trong bệnh viện [10]. Kể từ khi thành lập
HĐT & ĐT bệnh viện đã thực hiện tốt các nhiệm vụ sau đây:
+ Xây dựng DMT phù hợp với MHBT và chi phí về thuốc, vật tư tiêu hao
và điều trị của bệnh viện.
+ Giám sát thực hiện quy chế chẩn đoán bệnh, làm hồ sơ bệnh án, kê đơn
điều trị, quy chế sử dụng thuốc và quy chế công tác khoa dược.
+ Theo dõi phản ứng có hại của thuốc.
+ Xác lập và ban hành quy trình giao phát thuốc trong toàn bệnh viện.
Từng bước tổ chức đưa thuốc tới từng khoa lâm sàng.
+ Thông tin thuốc: Thuốc mới, thuốc cấm lưu hành, tương tác thuốc, phản 13
ứng có hại của thuốc cho các bác sỹ, dược sỹ, y tá, điều dưỡng viên trong toàn
bệnh viện, tổ chức thành lập đơn vị thông tin thuốc tại khoa dược thuộc Hội
đồng thuốc và điều trị.
+ Tổ chức nghiên cứu khoa học và đào tạo kiến thức về thuốc.
+ Thiết lập mối quan hệ hợp tác giữa dược sỹ với bác sỹ kê đơn và với y
tá điều dưỡng trong sử dụng thuốc cho người bệnh [4], [7], [8], [16], [21].
1.2.5 Bệnh viện lao và Bệnh phổi tỉnh Hà Nam trong chăm sóc sức khoẻ
nhân dân.
1.2.5.1. Tổ chức màng lưới chống lao tại Tỉnh Hà Nam
Tháng 4/1993, WHO đã báo động tới Chính phủ các quốc gia trên toàn
cầu về nguy cơ quay trở lại cùng với đại dịch thế kỷ HIV/AIDS. Tháng 11/1995,
Nhà nước Việt Nam đã có quyết định thành lập Chương trình chống lao Quốc
gia (CTCLQG). Tháng 9/1995 chương trình chống lao Hà Nam được thành lập
Hình 1.3. Sơ đồ màng lưới chống lao tại Hà Nam
Tuyến tỉnh: Bệnh viện lao và Bệnh phổi Tỉnh Hà Nam chịu trách nhiệm
triển khai thực hiện CTCLQG .
Tuyến Huyện: Huyện là đơn vị chiến lược cơ bản để triển khai CTCL.
Mỗi xã, phường có tổ chống lao chịu trách nhiệm triển khai CTCL tại huyện
dưới sự chỉ đạo kỹ thuật của Bệnh viện lao và Bệnh phổi Tỉnh Hà Nam như vậy
126 xã phường phải có các nhiệm vụ chính như sau:
- Nhiệm vụ 1: Xét nghiệm đàm soi trực tiếp để chẩn đoán lao phổi AFB
(+) mới hay tái phát và theo dõi kết quả điều trị lao.
Bệnh viện lao và bệnh phổi TW
(CTCLQG)
Sở Y tế Hà Nam
Bệnh viện lao và Bệnh phối
Hà Nam
TT Y tế xã phường
Phòng khám lao
Trạm y tế xã phường
(Thực hiện DOTS)
Giai đoạn tấn công Giai đoạn duy trì 16
lao đảm bảo điều trị khỏi bệnh, diệt hết vi khuẩn lao, tránh lây lan với điều kiện
dùng thuốc đúng nguyên tắc. Vì có nhiều loài vi khuẩn lao khác nhau trong một
cơ thể bệnh nhân, nên phác đồ điều trị ngắn ngày xuất hiện nay là phải kéo dài
từ 6-8 tháng mới diệt hết các loại vi khuẩn lao hiện diện, để được lành bệnh và
tránh tái phát sau khi ngưng trị.
- Hoá trị liệu lao cần tuân thủ “ Đúng, đủ, đều”. Có nghĩa là phải điều
trị đúng phác đồ, đúng liều lượng từng thuốc lao, dùng thuốc lao phải đúng cách
tiêm và uống thuốc cùng vào lúc đói. Dùng đủ các thuốc chống lao theo phác đồ
6-8 tháng. Dùng thuốc phải đều đặn liên tục hay tuần ba lần theo chỉ định, không
bỏ quên thuốc.
- Điều trị lao phải được kiểm soát trực tiếp bởi nhân viên y tế theo chiến
lược DOTS.
- Chỉ điều trị lao khi chẩn đoán lao được xác định và phải bắt đầu
ngay khi có chỉ định điều trị.
- Thuốc lao phải được cấp phát miễn phí đầy đủ và liên tục không được
thiếu nửa chừng.
- Điều trị lao phải được theo dõi diễn biến điều trị và đánh giá kết quả
là lành hay thất bại để xử lý tiếp. Theo dõi việc điều trị đúng, đều, đủ và theo
dõi các biến chứng thuốc lao có thể xảy ra để xử lý kịp thời. Theo dõi kết quả
điều trị bằng xét nghiệm đàm kiểm soát là chính. Nếu bệnh mới bị thất bại hay
tái phát thì được điều trị lại với phác đồ tái trị.
- Điều trị lao phổi mới có vi khuẩn lao trong đàm soi trực tiếp phải đạt
tỷ lệ âm hoá đàm, lành ít nhất 85%. Nếu không đạt tỷ lệ âm hoá trên thì kháng
đa thuốc thất bại cao, nên điều trị càng nhiều bệnh càng tạo ra nhiều bệnh lao
kháng đa thuốc, vô cùng nguy hiểm cho xã hội.
- Hoá trị ngắn ngày cũng điều trị lành với tỷ lệ cao bệnh lao có nhiễm
HIV. Tuy nhiên cần theo dõi các biến chứng thuốc lao thường xảy ra nhiều hơn