BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
VŨ XUÂN MINH
ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG THUỐC
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA PHỐ NỐI
NĂM 2012 LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
HÀ NỘI 2014
BỘ Y TÊ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
Bệnh viện đa khoa Phố Nối – Hưng Yên
Thời gian thực hiện
:
Tháng 8/2012 đến tháng 8/2013
HÀ NỘI 2014 LỜI CẢM ƠN
Thời gian học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này đã trôi qua
thật nhanh, đây là lúc để tôi bày tỏ lời cảm ơn chân thành của tôi tới những
người đã giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS. Nguyễn
Thị Thanh Hương - Bộ môn Quản lý và Kinh tế dược, người thầy kính mến
đã tận tình dìu dắt, hướng dẫn và truyền đạt kinh nghiệm nghiên cứu cho tôi
trong quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Sau Đại học, các thầy
cô trong Bộ môn Quản lý và Kinh tế dược, các thầy cô giáo Trường Đại học
Dược Hà Nội đã giảng dạy và tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình học
tập, nghiên cứu tại Trường.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc, khoa Dược, Trưởng phòng
Kế hoạch-Tổng hợp và các đồng nghiệp tại Bệnh viện đa khoa Phố Nối đã tạo
điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thu thập thông tin và số liệu
phục vụ cho đề tài.
Và cuối cùng là xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cha mẹ, người thân
DSLS Dược sỹ lâm sàng
DSĐH Dược sỹ đại học
FEFO Hạn sử dụng ngắn hơn thì xuất trước (Fisrt expry First out)
FIFO Thuốc nhập trước thì xuất trước (First in – First out)
GSP Thực hành tốt bảo quản thuốc
HĐT&ĐT Hội đồng thuốc và điều trị
ICD - 10 Bảng phân loại quốc tế bệnh tật lần thứ 10 (International
Classification of Diseases – 10)
KST Ký sinh trùng
MHBT Mô hình bệnh tật
TNHHMTV Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Trung tâm
DI&ADR
Quốc gia
Trung tâm Quốc gia về thông tin thuốc và theo dõi phản
ứng có hại của thuốc
TW Trung ương
VEN Phương pháp xác định ưu tiên cho hoạt động mua sắm và
tồn trữ thuốc trong bệnh viện khi không đủ tiền mua tất cả
các loại thuốc (Vital drugs, Essential drugs, Non-Essential
drugs)
YHCT Y học cổ truyền
WHO Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization)
DANH MỤC BẢNG
Bảng Tên bảng Trang
Bảng 1.1 Cơ cấu nhân lực bệnh viện đa khoa Phố Nối năm 2012 25
Bảng 1.2 Cơ cấu nhân lực của khoa Dược BVĐK Phố Nối 29
Kinh phí mua thuốc của bệnh viện năm 2012 45
Bảng 3.13
Cơ cấu nguồn mua thuốc của BVĐK Phố Nối năm 2012 45
Bảng 3.14
Cơ cấu mua thuốc theo nhóm tác dụng dược lý năm 2012 47
Bảng 3.15
Cơ cấu thuốc sản xuất trong nước/ thuốc nhập khẩu 48
Bảng 3.16
Cơ cấu kinh phí mua thuốc sản xuất trong nước và thuốc
nhập khẩu năm 2012
49
Bảng 3.17
Tiền thuốc xuất, nhập, tồn kho của khoa Dược năm 2012 56
Bảng 3.18
Các thuốc cần được ban Giám đốc duyệt sử dụng 63
43
Hình 3.11
Biểu đồ tỷ lệ thuốc sản xuất trong nước - thuốc nhập
khẩu và cơ cấu kinh phí mua thuốc sản xuất trong nước -
thuốc nhập khẩu
49
Hình 3.12 Sơ đồ hệ thống kho của khoa Dược 50
Hình 3.13 Sơ đồ mô tả quy trình thực hiện nghiệp vụ kho 52
Hình 3.14
Quy trình nhập thuốc tại BVĐK Phố Nối
53
Hình 3.15 Quy trình cấp phát thuốc tại BVĐK Phố Nối năm 2012 57
Hình 3.16 Quy trình cấp phát thuốc cho bệnh nhân nội trú 58
Hình 3.17 Quy trình giám sát thực hiện DMTBV 61
Hình 3.18 Quy trình bình bệnh án BVĐK Phố Nối 651
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh viện là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ cho
thì tổ chức và hoạt động của khoa Dược cũng có sự khác nhau [28], [29].
Bệnh viện đa khoa Phố Nối – Hưng Yên là bệnh viện đa khoa hạng II
trực thuộc Sở Y tế tỉnh Hưng Yên. Bệnh viện được thành lập và đi vào hoạt
động ngày 16 tháng 11 năm 2006. Bệnh viện được giao nhiệm vụ khám, chữa
bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trong tỉnh, đặc biệt là 04 huyện phía
bắc là Mỹ Hào, Yên Mỹ, Văn Lâm,Văn Giang và nhân dân các tỉnh lân cận.
Bệnh viện hiện có 300 giường bệnh, 21 khoa/phòng (15 khoa lâm sàng và cận
lâm sàng, 06 phòng ban chức năng) và 400 cán bộ viên chức (trong đó có 89
bác sỹ, 07 dược sỹ đại học). Với sự lớn mạnh nhanh chóng của bệnh viện, nhu
cầu khám chữa bệnh của nhân dân ngày càng tăng, công tác cung ứng thuốc
của bệnh viện càng cần được quan tâm và chú trọng. Nhằm góp phần đánh giá
thực trạng hoạt động cung ứng thuốc của bệnh viện đa khoa Phố Nối, góp
phần nâng cao chất lượng hoạt động cung ứng thuốc, đề tài: “ Đánh giá hoạt
động cung ứng thuốc tại bệnh viện đa khoa Phố Nối năm 2012” được thực
hiện nhằm mục tiêu:
1. Phân tích hoạt động lựa chọn và mua thuốc của Bệnh viện đa khoa
Phố Nối năm 2012.
2. Phân tích hoạt động tồn trữ, bảo quản, cấp phát và giám sát sử dụng
thuốc tại bệnh viện đa khoa Phố Nối năm 2012.
Từ đó đề xuất một số ý kiến nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cung
ứng thuốc của bệnh viện đa khoa Phố Nối - Hưng Yên thời gian tới.
3
Chương 1. TỔNG QUAN
1.1. CUNG ỨNG THUỐC TRONG BỆNH VIỆN
Cung ứng thuốc là quá trình đưa thuốc từ nơi sản xuất đến người sử
Đường phối hợp
Dòng lưu chuyển các hoạt động
Thông tin Công Khoa
nghệ học
Kinh tế
-Mô hình bệnh tật
-Phác đồ điều trị
-Kinh phí hoạt động
của BV
Cấp phát
(Distribution)
Mua thuốc
(Procurement)
Lựa chọn
(Selection)
Sử dụng (Use)
4
1.1.1. Hoạt động lựa chọn thuốc
5
thuốc. Khi mà các thuốc không hoàn toàn giống nhau thì khi chọn cần phải
tiến hành phân tích hiệu quả - chi phí.
+ Trong một số trường hợp, sự lụa chọn còn phụ thuộc vào một số yếu
tố khác như các đặc tính dược động học hoặc cân nhắc những đặc điểm tại địa
phương như trang thiết bị bảo quản, hệ thống kho chứa hoặc nhà sản xuất,
cung ứng.
+ Thuốc ghi tên generic hoặc tên chung quốc tế, tránh đề cập đến tên
biệt dược hoặc nhà sản xuất cụ thể.
1.1.1.2. Căn cứ để xây dựng DMT bệnh viện
Hình 1.2: Các căn cứ xây dựng DMT tại bệnh viện
Căn cứ để xây dựng DMT tại các bệnh viện phải dựa vào DMT thiết
yếu và DMT chủ yếu do Bộ Y tế ban hành:
- Danh mục thuốc thiết yếu [16], [36]:
Là DMT có đủ chủng loại đáp ứng yêu cầu điều trị các bệnh thông
thường. Tên thuốc trong danh mục là tên gốc dễ nhớ, dễ biết, dễ lựa chọn, dễ
Hội đồng thuốc
và điều trị
cầu khám chữa bệnh. Đối với thuốc tân dược, bênh viện được phép sử dụng
các thuốc phối hợp nếu thành phần đơn chất của thuốc đó đều có trong danh
mục. Ưu tiên sử dụng các thuốc của doanh nghiệp sản xuất trong nước đạt
tiêu chẩn GMP.
- Mô hình bệnh tật của bệnh viện [1], [7], [40]:
MHBT của bệnh viện là số liệu thống kê về bệnh tật trong khoảng thời
gian nhất định. Tùy theo hạng và tuyến bệnh viện mà MHBT bệnh viện có
thể thay đổi (vì hạng bệnh viện có liên quan đến kinh phí, kỹ thuật điều trị,
biên chế) . MHBT phụ thuộc các yếu tố: môi trường, chất lượng cuộc sống,
người bệnh, chức năng nhiệm vụ, trình độ chuyên môn của thầy thuốc
MHBT là căn cứ quan trọng giúp bệnh viện không chỉ lựa chọn xây dựng
DMTBV phù hợp mà còn là cơ sở để bệnh viện hoạch định, phát triển toàn
diện trong tương lai.
- Phác đồ điều trị (hướng dẫn thực hành điều trị) [6], [40]: Là căn cứ
quan trọng không thể thiếu trong việc lựa chọn và xây dựng DMTBV. Theo
7
WHO một hướng dẫn thực hành điều trị về thuốc bao gồm đủ 4 thông số: hợp
lý, an toàn, hiệu quả, kinh tế.
Kinh phí cho mua thuốc, trình độ chuyên môn - kỹ thuật, nhu cầu thuốc
đã sử dụng là những căn cứ quan trọng trong việc xây dựng DMT của bệnh
viện.
1.1.2. Mua thuốc
Hoạt động mua thuốc là một nội dung trong chu trình cung ứng thuốc,
có liên quan đến chất lượng thuốc, khả năng tiết kiệm ngân sách và mức độ
đáp ứng đủ nhu cầu điều trị của bệnh viện Hoạt động mua thuốc tại bệnh viện
được bắt đầu sau khi đã có bản dự trù thuốc của năm, dựa theo kế hoạch có
thể mua thuốc (theo 01 tháng, 03 tháng, 06 tháng hoặc 01 năm). Hoạt động
mua thuốc chấm dứt khi thuốc đã được kiểm nhập vào kho thuốc của khoa
Dược. Chu trình mua thuốc được thể hiện ở sơ đồ sau đây:
8
cung ứng đầy đủ, kịp thời. Thông thường, lượng thuốc tồn trữ và lượng thuốc
luân chuyển qua kho là những yếu tố quyết định nhu cầu thuốc. Tuy nhiên,
khi có sự thay đổi về cơ chế cung ứng, về phác đồ điều trị hay sự biến động
đột xuất về lượng thuốc sử dụng thì việc xác định nhu cầu thuốc là cần thiết.
Có 03 phương pháp ước tính và tính toán nhu cầu thuốc:
- Phương pháp thống kê dựa trên lượng thuốc sử dụng thực tế
-
Phương pháp dựa trên cơ sở quản lý các dịch vụ y tế
-
Phương pháp dựa trên mô hình bệnh tật và phác đồ điều trị.
Trên thực tế, để xác định nhu cầu thuốc cần kết hợp các phương pháp
trên và xem xét, phân tích tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu thuốc như:
bệnh tật, thời tiết, điều kiện kinh tế, phác đồ điều trị, giá thuốc, thuốc mới,
Mặt khác phải chú ý phân tích và loại bỏ sai số do nhu cầu thuốc bất hợp lý
(là nhu cầu thuốc không phù hợp với kỹ thuật và phương pháp điều trị).
1.1.2.2. Chọn phương thức mua [30], [31]
Đối với các cơ sở y tế công lập thì việc mua sắm thuốc phải thực hiện
theo Luật Đấu thầu và các văn bản dưới luật hướng dẫn thực hiện Luật Đấu
thầu.
1.1.2.3. Chọn nhà cung ứng
Chính là tổ chức đấu thầu để chọn ra nhà thầu có năng lực đáp ứng
được đầy đủ các yêu cầu của bên mời thầu. Để lựa chọn nhà cung ứng cần
phân tích đánh giá về các mặt: năng lực kinh doanh, uy tín và thương hiệu của
nhà cung ứng. Mục tiêu cuối cùng là chọn được nhà cung ứng có giá cung
ứng hợp lý và tin cậy. Sau khi kết quả trúng thầu được cấp có thẩm quyền phê
duyệt, hai bên mua bán sẽ ký kết hợp đồng nguyên tắc.
1.1.2.4. Đặt hàng và theo dõi đơn đặt hàng
Xem có đúng số lượng, chủng loại và chất lượng như đã quy định trong
1.1.3.1. Bảo quản, tồn trữ thuốc [1], [5], [8]
Quá trình này có ảnh hưởng đến chất lượng thuốc. Do vậy, kho thuốc
phải đảm bảo điều kiện bảo quản thuốc theo đúng quy định. Riêng đối với
10
thuốc gây nghiện và hướng thần cần có chế độ bảo quản riêng đúng quy chế
Trong quá trình bảo quản cần lưu ý đến hạn dùng của thuốc. Các thuốc
được sắp xếp theo quy định hạn gần - xuất trước (FEFO), nếu các thuốc có
cùng hạn sử dụng thì tuân theo quy định nhập trước-xuất trước (FIFO), tránh
hiện tượng quá hạn thuốc và phải có cơ chế loại bỏ thuốc hết hạn. Tuy nhiên,
trong những trường hợp cụ thể, có thể chấp nhận những sai lệch so với các
nguyên tắc này, với điều kiện các sai lệch này chỉ có tính chất tạm thời và
được áp dụng phù hợp.
Bảo quản thuốc không chỉ là cất giữ thuốc an toàn mà còn bao gồm cả việc
đưa vào sử dụng và duy trì đầy đủ các hệ thống hồ sơ sổ sách phù hợp và quy
trình thao tác phục vụ công tác bảo quản và kiểm soát theo dõi chất lượng thuốc.
1.1.3.2. Cấp phát thuốc
Quy trình cấp phát thuốc thể hiện bằng sơ đồ sau:
Thuốc
VTTH Hóa chất
đối chiếu theo đúng quy chế:
-
Ba kiểm tra: Thể thức phiếu lĩnh thuốc hoặc đơn thuốc, liều dúng,
cách dùng; chất lượng thuốc; nhãn thuốc.
-
Ba đối chiếu: Tên thuốc ở đơn, phiếu, nhãn: nồng độ (hàm lượng),
dạng bào chế, liều dùng, đường dùng, khoảng cách dùng thuốc trên đơn thuốc
với thuốc sẽ giao; Số lượng, số khoản thuốc trong đơn thuốc, phiếu lĩnh thuốc
với số thuốc sẽ giao.
Khoa Dược chịu trách nhiệm về toàn bộ chất lượng thuốc được cấp phát ra.
Cuối cùng là thực hiện thống kê, kiểm kê, báo cáo, lưu trữ hồ sơ sổ
sách theo đúng quy định.
1.1.4. Hoạt động giám sát sử dụng thuốc
Hình 1.5: Sơ đồ hoạt động giám sát sử dụng thuốc
Giám sát thực
hiện danh mục
thuốc
đơn hoặc mua sắm thuốc ngoài danh mục mà không có sự chấp thuận của
HĐT&ĐT. Bên cạnh đó, bệnh viện cần tập huấn cho nhân viên y tế về kê đơn
thuốc ngoài danh mục và tạo điều kiện để các cán bộ đóng góp ý kiến trong
quá trình xây dựng và thực hiện DMTBV [5], [11], [14].
-
Giám sát việc chẩn đoán, kê đơn thuốc ngoại trú và chỉ định thuốc
trong hồ sơ bệnh án
+ Hoạt động chẩn đoán và theo dõi bệnh:
Hình 1.6: Quy trình sử dụng thuốc
Đây là hoạt động quan trọng trong quy trình sử dụng thuốc, làm cơ sở
để thầy thuốc xác định mục tiêu, phương án điều trị và đưa ra chỉ định thuốc
phù hợp với bệnh nhân. Kết quả chẩn đoán sai dẫn đến việc lựa chọn thuốc
điều trị không đúng, gây ảnh hưởng đến sức khỏe bệnh nhân và lãng phí về
mặt ngân sách [14].
Để có được chẩn đoán và chỉ định dùng thuốc chính xác, thầy thuốc cần
Chẩn đoán, theo dõi
Kê đơn
Tuân thủ điều trị
Cấp phát thuốc
13
có kiến thức chuyên môn phù hợp và liên tục được cập nhật, có phương pháp
khai thác tối đa tiền sử bệnh tật, tiền sử dùng thuốc và tiền sử dị ứng của bệnh
nhân, cũng như các dấu hiệu thăm khám và xét nghiệm cận lâm sàng cần
Giám sát hoạt động giao phát thuốc:
Nhằm đảm bảo thuốc được đưa đến đúng bệnh nhân, với liều dùng,
chất lượng thuốc tốt và có hướng dẫn sử dụng rõ ràng, thông tư số
23/2011/TT-BYT đã có quy định về trách nhiệm của khoa Dược và khoa Lâm
sàng trong hoạt động cấp phát thuốc. Theo đó:
+ Khoa Dược tổ chức cấp phát thuốc bảo đảm chất lượng và hướng
dẫn sử dụng thuốc cho người bệnh, thực hiện đúng ba kiểm tra, ba đối chiếu
trong quá trình giao phát thuốc.
+ Khoa lâm sàng có trách nhiệm cấp phát và theo dõi bệnh nhân trước,
trong và sau khi dùng thuốc, chuẩn bị đầy đủ các phương tiện và thuốc cho
người bệnh, đảm bảo năm đúng (đúng người bệnh, đúng thuốc, đúng liều
dùng, đúng đường dùng và đúng thời gian). Đặc biệt điều dưỡng phải trực
tiếp chứng kiến người bệnh dùng thuốc và theo dõi phát hiện kịp thời các bất
thường của người bệnh trong khi dùng thuốc.
-
Hoạt động thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc:
Một sản phẩm thuốc được coi là thuốc dùng để chữa bệnh cho người
chỉ khi nào nó đảm bảo đủ hai yếu tố cấu thành, đó là sản phẩm phải có hoạt
chất (có hoạt tính dược lý lâm sàng) và phải có thông tin hướng dẫn đi kèm.
Ngày 4/7/1997 Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 08/BYT-TT quy định về tổ
chức đơn vị thông tin thuốc trong bệnh viện: có nhân lực đặc trách, có kinh
phí hoạt động để quản lý công tác thông tin về thuốc trong bệnh viện. Ngày
13/11/2003, Vụ điều trị đã có công văn số 10766/YT-ĐTr về việc hướng dẫn
tổ chức, chức năng nhiệm vụ và hoạt động của đơn vị thông tin thuốc trong
bệnh viện. Công văn số 3483/YT-ĐTr của Bộ Y tế ngày 19/5/2004 cũng một
lần nữa hướng dẫn các bệnh viện trên toàn quốc kiểm tra hoạt động thông tin
15
thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc. Tiêu chí bệnh viện phải có đơn
vị thông tin thuốc trực thuộc khoa Dược được đưa vào tiêu chuẩn kiểm tra
số 31/2011/TT-BYT ngày 11/07/2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế đã trở thành căn
cứ pháp lý cho các cơ sở khám, chữa bệnh lựa chọn xây dựng danh mục thuốc
cụ thể cho đơn vị mình, ngoài ra cũng là cơ sở để Bảo hiểm xã hội thanh toán
tiền thuốc cho người bệnh tham gia BHYT. Việc bổ sung, sửa đổi danh mục
thuốc cũng được các đơn vị thực hiện thường xuyên hằng năm nhằm đáp ứng
với tình hình thực tế và những thay đổi về nhu cầu thuốc điều trị ở bệnh viện.
1.2.2. Về hoạt động mua thuốc
Trước năm 2012, thông tư liên tịch số 10/2007/TTLT-BYT-BTC ban
hành ngày 10/08/2007 về việc “Hướng dẫn đấu thầu cung ứng thuốc trong các
cơ sở y tế công lập” là cơ sở pháp lý quan trọng để các bệnh viện thực hiện
đấu thầu mua sắm thuốc phục vụ nhu cầu điều trị [30]. Mặc dù các bệnh viện
có thể sử dụng nhiều phương thức mua sắm khác nhau tùy thuộc tính chất gói
thầu nhưng hình thức đấu thầu rộng rãi vẫn được ưu tiên áp dụng nhiều nhất.
Tuy nhiên các tiêu chuẩn xét thầu, chấm thầu vẫn chưa hoàn thiện và cần
được bổ sung thêm. Sự khác nhau về danh mục thuốc mời thầu theo tên biệt
dược cũng như các tiêu chí xét thầu giữa các bệnh viện có thể dẫn đến tính
không khách quan và lạm dụng biệt dược trong quá trình chọn lựa thuốc [39],
[42]. Ngày 19/01/2012, thông tư liên tịch số 01/2012/TTLT/BYT- BTC về
đấu thầu được ban hành đã có những sửa đổi quan trọng, theo hướng thắt chặt
hơn hoạt động đấu thầu thuốc tại các bệnh viện, bao gồm cả công lập và ngoài
công lập, đặc biệt trong vấn đề xây dựng danh mục thuốc đấu thầu theo tên
biệt dược và lựa chọn thuốc trúng thầu cho gói thầu tên generic; đồng thời với
sự tham gia giám sát của đơn vị BHXH đối với việc mua thuốc bằng nguồn
quỹ BHYT [31]. Tuy nhiên, do thời điểm ban hành là đầu năm 2012 nên hiệu
17
quả của thông tư mới về đấu thầu hiện vẫn chưa có đề tài nghiên cứu nào tiến
hành đánh giá. Theo báo cáo tổng kết công tác dược năm 2008, trong tương
lai các bệnh viện sẽ tiếp tục căn cứ tình hình thực hiện và tính khả thi để
hướng đến triển khai thí điểm đấu thầu thuốc quốc gia, trước mắt ở một số sản
lạm phát tăng cao trong những năm gần đây. Công tác giải trình về giá kế
hoạch hoặc tổ chức đấu thầu lại đối với những thuốc không trúng thầu do giá
dự thầu vượt cao hơn giá kế hoạch xây dựng đã làm cho quá trình đấu thầu
kéo dài và phức tạp hơn.
1.2.3. Về hoạt động cấp phát thuốc
Các bệnh viện đã tổ chức được quy trình cấp phát thuốc phù hợp, kịp
thời đáp ứng nhu cầu điều trị, tuy nhiên vẫn còn nhiều bệnh viện, đặc biệt là ở
tuyến tỉnh, quản lý việc cấp phát thuốc còn mang tính thủ công và chưa áp
dụng được công nghệ thông tin vào hoạt động cấp phát. Ở một số bệnh viện
tuyến trung ương, việc ứng dụng công nghệ thông tin và xây dựng hệ thống
mạng nội bộ trong quản lý công tác xuất nhập kho và theo dõi việc kê đơn của
bác sỹ đã phần nào giúp giảm thiểu được sai sót trong cấp phát thuốc, kiểm
soát được chủng loại và số lượng thuốc trong kho cũng như góp phần nâng
cao hiệu quả của hoạt động giám sát kê đơn thuốc. Theo Cục Quản lý Khám
chữa bệnh, 80% khoa dược của bệnh viện tuyến trung ương đã có phần mềm
quản lý thuốc kết nối với khoa khám bệnh để kê đơn và phát thuốc cho bệnh
nhân ngoại trú. Việc nhập thuốc và bảo quản thuốc được thực hiện theo đúng
quy định hiện hành, đặc biệt là công tác quản lý thuốc gây nghiện và hướng
tâm thần. Tuy nhiên cơ sở vật chất kho tàng bảo quản thuốc vẫn còn chưa đủ
so với quy định chung, số lượng cán bộ dược vẫn còn thiếu so với nhu cầu,
dẫn đến công việc cấp phát chiếm hầu hết thời gian và nhân lực [35]. Theo số
liệu kiểm tra 932 trên tổng số 1.062 bệnh viện trong cả nước vào năm 2008,
số lượng nhân lực dược là 9.432 cán bộ, chỉ chiếm trung bình khoảng 5,5% số