BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN ĐỨC THU
KHẢO SÁT SỬ DỤNG THUỐC
TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH XƯƠNG KHỚP
TẠI BỆNH VIỆN Y DƯỢC CỔ TRUYỀN
ĐỒNG NAI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA I HÀ NỘI 2013 BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
ADR Phản ứng có hại của thuốc
NSAID Thuốc kháng viêm không steroid
THK Thoái hóa khớp
TP. HCM Thành phố Hồ Chí Minh
YDCT Y dược cổ truyền
YHCT Y học cổ truyền
YHHĐ Y học hiện đại
VAS
Visual Analog Scale MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. BỆNH XƯƠNG KHỚP THEO QUAN ĐIỂM CỦA Y HỌC CỔ TRUYỀN 4
1.1.1. Tìm hiểu về xương khớp 4
1.1.2. Bệnh xương khớp theo quan điểm của Y học cổ truyền 7
1.1.3. Quan niệm về bệnh sinh 7
1.1.4. Quan niệm về chẩn đoán 8
1.1.5. Quan niệm về điều trị 8
1.2. MỘT SỐ BỆNH XƯƠNG KHỚP THƯỜNG GẶP 10
1.2.1. Bệnh Thoái hóa đa khớp 10
1.2.2. Thoái hóa khớp cột sống lưng và cột sống cổ 10
1.2.3. Bệnh viêm đa khớp dạng thấp 11
3.3.1. Tác dụng giảm đau 38
3.3.2. Tác dụng điều trị chung 39
3.3.3. Tác dụng phụ của thuốc 39
3.3.4. Các biện pháp khắc phục tác dụng phụ của thuốc 40
CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN 42
4.1. ĐẶC ĐIỂM BỆNH NHÂN TRONG CUỘC NGHIÊN CỨU 42
4.1.1. Đặc điểm về giới tính 42
4.1.2. Đặc điểm về độ tuổi 42
4.1.3. Đặc điểm về nghề nghiệp 43
4.2. ĐẶC ĐIỂM BỆNH ÁN 44
4.3. ĐẶC ĐIỂM VỀ THỜI GIAN MẮC BỆNH 46
4.4. CÁC BỆNH MẮC KÈM Ở BỆNH NHÂN XƯƠNG KHỚP 48
4.5. TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC THANG YHCT ĐỂ ĐIỀU TRỊ 48
4.6. CÁC LOẠI THUỐC ĐƯỢC SỬ DỤNG 50
4.7. HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH 52
4.8. TÁC DỤNG PHỤ VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC 53
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
KẾT LUẬN 54
KIẾN NGHỊ 55
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Đặc điểm giới tính nhóm nghiên cứu 27
Bảng 3.2. Đặc điểm độ tuổi nhóm
nghiên cứu 28
31
Hình 3.6. Biểu đồ tỷ lệ % bệnh mắc kèm với bệnh xương khớp đang điều
trị 32
Hình 3.7. Biểu đồ tỷ lệ % vị trí xương khớp bị tổn thương 33
Hình 3.8. Biểu đồ tỷ lệ % triệu chứng bệnh xương khớp mắc phải 34
Hình 3.9. Biểu đồ tỷ lệ % tình hình sử dụng thuốc của bệnh nhân
35
Hình 3.10. Biểu đồ tỷ lệ % số lượng bài thuốc thang YHCT được sử dụng
36
Hình 3.11. Mức độ giảm điểm đau trung bình VAS tại các thời điểm 38
Hình 3.12. Biểu đồ tỷ lệ % tác dụng phụ của thuốc 39
Hình 3.13. Biểu đồ tỷ lệ % các biện pháp khắc phục tác dụng phụ của
thuốc
40 ĐẶT VẤN ĐỀ
Những tiến bộ vượt bậc về khoa học - kỹ thuật trong nhiều thế kỷ, đặc
biệt thế kỷ XX vừa qua đã mang lại cho con người nhiều khả năng và giải
pháp mới trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, trong đó có khả năng và giải
pháp cứu chữa bệnh tật của Y học, nhờ đó sức khỏe và tuổi thọ của con
người ngày càng được nâng cao rõ rệt.
Tuổi thọ ngày càng cao nên tỷ lệ người có tuổi (>= 65 tuổi) trong cộng
đồng cũng ngày càng tăng. Theo thống kê gần đây của Tổ chức Y tế Thế
giới, người có tuổi đang chiếm 11 - 12% dân số, ước tính đến năm 2020
con số này sẽ lên đến 17%, thậm chí có thể lên tới 25% ở các nước Âu, Mỹ,
tuổi thọ tăng cao, dân số thế giới ngày càng già đi và tuổi già đã trở thành
thách thức của nhân loại[1
], [50] Nâng cao chất lượng cuộc sống cho mọi
người đặc biệt là cho người có tuổi, một bộ phận rất quan trọng trong mỗi
là sự vận hành của khí huyết bị tắc nghẽn, gây ra sưng đau, hoặc tê, mỏi,
nặng ở một khu vực khớp xương hoặc toàn thân.
Các phương pháp điều trị bao gồm: tập luyện vận động, dưỡng sinh,
xoa bóp, chườm nóng, ăn uống và châm cứu; dùng thuốc bên ngoài (như
đắp bó thuốc ngoài khớp sưng đau) hoặc uống trong. Trong điều trị, các
thầy thuốc còn chú ý đến bệnh mới mắc hay đã lâu ngày, hoặc tái phát
nhiều lần. Nếu mới mắc thì dùng các phương pháp loại bỏ yếu tố gây bệnh
là chính. Nếu bệnh lâu ngày hoặc tái phát nhiều lần thì
phải vừa nâng đỡ
tổng trạng, bổ khí huyết, vừa loại bỏ yếu tố gây bệnh.
Nhìn chung, hiện nay có thể điều trị cách bệnh về xương khớp bằng
nhiều phương pháp. Trong phạm vi nghiên cứu, chúng tôi quan tâm chính
vào phương pháp điều trị bệnh bằng các bài thuốc Y học cổ truyền thông
qua việc thực hiện đề tài “Khảo sát sử dụng thuốc trong điều trị bệnh
xương khớp tại Bệnh viện Y dược cổ truyền Đồng Nai”.
2
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Khảo sát đặc điểm các bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu.
2. Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc trong điều trị bệnh xương khớp
tại Bệnh viện Y dược cổ truyền Đồng Nai.
3. Đánh giá hiệu quả sử dụng thuốc bệnh xương khớp tại Bệnh viện Y
dược cổ truyền Đồng Nai. Từ đó có ý kiến đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả
và an toàn trong sử dụng thuốc điều trị bệnh xương khớp tại
3
với xương lồng ngực ở phía dưới vì thế cho phép cánh tay có một tầm hoạt
động rất lớn[18
] Trong các xương ẩn chứa cả một thế giới kỳ diệu, 1/3
trọng lượng của xương được tạo ra từ các mô sống nối với nhau bởi một
4
mạng lưới mạch máu và các dây thần kinh vô cùng nhỏ bé. Lõi của một số
xương chứa đầy tuỷ có nhiệm vụ tạo ra tế bào máu. Kiểu cấu tạo nhỏ li ti
này có rất nhiều trong bộ xương của chúng ta. Cấu trúc mở của nó vừa
khoẻ vừa rất gọn nhẹ[22].
Xương không phải bất biến, chất khoáng tạo nên chất cứng - canxi và
photpho vẫn không ngừng tan rã và bị cuốn đi theo dòng máu, đồng thời
các chất khoáng m
ang đến các ống nhỏ li ti trong xương cũng liên tục tạo
ra xương mới. Cứ sau 2 năm là bộ xương của chúng ta gần như được thay
mới, các tinh thể xương mới xếp thành từng lớp để tạo nên sự rắn chắc
tương tự như cấu tạo của sợi cacbon. Tất cả các khớp nối trong cơ thể con
người, khớp đầu gối là phức tạp nhất, n
ó vừa phải co duỗi được trong khi
phải mang một tải trọng lớn. Xương bánh chè giúp các cơ có thể căng ra
quanh khớp xương. Để giảm ma sát xuống tối đa, các xương được phân
cách bởi một cái đệm mềm, nó chứa đầy một chất nhờn tự nhiên có vị ngọt
gọi là dịch khớp[28]. Các khớp và xương phối hợp với nhau để trợ giúp
cho sự vận động của các cơ. Xương cột sống phải đỡ cho phần khối lượng
từ thắt lưng trở lên, nó còn là chiếc áo giáp cho tuỷ sống, chứa các sợi dây
tuỷ truyền thông như một “Siêu xa lộ thông tin” có nhiệm vụ trao đổi tín
hiệu giữa não và các phần còn lại của cơ thể. 31 cặp dây thần kinh toả ra từ
Thận có hàng trăm chức năng khác nhau, một khi chức năng chủ cốt suy
giảm thì cấu trúc xương sẽ bất thường, khả năng phòng vệ và điều trị cho
xương khớp cũng suy giảm. Khi ấy tố chất mà vùng Thượng thận sinh ra để
giải quyết “trục trặc” viêm
nhiễm, đau nhức cho xương khớp sẽ không còn
được như ý và xương bị suy thoái (thưa xương, loãng xương, thoái hóa dị
dạng xương, viêm xương, viêm khớp và thoái hóa khớp) [22]. Cột sống của
chúng ta dễ dàng uốn cong là bởi cấu trúc của các đĩa đệm trong mỗi khớp
nối. Khi đốt sống bị thoái hóa, mòn vẹt ảnh hưởng sự định vị của đĩa đệm
làm
nó trật ra, chèn vào thần kinh, ép vào tuỷ sống gây đau và tê bại.
Những tế bào xương sống gần chỗ bị thoái hóa sẽ tăng sinh phát triển lấp
vào tạo thành các mô sùi lên như cái gai xương, nó chèn vào thần kinh làm
đau nhức[25]
Y học cổ truyền quan tâm nghiên cứu điều trị tận gốc. Khi chức năng
chủ cốt của Thận suy giảm và xương khớp bị bệnh thì ngoài việc điều trị
trực tiếp xương khớp còn phục hồi chức năng của Thận cường kiện cơ thể
chống tái phát bệnh. Từ hàng ngàn năm
qua đã có hàng trăm bài thuốc kinh
6
nghiệm với những triết lý luận trị thông thái. Y học cổ truyền đã thành
công đáng kể trong việc bảo vệ phục hồi, cường kiện chức năng Thận,
trong đó có chức năng chủ cốt để điều trị hiệu quả các chứng bệnh về
xương khớp thoái hoá xương khớp (tuy nhiên đã một thời y học hiện đại
phát triển lấn lướt làm nhiều người thiếu quan tâm
và lãng quên).
nên đau. Vì vậy khi chữa các bệnh về khớp, các phương pháp chữa theo Y
học cổ truyền đều nhằm lưu thông khí huyết ở cân ở xương, đưa các yếu tố
gây bệnh (phong, hàn, thấp, nhiệt) ra ngoài và đề phòng chống lại các hiện
tượng báo động sự tái phát của bệnh khớp xương.
1.1.4. Quan niệm về chẩn đoán[6], [15], [17], [28], [39]
Y học cổ tru
yền chẩn đoán bệnh dựa trên quan sát, hỏi và thăm khám
người bệnh, riêng đối với bệnh lý khớp xương, dựa trên nguyên nhân gây
bệnh tùy thuộc vào biểu hiện chứng trội mà chẩn đoán bệnh như: biểu hiện
đau không cố định, di chuyển từ nơi này sang nơi khác, kèm theo sợ gió,
nổi mẩn ngứa… thì được chẩn đoán là phong tý và như thế sẽ có nhiệt tý,
thấp tý, hàn tý…
Ngoài ra, việc chẩn đoán còn dựa trên các chức năng tạng phủ của cơ
thể, tùy thuộc vào triệu chứng sẽ có chẩn đoán tạng bệnh kèm
theo như can
thận hư, tâm tỳ hư…
Trên lâm sàng, thường bệnh nhân có biểu hiện các triệu chứng phối
hợp, ít khi tách bạch từng biểu hiện riêng biệt, nên thực tế lâm sàng thường
có các chẩn đoán bệnh lý như: phong hàn thấp tý, phong t
hấp nhiệt tý,
chứng tý can thận âm hư…
1.1.5. Quan niệm về điều trị
Do quan niệm sưng - đau khớp xương là do tắc nghẽn sự vận hành
của khí huyết, và do chức năng tạng phủ suy yếu ảnh hưởng đến việc tạo ra
khí huyết làm cho khí huyết giảm sút không nuôi dưỡng cân mạch đầy đủ
gây ra đau nhức khớp xương nên việc điều trị nhằm vào mục tiêu giải tỏa
sự tác nghẽn, đuổi nguyên nhâ
Nguyên tắc chung:
Ăn uống đầy đủ chất, không kiêng khem quá đáng nếu không có
yêu cầu của thầy thuốc, chú ý ăn thức ăn giàu đạm, nhiều khoáng
chất và vitamin, uống nước đủ mỗi ngày trung bình từ 1,2 lít trở
lên, không ăn uống nhiều chất kích thích hoặc khó tiêu.
Tập luyện nhẹ: như đi bộ, tập thái cực quyền, tập dưỡng sinh.
Đi gậy nếu là đau khớp gối hoặc khớp háng.
Chườm muối nóng vào các khớp đau như cột sống, nhượng chân,
vai, hoặc dùng đèn hồng ngoại chiếu vào khớp đau, chú ý liều
lượng về thời gian chiếu đèn, tránh biến chứng phỏng da cho bệnh
nhân.
9
Xoa bóp để tăng cường sự vận hành của khí - huyết.
Châm cứu giúp giảm đau, điều chỉnh sự tắc nghẽn khí huyết và bổ
dưỡng.
Dùng thuốc theo biện chứng luận trị.
Biện pháp không dùng thuốc:
Cho khớp nghỉ ngơi
Tập luyện phù hợp, tùy theo bệnh lý và giai đoạn bệnh
Vật lý trị liệu: xoa bóp, các bài tập thụ động và chủ động, xung
điện,…
Các vật dụng hỗ trợ: gậy, nạng, đai,v.v…
Chế độ dinh dưỡng phù hợp
1.2. MỘT SỐ BỆNH XƯƠNG KHỚP THƯỜNG GẶP
Trong phạm vi nghiên cứu, chúng tôi chỉ xin đề cập đến một số bệnh
xương khớp phổ biến: Thoái hóa đa khớp; Thoái hóa cột sống lưng và cột
sống cổ; Viêm đa khớp; Đau thần kinh tọa; Thoát vị đĩa đệm.
Bệnh thoái hóa cột sống là bệnh lý do hậu quả của quá trình tích tuổi và sự
chịu lực t
ác động thường xuyên lên khớp cột sống
Bệnh thoái hóa cột sống nếu được chẩn đoán sớm và điều trị sớm có
thể làm chậm phát triển của bệnh, giảm triệu chứng đau đớn.
1.2.3. Bệnh viê
m đa khớp dạng thấp[1,117-137]
Viêm đa khớp dạng thấp là một bệnh khá thường gặp, đặc biệt là ở
giới nữ. Đây là một bệnh đã xác định được nguyên nhân, đó là do bệnh
nhân tự sản xuất ra một chất gọi là kháng thể có tác dụng chống lại các chất
tạo ra đầu khớp của chính bản thân mình, vì thế bệnh được xếp vào loại
bệnh tự miễn dịch.
1.2.4. Bệnh đau thần k
inh tọa [1,113-176]
Đau dây thần kinh tọa được định nghĩa là một hội chứng thần kinh có
đặc điểm chủ yếu là đau dọc theo lộ trình của dây thần kinh tọa và các
nhánh của nó, nguyên nhân thường do bệnh lý đĩa đệm ở phần thấp của cột
sống.
11
Đau dây thần kinh tọa có nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do
những tổn thương ở cột sống thắt lưng. Năm 1928, một nguyên nhân mới
đã được phát hiện đã làm thay đổi hẳn khái niệm về nguyên nhân gây bệnh,
đó là thoát vị đĩa đệm vùng thắt lưng.
1.2.5. Bệnh thoát vị đĩa đệm [1,87-98]
Những đốt sống tạo thành cột sống ở sau lưng được chêm bởi những
đĩa nhỏ gọi là đĩa đệm. Những đĩa này tròn và dẹt có vỏ ngoài dai để ba
o
Cam thảo 6 g Tang ký sinh 12 g
Xuyên khung 8 g Tần giao 12 g
Đương quy 12 g Phòng phong 12 g
Thục địa 16 g Nhục quế 4 g
Bạch thược 12 g Tế tân 4 g
Đỗ trọng 12 g
Đổ vào 3 chén nước sắc còn hơn nửa chén. Nước thứ hai đổ vào thêm
2 chén, sắc còn hơn nửa chén. Trộn đều hai lần thuốc sắc được. Chia làm
hai hoặc ba lần uống trong một ngày. Uống trong lúc thuốc còn ấm.
Mỗi
đợt có thể uống từ 5 đến 7 thang.
1.3.1.2. Bài thuốc “Quy tỳ thang” [54]
- Thành phần:
Nhân sâm (Đảng sâm) 12 g Bạch truật 12 g
Phục thần 12 g Long nhãn nhục 12 g
Toan táo nhân sao 12 - 20 g Đương qui 8 - 12 g
Viễn chí 4 - 6 g Chích thảo 4 g
Hoàng kỳ 12 g Sinh khương 3 lát
Mộc hương 4 g Đại táo 2 - 3 quả
- Cách dùng: sắc nước uống.
Có thể hòa với mật làm thành hoàn, mỗi lần uống 8 - 12 g.
- Tác dụng: Kiện tỳ dưỡng tâm, ích khí bổ huyết.
* Giải thích bài thuốc:
13
Bài này gồm 2 bài "Tứ quân tử thang" và "Đương qui bổ huyết thang"
1.3.2. Theo Y học hiện đại
1.3.2.1. Meloxicam 7,5 mg
Meloxicam là thuốc kháng viêm không steroid (NSAID) thuộc họ
oxicam, có đặc tính kháng viêm, giảm đau và hạ sốt. Meloxicam có tính
kháng viêm mạnh cho tất cả các loại viêm. Cơ chế chung của những tác
dụng trên là do Meloxicam có khả năng ức chế sinh tổng hợp
prostaglandine, chất trung gian gây viêm. Ở cơ thể sống (invivo),
Meloxicam cơ chế sinh tổng hợp prostaglandine tại vị trí viêm mạnh hơn ở
niêm mạc dạ dày hoặc ở thận.
Đặc tính an toàn cải tiến này do thuốc ức chế chọn lọc đối với CO
X-2
so với COX-1. So sánh giữa liều gây loét và liều kháng viêm hữu hiệu
trong thí nghiệm gây viêm ở chuột cho thấy thuốc có độ an toàn và hiệu
quả điều trị cao hơn các NSAID thông thường khác.
Tác dụng
Meloxicam có tác dụng hạ sốt, giảm đau, chống viêm và chóng kết tập
tiểu cầu. Tuy nhiên tác dụng hạ sốt kém nên Meloxicam chủ yếu dùng giảm
đau và chống viêm.
Meloxicam tan ít trong mỡ nên thấm tốt vào hoạt dịch và các tổ chức
viêm
. Thuốc xâm nhập kém vào mô thần kinh nên ít tác dụng không mong
muốn trên thần kinh.
Chỉ định
+ Dạng viên: điều trị triệu chứng dài hạn các cơn viêm đau mãn tính
trong:
- Viêm đau xương khớp (hư khớp, thoái hóa khớp)
- Viêm khớp dạng thấp.
Glucosamin là một amino - monosaccharide, nguyên liệu để tổng hợp
proteoglycan, khi vào trong cơ thể nó kích thích tế bào ở sụn khớp tăng
tổng hợp và trùng hợp nên cấu trúc proteoglycan bình thường. Kết quả của
quá trình trùng hợp là muco - polysaccharide, thành phần cơ bản cấu tạo
nên đầu sụn khớp, Glucosam
ine sulfate đồng thời ức chế các enzym phá
hủy các tế bào sinh sụn. Glucosamine còn kích thích sinh sản mô liên kết
của xương, giảm quá trình mất calci của xương.
16
Do Glucosamin làm tăng sản xuất chất nhầy dịch khớp nên tăng độ
nhớt, tăng khả năng bôi trơn của dịch khớp. Vì thế Glucosamine không
những làm giảm triệu chứng của thoái khớp (đau, khó vận động) mà còn
ngăn chặn quá trình thoái hóa khớp, ngăn chặn bệnh tiến triển.
Đó là tác dụng vào cơ chế bệnh sinh của thoái khớp, điều trị các bệnh
thoái hóa xương khớp cả cấp và mãn tính, có đau hay không đau, cải thiện
chức năng khớp và ngăn chặn bệnh tiến triển, phục hồi cấu trúc sụn khớp.
Ở một số nước tiên tiến như Mỹ, Glucosamin không được xem là
thuốc mà chỉ là chế phẩm "hỗ trợ dinh dưỡng" (food supplement) vì được
sản xuất và phân phối không thông qua sự quản lý của FDA (tương đương
với Cục Quản lý Dược Việt Nam), có thể mua tại các siêu thị, không thông
qua đơn thuốc của bác sĩ. Hiện Glucosam
in có được dùng trong bệnh lý
viêm xương khớp nhưng chỉ với tác dụng hỗ trợ. Ở nước ta, một số thuốc
có thành phần Glucosamin đã được giới thiệu (có tên là Bosamin, Viartril-
S) nhưng chưa được bán rộng rãi.
Chỉ định
căn của người lớn, bệnh thiếu máu tán huyết do tự miễn
- Thuốc corticoid dạng viên uống thường ít khi dùng để điều t
rị thoái
hoá khớp.
- Thường dùng các thuốc dạng tiêm phóng thích chậm (depo-
corticosteroid) khi có đau khớp và có dấu hiệu viêm màng hoạt dịch thứ
phát.
- Liều lượng corticoid tuỳ thuộc từng khớp, cách tiêm, số lần tiêm.
Khoảng cách giữa các lần tiêm trong vòng 1 tuần.
Tác hại của việc lạm dụng thuốc
- Việc lạm dụng corticoid sẽ gây rất n
hiều tác hại cho người dùng.
Nhiều loại kem trị mụn chứa corticoid nếu dùng dài ngày sẽ làm mụn nổi
nhiều hơn khi ngưng thuốc hoặc gây nám da mặt.
- Dùng thuốc nhỏ mắt chứa corticoid (tưởng nhầm là thuốc rửa trong
mắt, giúp mắt sáng long lanh) sẽ dẫn đến đục thủy tinh thể, thấy cảnh vật
mờ mờ ảo ảo
- Tăng cân do giữ natri, đào thải kali gâ
y béo bệu, mặt tròn như mặt
trăng.
- Làm cao huyết áp, tăng đông máu có thể gây nghẽn mạch.
18