Chương 9
SỬ DỤNG THUỐC TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH SỐT RÉT
MỤC TIÊU
1. Trình bày được đặc tính dược lý của một số thuốc điều trị sốt rét hiện
dùng: dẫn chất sesquiterpen, chloroquin, quinin.
2. Nêu được phân loại đáp ứng điều trị, những việc cần làm khi theo dõi
điều trị và xử trí thất bại điều trị.
3. Trình bày được các phác đồ điều trị sốt rét ở Việt nam.
1. SƠ LƯỢC VỀ CHU KỲ SINH HỌC CỦA PLASMODIUM KÝ SINH Ở
NGƯỜI
Ký sinh trùng sốt rét thuộc ngành đơn bào của giới động vật, lớp bào tử
trùng (Protozoa), họ Plasmodidae, giống Plasmodium. Trên 100 loài đã được
phát hện ở người và sinh vật khác, trong đó Plasmodium gây bệnh cho người
có 4 loài là:
- Plasmodium malariae (Laveran, 1881)
- Plasmodium vivax (Grassi và Feletti, 1890)
- Plasmodium falciparum (Welch, 1897)
- Plasmodium ovale (Stephens, 1922)
Hình 9.1. Chu kỳ sinh học của các loài Plasmodium ký sinh ở người
164
Ký sinh trùng sốt rét là loại đơn bào ký sinh bắt buộc trên cơ thể sinh
vật. Phương thức sinh sản của ký sinh trùng có hai giai đoạn như sau:
- Giai đoạn phát triển và sinh sản vô tính trên cơ thể người.
- Giai đoạn sinh sản hữu tính trên cơ thể muỗi Anophenles truyền bệnh.
Ở người, ký sinh trùng sốt rét thực hiện sự nhân bản vô tính, bao gồm
chu kỳ phát triển trong tế bào nhu mô gan (giai đoạn phát triển vô tính ngoại
hồng cầu) và chu kỳ phát trong tế bào hồng cầu (giai đoạn phát triển vô tính
nội hồng cầu).
Khi muỗi Anopheles có thoa trùng đốt người, thoa trùng (sporozoit) từ
tuyến nước bọt của muỗi qua vết đốt vào máu và lưu thông khoảng 30 phút,
rồi vào gan. Trong tế bào nhu mô gan, thoa trùng phân chia nhân và phân tách
điều có ưu điểm và phần hạn chế. Tuy nhiên, điều trị bệnh sốt rét được hiệu
quả và an toàn, có thể có thể phân làm 3 nhóm thuốc sốt rét chính như sau:
2.1.1. Nhóm thuốc có tác dụng trên ký sinh trùng sốt rét giai đoạn nội hồng
cầu:
Các thuốc này có tác dụng trên thể vô tính nội hồng cầu, dùng để điều
trị cắt cơn:
- Quinin.
- Chloroquin.
- Artemisinin và dẫn chất (artesunat, artemether, dihydroartemisinin ).
- Một số chất có nguồn gốc tổng hợp hoá học khác: pyrimethamin,
proguanil, piperaquin, sulfonamid, mefloquin, halofantrin
2.1.2. Nhóm thuốc có tác dụng trên ký sinh trùng sốt rét giai đoạn ở tế bào
nhu mô gan:
Các thuốc nhóm này có tác dụng trên thể tiền hồng cầu, tác dụng trên
thể ngủ trong gan:
- Nhóm thuốc tác dụng trên thể tiền hồng cầu: dẫn chất biguanid,
pyrimethamin.
- Nhóm thuốc có tác dụng diệt thể ngủ trong gan, dùng điều trị chống
tái phát xa khi bị nhiễm P. vivax hoặc P.ovale: primaquin.
2.1.3. Nhóm thuốc có tác động trên thể hữu tính giai đoạn nội hồng cầu
Tuỳ thuộc loài Plasmodium mà một số thuốc sốt rét có tác dụng trên thể
giao bào giai đoạn nội hồng cầu.
- Nhóm thuốc có tác dụng trên giao bào của P. falciparum trong máu có
primaquin. Trong điều trị bệnh nhân sốt rét nhiễm P.falciparum ngoài dùng
loại thuốc có tác dụng cắt cơn sốt thì cần phải dùng thêm primaquin để diệt
giao bào, phòng sự lan truyền bệnh.
- Nhóm thuốc có tác dụng trên giao bào của P.vivax, P. malariae và
P.ovale như: primaquin, chloroquin, pyrimethamin.
166
2.2. MỘT SỐ THUỐC SỐT RÉT ĐANG ĐƯỢC SỬ DỤNG HIỆN NAY
thành chất dihydroartemisinin. Chất này sẽ bị đào thải chủ yếu qua thận dưới
167
dạng các sản phẩm chuyển hoá. Chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ chất mẹ là được đào
thải qua đường nước tiểu.
Thời gian bán thải trên trên chuột nhắt là 4 giờ và trên chuật cống là 1
giờ. Nghiên cứu cho thấy: thời gian bán thải trên người tình nguyện là 2,0 ±
0,5 giờ và trên bệnh nhân sốt rét là 2,1 ± 0,5 giờ.
2.2.1.2. Dược lực học
a) Tác dụng
Thuốc có hiệu lực cao điều trị bệnh sốt rét, kể cả trường hợp P.
falciparum đã kháng với chloroquin. Tác dụng diệt nhanh và mạnh các thể ký
sinh trùng vô tính nội hồng cầu với cả 4 loài P.falciparum, P.vivax, P.
malariae và P. ovale . Một số thử nghiệm in vitro cho thấy thuốc có tác dụng
yếu trên thể giao bào, có tác dụng trên giao bào non (giao bào tuổi 1&2),
nhưng không có tác dụng trên giao bào trưởng thành (giao bào tuổi 4 & 5).
Artemisinin và dẫn chất không có tác dụng trên ký sinh trùng thể ngủ trong
gan. Do thời gian bán thải của artemisinin và dẫn chất rất ngắn, vì vậy thuốc
không có tác dụng điều trị dự phòng. Mặc dù artemisinin và dẫn chất có tác
dụng cắt cơn sốt nhanh và giảm ký sinh trùng nhanh, nhưng dễ bị tái phát lại
ký sinh trùng nếu dùng các thuốc này đơn thuần.
b) Tác dụng bất lợi
Trên lâm sàng ít gặp các tai biến khi dùng artemisinin và dẫn chất ở
liều điều trị. Hầu hết các tác dụng phụ có thể gặp là các triệu chứng như : mẩn
ngứa, buồn nôn, nôn mửa, đau bụng và tiêu chảy. Những triệu chứng này
thường nhẹ và không cần can thiệp thuốc. Đau đầu và chóng mặt thường gặp
khi dùng thuốc đường uống. Nếu đặt thuốc vào trực tràng có thể gây kích ứng
niêm mạc làm đau rát hậu môn, đau bụng, tiêu chảy.
* Với phụ nữ mang thai
Một số nghiên cứu trên mô hình động vật thực nghiệm cho thấy
artemisinin và các dẫn chất gây tình trạng tiêu biến bào thai của các động vật
Bảng 9.1. Liều artesunat tiêm tĩnh mạch-liều tính theo lứa tuổi (nếu không
có cân BN)
Tuổi
Liều ngày thứ nhất
(dung dịch sau khi pha thuốc)
Liều ngày 2 - 7
(dung dịch sau khi pha thuốc)
Dưới 1 tuổi 2 ml 1 ml
1 - dưới 5 tuổi 4 ml 2 ml
5 - dưới 15 tuổi 8 ml 4 ml
12 - dưới 15 tuổi 10 ml 5 ml
169
Từ 15 tuổi trở lên 12 ml (2 lọ*) 6 ml (1 lọ)
Ghi chú: Không dùng artesunat cho phụ nữ có thai trong 3 tháng đầu, trừ
trường hợp sốt rét sốt rét ác tính.
- Tiêm bắp (nếu không tiêm được tĩnh mạch): Pha với 1 ml Natri
bicarbonat 5%, lắc kỹ cho bột artesunat tan hoàn toàn, dung dịch phải trong
suốt.
* Artesunat dạng khác:
- Dạng uống: viên 50 mg, liều tính theo cân nặng cơ thể. Tổng liều 16
mg/kg, chia 7 ngày điều trị. Ngày 1: uống 4 mg/kg. Ngày 2 đến ngày 7: uống
2 mg/kg.
Bảng 9.2: Liều tính artesunat uống theo lứa tuổi (nếu không có cân bệnh
nhân)
Tuổi Ngày 1 (viên) Ngày 2-7 (số viên/1 ngày)
Dưới 1 tuổi 1
1
/
2
1 - dưới 5 tuổi 2 1
hàng ngày điều trị 6 ngày sau.
- Artemether liều 4mg/kg/ngày x 3 ngày, phối hợp với mefloquin
15mg/kg uống 1 lần vào ngày thứ 2 hoạc thứ 3.
- Viên thuốc kết hợp artemether-lumefantrin (tên biệt dược là
Coartem ), bao gồm 20 mg artemether và 120 mg lumefantrin, dùng 6 liều tại
thời điểm 0 giờ, 8 giờ, 24 giờ, 36 giờ, 48 giờ và 60 giờ.
* Dihydroartemisinin
- Dihydroartemisinin dùng đơn thuần là 4 mg/kg ngày thứ nhất và 2
mg/kg hàng ngày điều trị 6 ngày sau.
- Dihydroartemisinin phối hợp trong thành phần viên sốt rét CV-8 hoặc
viên thuốc kết hợp dihydroartemisinin - piperaquin (Artekine, CV-Artecan,
Arterakine, Obelix), uống trong 3 ngày.
2.2.4. Chloroquin
Chloroquin là thuốc tổng hợp, dẫn chất của nhóm 4-aminoquinolein.
2.2.4.1. Dược động học
Chloroquin hấp thu nhanh và gần như hoàn toàn trong đường tiêu hoá,
thuốc đạt được các nồng độ đỉnh trong huyết tương trong khoảng thời gian 3
giờ và sau đó nhanh chóng phân bố vào các mô. Thuốc có thể tích phân bố lớn
(xấp xỉ 13.000 lit). Từ các mô này, thuốc sẽ được giải phóng dần dần dưới
dạng chất chuyển hoá. Thuốc dễ dàng ngấm qua nhau thai. Thời gian bán thải
của chloroquin là 3 -5 ngày. Thuốc được bài xuất qua nước tiểu. Tốc độ thải
trừ qua nước tiểu gia tăng nếu nước tiểu bị acid hoá.
2.2.4.2. Dược lực học
a) Tác dụng:
171
Chloroquin có tác dụng chủ yếu diệt thể vô tính giai đoạn hồng cầu đối
với các loài Plasmodium, là thuốc được dùng để cắt cơn sốt. Ngoài ra còn có
tác dụng với giao bào của P.vivax, P. malariae và P.ovale. nhưng không có
tác dụng với giai bào của P.falciparum.
b) Tác dụng bất lợi
2
1
/
4
1 - dưới 5 tuổi 1 1
1
/
2
5 - dưới 12 tuổi 2 2 1
12 – dưới 15 tuổi 3 3 1
1
/
2
172
Từ 15 tuổi trở lên 4 4 2
2.2.5. Quinin
Quinin là là alcaloid của vỏ cây quinquina. Vỏ cây quinquina có chứa
hơn 20 loại alcaloid, quan trọng nhất là quinin, quinidin, cinchonin,
cinchonidin nhưng hay dùng nhất là quinin.
2.2.5.1. Dược động học
Quinin được hấp thu nhanh và hoàn toàn qua ruột, đạt nồng độ tối đa
trong huyết tương từ 1-3 giờ và hết ở giờ thứ 8, nồng độ trong huyết tương
thường gấp 2-7 lần trong hồng cầu.
Có 80% thuốc chuyển hoá qua gan và đào thải theo mật, phân và 20%
đào thải qua nước tiểu. Không tích luỹ, thời gian bán thải từ 11 đến 18 giờ.
2.2.5.2. Dược lực học
a) Tác dụng:
Quinin có tác dụng chủ yếu trên thể vô tính nội hồng cầu, chủ yếu làm
thay đổi bào tương của ký sinh trùng, diệt ký sinh trùng nhanh, dùng điều trị
cắt cơn, đặc biệt trong trường hợp sốt rét thể ác tính. Đối với các giai đoạn
- Quinin chlohydrat: ống 500 mg, liều tiêm bắp: 30 mg/kg/24 giờ. Mỗi
đợt điều trị 7 ngày.
Bảng 9.5. Liều quinin chlohydrat tính theo lứa tuổi (nếu không có cân)
Tuổi Liều 1 lần tiêm
Dưới 1 tuổi
1
/
8
ống x 2 lần / ngày
1 - dưới 5 tuổi
1
/
4
-
1
/
2
ống x 2 lần / ngày
5 - dưới 12 tuổi
2
/
3
ống x 2 lần / ngày
12 - dưới 15 tuổi 1 ống x 2 lần / ngày
Từ 15 tuổi trở lên 1 ống x 3 lần / ngày
Chú ý: Tiêm quinin dễ gây áp xe, cần tiêm bắp sâu và bảo đảm vô trùng.
2.2.6. Mefloquin
Mefloquin là một loại thuốc có nguồn gốc tổng hợp hoá học từ dẫn chất
methanol của 4-quinolin và có liên quan về mặt hoá học với quinin.
2.2.6.1. Dược động học
tai biến ngừng hô hấp và tim sau khi dùng một liều duy nhất mefloquin ở bệnh
nhân đang dùng propanolol.
Dùng đồng thời với primaquin có thể làm tăng tần suất xuất hiện các
tác dụng phụ của mefloquin.
Đối với những người dùng mefloquin với mục đích phòng bệnh sốt rét
thì cần cảnh giác khi sử dụng các thuốc an thần, trấn kinh, giải lo âu, chống
trầm cảm trong quá trình điều trị dự phòng. Tốt hơn cả là nên tạm ngừng
dùng mefloquin.
175
Những bệnh nhân dùng các thuốc chống co giật, đặc biệt là acid
valproic và Na divalproat, cần tạm ngừng khi dùng các thuốc trị sốt rét như
mefloquin, quinin và chloroquin bởi vì sẽ có nguy cơ gia tăng co giật.
d) Chỉ định
Dùng điều trị cắt cơn sốt, đặc biệt trường hợp sốt rét P.falciparum đã
kháng với chloroquin.
Thuốc có thời gian bán thải kéo dài nên sử dụng điều trị dự phòng có
hiệu quả khả quan.
e) Chống chỉ định:
Không được dùng thuốc cho những người có tiền sử bị động kinh, có
rối loạn tâm thần, các bệnh về dẫn truyền thần kinh tim, có mẫn cảm với
quinidin và các thuộc cùng họ.
Thuốc cũng không nên dùng cho trẻ em dưới 5 kg thể trọng hoặc dưới
3 tháng tuổi vì ở những đối tượng này khả năng dung nạp thuốc còn chưa
được tốt.
Chống chỉ định dùng phối hợp với các thuốc điều trị sốt rét khác như
quinin, quinidin và halofantrin. Nếu như trước đó đã sử dụng các thuốc này thì
phải 12 giờ sau mới được bắt đầu dùng mefloquin.
Do thời gian bán thải dài của mefloquin nên hết sức thận trọng khi chỉ
định dùng quinin hoặc quinidin sau khi đã điều trị bằng mefloquin.
Thuốc cũng không nên dùng cho những người mà nghề nghiệp đòi hỏi
tác dụng ngăn chặn sự lan truyền bệnh trong cộng đồng. Sau thời gian ngắn sử
dụng thì đã xuất hiện P.falciparum đã kháng với pyrimethamin. Hiện nay
không dùng pyrimethamin đơn thuần điều trị sốt rét mà chỉ dùng phối hợp với
thuốc sốt rét khác.
b) Tác dụng bất lợi:
Dạng kết hợp pyrimethamin-sulffadoxin (Fansidar) có thể gây ra các
phản ứng nghiêm trọng ngoài da. Khi dùng pyrimethamin đơn thuần, thuốc
được dung nạp tốt và ít khi xảy ra các tai biến nguy hiểm. Khi dùng lâu dài,
thuốc có ảnh hưởng đến các tế bào máu như suy giảm dòng bạch cầu hạt, thiếu
máu dạng nguyên bào khổng lồ. Tuy nhiên có thể ngăn ngừa bằng dùng acid
folic.
* Với phụ nữ mang thai: Pyrimethamin và sulfadoxin (Fansidar) không dùng
cho phụ nữ đang mang thai
c) Chỉ định:
Điều trị cắt cơn với sốt rét P.falciparum đã kháng với chloroquin. hoặc
có thể dùng điều trị dự phòng trong các khu vực còn nhạy với loại thuốc này.
177
Tuy nhiên, hiện nay P.falciparum đã kháng cao với Fansidar nên không được
khuyên dùng. Năm 2003, Bộ Y tế Việt Nam cũng đã bỏ Fansidar ra khỏi các
loại thuốc sốt rét thiết yếu dùng trong chương trình quốc gia phòng chống sốt
rét.
d) Chống chỉ định: Trường hợp bệnh nhân mẫn cảm thuốc
2.2.8. Proguanil
2.2.8.1. Dược động học:
Proguanil chỉ có dạng thuốc uống. Nó được hấp thu nhanh chóng
nhưng khả dụng sinh học tuyệt đối còn chưa rõ. Sau khi uống 1 liều duy nhất
200 mg proguanil hydroclorid, các nồng độ đỉnh đạt được trong huyết tương
sau khoảng 2-3 giờ. Proguanil được chuyển hoá tại gan, nồng độ các chất
chuyển hoá của nó là cycloguanil ( CG ) và 4-clorophenylbiguanid ( CPB ) đạt
được trong huyết tương tuần tự là 24% và 6% so với chất mẹ. Các nồng độ
phân bố vào khoảng 3-4 lít/ kg. Primaquin là một loại thuốc có độ thanh thải
thấp (24,2-7,4 lít/ h) và được thải trừ chủ yếu bằng con đường chuyển hoá.
Thuốc được thải trừ gần như hoàn toàn trong 24 giờ đầu, thời gian bán thải
trong huyết tương vào khoảng 7 giờ. Chỉ có khoảng 1% liều uống được thải
trừ dưới dạng không thay đổi qua thận sau 24 giờ. Chất chuyển hoá chính là
carboxyprimaquin được tìm thấy ở trong máu và một chất khác nữa là 6-
methoxyprimaquin được tìm thấy trong nước tiểu với hàm lượng rất thấp. Chất
carboxyprimaquin có thể tích tụ trong huyết tương với các hàm lượng cao hơn
nhiều so với chất mẹ vì nó được đào thải chậm ra khỏi cơ thể.
2.2.9.2. Dược lực học
a) Tác dụng
Cơ chế tác dụng hiện còn chưa được biết rõ. Có thể các dẫn chất trung
gian quinolin-quinon của primaquin là các hợp chất có tác dụng vận chuyển
điện tử trong các quá trình oxy hoá khử của tế bào đã gây ra sự tán huyết và
sản sinh ra methemoglobin.
Tác dụng mạnh trên các thể hữu tính của tất cả các loài Plasmodium, do
đó có tác dụng tốt đối với việc ngăn chặn sự lan truyền bệnh. Đồng thời có tác
dụng trên thể ngủ trong gan của ký sinh trùng sốt rét P. vivax và P.ovale.
b) Tác dụng bất lợi
Primaquin là một loại thuốc có độ dung nạp tốt ở liều điều trị 15 mg/
ngày và kéo dài trong 14 ngày. Tuy nhiên, nếu uống thuốc khi đói thì thường
có những biểu hiện như đau bụng, đau vùng thượng vị. Các triệu chứng về
179
đường tiêu hoá thường xảy ra khi dùng liều cao: buồn nôn, nôn mửa. Hiếm
gặp các biểu hiện nặng hơn như tụt huyết áp và rối loạn nhịp tim.
Tác dụng gây độc chủ yếu của primaquin là gây thiếu máu tán huyết
thường gặp ở những người bị thiếu hụt enzym glucose-6-phosphat
dehydrogenase (G6PD). Cần biết rằng trên thế giới có tới 200-300 triệu người
bị thiếu hụt enzym này, đó là điều cần lưu ý khi điều trị bằng primaquin. Tai
biến trên thường xảy ra sau khi dùng thuốc 1-3 ngày. Một khi thấy nước tiểu
(nếu không có cân)
Tuổi P. falciparum điều trị 1 lần P.vivax điều trị 10 ngày
3 - dưới 5 tuổi 1 viên uống 1 lần 1 viên / ngày x 10 ngày
5 - dưới 12 tuổi 2 viên uống 1 lần 2 viên /ngày x 10 ngày
12 - dưới 15 tuổi 3 viên uống 1 lần 3 viên /ngày x 10 ngày
Từ 15 tuổi trở lên 4 viên uống 1 lần 4 viên / ngày x 10 ngày
Chú ý: Không dùng primaquin cho trẻ em dưới 3 tuổi và phụ nữ có thai, người có
bệnh gan và người thiếu men G6PD.
3. ĐIỀU TRỊ BỆNH SỐT RÉT
3.1. Phân loại đáp ứng điều trị
Các tiêu chuẩn để phân loại đáp ứng điều trị theo WHO- 2005 như sau:
* Thất bại điều trị sớm (Early Treatment Failure -ETF)
Được coi là thất bại điều trị sớm nếu bệnh nhân xuất hiện một trong
những điểm sau:
- Có những dấu hiệu nguy hiểm hoặc sốt rét nặng vào Ngày 1, Ngày 2
hoặc Ngày 3 và có KST trong máu.
- Mật độ KST trong máu vào Ngày 2 cao hơn Ngày 0.
- Có KST ở Ngày 3 và nhiệt độ nách ≥ 37,5
0
C.
- Mật độ KST trong máu Ngày 3 ≥ 25% so với Ngày 0.
* Thất bại lâm sàng muộn (Late Clinical Failure -LCF):
Thất bại điều trị muộn nếu bệnh nhân xuất hiện một trong những điểm
sau:
- Có những dấu hiệu nguy hiểm hoặc sốt rét nặng sau Ngày 3 và trước
đó không gặp bất kỳ tiêu chuẩn nào về điều trị thất bại sớm.
- Có KST trong máu và nhiệt độ nách ≥ 37,5
0
C ở bất cứ ngày nào từ
ngày thứ 4 đến ngày 28.
không sốt thì không phải là điều trị thất bại, trường hợp này cần dùng
primaquin để chống lây lan.
3.4. Phác đồ điều trị cho từng thể bệnh sốt rét
Mỗi loại thuốc sốt rét có tác dụng trên KSTSR khác nhau, đồng thời
cũng có các tác dụng ngoài ý muốn. Do vậy khi chỉ định điều trị cho mỗi bệnh
nhân sốt rét, cần dựa vào kết quả xét nghiệm và thể trạng của người bệnh để
lựa chọn loại thuốc sốt rét có hiệu lực và an toàn. Để bảo đảm hiệu quả tốt,
183
cần hướng dẫn và giám sát bệnh nhân dùng thuốc sốt rét đủ liều trong ngày và
đủ số ngày điều trị.
3.4.1. Điều trị sốt rét thể thông thường (sốt rét chưa biến chứng-
uncomplicated malaria)
Hướng dẫn lựa chọn thuốc điều trị các thể sốt rét được trình bày trong
bảng 9.7.
Bảng 9.7. Lựa chọn thuốc sốt rét dùng cho từng thể bệnh sốt rét
Nhóm bệnh
nhân
Nghi sốt rét
(SRLS)
Sốt rét do
P.falciparum
Sốt rét do
P.vivax
Sốt rét nhiễm
phối hợp
3 tuổi trở xuống
Artesunat hoặc
Chloroquin
Artesunat Chloroquin Artesunat
Trên 3 tuổi
P.falciparum
Hiện nay Plasmodium falciparum đã kháng cao với chloroquin và có tỷ
lệ kháng thấp với mefloquin, Theo hướng dẫn của WHO (2006) & Bộ Y tế
184
Việt Nam (2007) khuyến cáo sử dụng thuốc sốt rét phối hợp để điều trị sốt rét
P.falciparum chưa biến chứng.
3.4.2. Điều trị sốt rét P. falciparum kháng thuốc
Ký sinh trùng sốt rét kháng thuốc là khả năng của một loài ký sinh
trùng có thể sống sót và phát triển, mặc dù bệnh nhân được điều trị và hấp thụ
một liều lượng thuốc bằng hoặc cao hơn liều thông thường (WHO, 1981).
Việt Nam nằm trong vùng P.falciparum kháng thuốc, thông thường sau
5 năm sẽ có điều chỉnh chính sách thuốc sốt rét nhằm lựa chọn phác đồ tối ưu
điều trị chống kháng và phù hợp với điều kiện nguồn lực thực tế của đất nước.
3.4.2.1. Các phác đồ thuốc phối hợp được dùng ở Việt Nam
* Dihydroartemisinin - piperaquin phosphat (Hướng dẫn Bộ Y tế Việt Nam-
2007)
Mỗi viên có chứa 40 mg dihydroartemisinin + 320 mg piperaquin
phosphat (tên biệt dược: Artekin, Arterakine, Obelix). Liệu trình điều trị 3
ngày, liều lượng như trong bảng 9.8.
Bảng 9.8: Liều lượng dihydroartemisinin - piperaquin tính theo lứa tuổi
Tuổi
Ngày 1 Ngày 2 Ngày 3
Giờ đầu Sau 8 giờ Sau 24 giờ Sau 48 giờ
Dưới 3 tuổi
1
/
2
viên
1
/
* Viên sốt rét CV-8 (Hướng dẫn Bộ Y tế Việt Nam- 2003 & 2007)
Mỗi viên CV-8 có 4 thành phần gồm: 32 mg dihydroartemisinin + 320
mg piperaquin phosphat + 90 mg trimethoprim + 5 mg primaquin phosphat.
Liệu trình điều trị 3 ngày, liều lượng trong bảng 9.9.
Bảng 9.9. Liều lượng thuốc phối hợp CV-8 tính theo lứa tuổi
Tuổi
Ngày 1 (viên)
Ngày 2 (viên) Ngày 3 (viên)
Giờ 0 sau 8 giờ
185
3 - dưới 7 tuổi
1
/
2
1
/
2
1
/
2
1
/
2
7 - dưới 12 tuổi 1 1 1 1
12 - dưới 15 tuổi 1
1
/
2
1
1
(viên)
Mefloqiun
(viên)
Dưới 1 tuổi 1
1
/
2
1
/
2
1
/
4
1 - dưới 5 tuổi 2 1 1
1
/
2
5 - dưới 12 tuổi 3 2 2 1
12 - dưới 15 tuổi 4 2 2 2
Từ 15 tuổi trở lên 4 2 2 3
3.4.2.2. Một số phác đồ thuốc phối hợp được WHO khuyên cáo sử dụng
* Artemether - lumefantrine
Mỗi viên có chứa 20 mg artemether + 120 mg lumefantrine (tên biệt
dược: Coartem). Liệu trình điều trị 3 ngày, liều lượng như trong bảng 9. 11.
186
Bảng 9.11: Liều lượng artemether-lumefantrine tính theo kg trọng lượng
bệnh nhân
Trọng lượng
(kg)
Số viên dùng tại các thời điểm
trong 7 ngày
- Phối hợp với artesunat hoặc mefloquin chung những khu vực có
P.falciparum đa kháng thuốc (multiresistant).
Điều trị dự phòng: uống 1,5 mg/kg hàng ngày, nhưng không dùng
cho trẻ dưới 8 tuổi và trọng lượng dưới 25 kg.
• Tetracyclin: có thể dùng phối hợp với một số thuốc sốt rét khác để tăng
hiệu lực điều trị bệnh sốt rét. Tuy nhiên, khi dùng cần chú ý loại trừ những
bệnh nhân thuộc diện chống chỉ định thuốc như: trẻ em dưới 8 tuổi; người
có mẫn cảm với tetracyclin; phụ nữ có thai và các bà mẹ đang cho con bú;
người có bệnh thận, bệnh gan
Quinin 8 mg base/kg, uống 3 lần hàng ngày, uống trong 3 ngày
Tetracyclin 250 mg/kg , uống 4 lần hàng ngày, uống liền 5 ngày
• Clindamycin: có thể dùng phối hợp với một số thuốc sốt rét khác để tăng
hiệu lực điều trị bệnh sốt rét. Tuy nhiên, khi dùng cần chú ý loại trừ những
bệnh nhân thuộc diện chống chỉ định thuốc như: người có mẫn cảm với
clindamycin hoặc lincomycin, có tiền sử dạ dày, viêm ruột kết, suy thận,
bệnh gan
Quinin 8 mg base/kg, uống 3 lần trong ngày, uống trong 3 ngày
Clindamycin 300 mg, uống 4 lần hàng hàng, uống trong 5 ngày
3.4.3. Điều trị sốt rét thể ác tính (severe malaria)
3.4.3.1. Quy định điều trị bệnh sốt rét thể ác tính tại thôn buôn và xã
a) Y tế thôn buôn:
Theo dõi bệnh nhân có một trong các dấu hiệu dự báo sốt rét thể ác
tính, cần cho uống ngay thuốc artesunat hoặc dihydroartemisinin - piperaquin
và đưa ngay bệnh nhân lên trạm y tế xã.
188