Khảo sát thực trạng bệnh truyền nhiễm tại tỉnh quảng ninh giai đoạn 20072011 - Pdf 29


BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI NGUYỄN THỊ OANH KHẢO SÁT THỰC TRẠNG
BỆNH TRUYỀN NHIỄM TẠI TỈNH QUẢNG NINH
GIAI ĐOẠN 2007 - 2011

LUẬN VĂN DƯỢC SỸ CHUYÊN KHOA CẤP I
Thời gian thực hiện: Từ 30/8/2012 – 30/12/2012a

HÀ NỘI - 2013
LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, xin cảm ơn TS Nguyễn Thị Thanh Hương – Giảng viên Bộ
môn Quản lý và Kinh tế Dược, Trường Đại học Dược Hà Nội đã nhiệt tình hướng
dẫn và chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này.
Cảm ơn các thầy cô giáo bộ môn, Ban giám hiệu, phòng Đào tạo sau đại
học trường Đại học Dược Hà Nội đã trực tiếp giảng dạy và chỉ bảo chúng tôi
trong quá trình học tập tại trường.
Cảm ơn Ban giám đốc, khoa Kiểm soát các bệnh truyền nhiễm & vắc xin,
các khoa/ phòng của Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Quảng Ninh đã giúp đỡ, tạo
mọi điều kiện thuận lợi để cho tôi thực hiện đề tài này. Đặc biệt cảm ơn Bác sỹ
Ninh Văn Chủ – Giám đốc Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Quảng Ninh, Bác sỹ
Vũ Quyết Thắng – Phó Giám đốc Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Quảng Ninh đã
có những ý kiến đóng góp quý báu cho luận văn của tôi.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, các đồng nghiệp và các
nhà quản lý đã chia sẻ và tạo mọi điều kiện cho tôi thực hiện được đề tài.
Quảng Ninh, ngày tháng năm 2013
Học viên Nguyễn Thị Oanh


Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1. Đối tượng nghiên cứu: bệnh truyền nhiễm 24

2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu: 24

2.3. Phương pháp nghiên cứu: 24

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: 24

2.3.2 .Chỉ tiêu nghiên cứu: 24

2.3.3. Xử lý số liệu: 25

2.3.4. Hạn chế trong nghiên cứu 25

2.3.5. Các biện pháp khắc phục để tránh những hạn chế này: 25

Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26

3.1 Đặc điểm mạng lưới giám sát, báo cáo bệnh truyền nhiễm tỉnh
Quảng Ninh 26

3.2. Dịch tễ học bệnh truyền nhiễm tại tỉnh Quảng Ninh giai đoạn
2007-2011. 27
3.2.1 Tình hình mắc các bệnh truyền nhiễm tại tỉnh Quảng Ninh giai


KẾT LUẬN 57

Ý KIẾN ĐỀ XUẤT 58

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC BẢNG

TT
Tên bảng
Trang
1.1
T-2011
21
3.2
 - 2011
28
3.3
 ca     qua  da, ni 
29
3.4

30
3.5
 ca     qua      Ninh
32
3.6
 
33

50
3.17

52

DANH MỤC HÌNH

TT
Tên hình
Trang
3.1
 hong tin, 
26
3.2
   ca     qua  da  
31
3.3
   ca     qua    theo 

34
3.4
   ca     qua    theo 

37
3.5
 trong phh l
39
3.6
Thi b b
40

Thế giới trong những năm đầu của thế kỷ 21, đi kèm với thảm
họa thiên nhiên khắc nghiệt và bất thường, sự biến đổi của khí hậu, hiện
tượng nóng lên toàn cầu gây nên các thảm họa thiên nhiên như lũ lụt, hạn
hán, động đất, sóng thần sự gia tăng tốc độ đô thị hóa, tăng dân số dẫn
tới môi trường bị ô nhiễm, tạo cơ hội thuận lợi để bệnh truyền nhiễm phát
sinh và bùng phát thành dịch. Theo cảnh báo của Tổ chức Y tế thế giới
(WHO) tại Hội thảo ngày 14 tháng 11 năm 2010 về biến đổi khí hậu và các
bệnh mới nổi đã kết luận: Thế giới hiện đang phải đối mặt với 6 loại bệnh
dịch vô cùng nguy hiểm và diễn biến khó lường, là các bệnh Dịch SARS,
cúm A/H5N1, bệnh sốt rét, bệnh tả, bệnh lao và HIV/AIDS
Việt Nam là quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á, chịu ảnh
hưởng rất lớn của khí hậu nhiệt đới, gió mùa, là một trong những nước
đang phát triển có mối giao thương với nhiều quốc gia và khu vực, nên chịu
áp lực không nhỏ về sự xâm nhập của dịch bệnh như: SARS, cúm A/H5N1,
HIV/AIDS, tả, sốt rét, sốt xuất huyết Theo thống kê của Bộ Y tế tại Hội
nghị sơ kết công tác phòng chống dịch bệnh 6 tháng đầu năm 2010: Bệnh
sốt xuất huyết , trung bình mỗi năm có từ 25.000 - 76.000 ca mắc và 45 -
111 ca tử vong do sốt xuất huyết trên cả nước.
Quảng Ninh có biên giới quốc gia và hải phận giáp giới nước Cộng hoà
nhân dân Trung Hoa. Trên đất liền, phía bắc của tỉnh (có các huyện Bình
Liêu, Hải Hà và Thành phố Móng Cái) giáp huyện Phòng Thành và thị trấn
Đông Hưng, tỉnh Quảng Tây với 132,8 km đường biên giới; phía đông là vịnh
Bắc Bộ; phía tây giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, Hải Dương; phía nam
giáp Hải Phòng. Bờ biển dài 250 km, là nơi trung chuyển của nhiều tuyến
giao thông. 2
Hệ thống giao thông tỉnh Quảng Ninh bao gồm: giao thông đường bộ,
đường thuỷ nội địa, giao thông đường biển, giao thông đường sắt và các

truyền nhiễm nguy hiểm, duy trì thành quả thanh toán bại liệt từ năm 2000.
Không có trẻ mắc bệnh bạch hầu từ năm 1994. Vắc xin là chế phẩm sinh
học - từ khâu sản xuất, lưu trữ, vận chuyển cho đến khi sử dụng phải được
bảo quản trong điều kiện nhiệt độ tốt nhất, thích hợp đối với từng loại vắc
xin. Nếu việc bảo quản và vận chuyển vắc-xin không đúng thì hiệu quả bảo
vệ phòng bệnh sẽ bị giảm, thậm chí gây tai biến. Vì vậy, việc bảo quản, vận
chuyển vắc xin phải tuân theo đúng các quy định đã ban hành của Bộ Y tế
và Dự án Tiêm chủng mở rộng.
Việc bảo quản vắc xin trong Tiêm chủng mở rộng được thực hiện theo
“Quy định về sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế trong dự phòng và điều trị”
của Bộ Y tế ban hành theo Quyết định số 23/QĐ-BYT ngày 7/7/2008 và
hướng dẫn của Dự án Tiêm chủng mở rộng.
Các loại vắc xin cần được bảo quản ở nhiệt độ thích hợp và phù hợp
với từng tuyến trong kho cũng như khi vận chuyển. Trong quá trình bảo
quản và vận chuyển, vắc xin cần được theo dõi nhiệt độ để đảm bảo chất
lượng.
Mỗi loại vắc xin đều có một khoảng nhiệt độ bảo quản thích hợp. Nếu
nhiệt độ bảo quản vắc xin nằm ngoài khoảng nhiệt độ bảo quản thì cần phải
điều chỉnh lại nhiệt độ hoặc chuyển vắc xin tới bảo quản ở nơi có nhiệt độ
bảo quản thích hợp.
Thời gian bảo quản vắc-xin: Để đảm bảo luôn sẵn có vắc xin cho các
đối tượng tiêm chủng trong chương trình tiêm chủng mở rộng, đồng thời
đảm bảo không bảo quản quá nhiều vắc xin, thời gian bảo quản các vắc xin
trong tiêm chủng mở rộng tại các tuyến phải thực hiện đúng “Quy định về
sử dụng vắc-xin và sinh phẩm y tế trong dự phòng và điều trị”. Tại kho vắc 4
xin tuyến Quốc gia, thời gian bảo quản vắc-xin là 6 - 9 tháng; kho tuyến
khu vực là 3 - 6 tháng; kho tuyến tỉnh tối đa 3 tháng; kho tuyến huyện là 1 -

5
nhiệt độ tự động, chỉ thị đông băng, chỉ thị nhiệt độ lọ vắc xin Tùy theo
loại thiết bị theo dõi nhiệt độ mà được sử dụng thích hợp với thiết bị lạnh
hoặc loại hình vận chuyển tương ứng.
Chỉ thị nhiệt độ là nhãn được dán lên lọ vắc xin có thể thay đổi màu
khi lọ vắc xin tiếp xúc với nhiệt độ cao quá thời gian cho phép trong quá
trình bảo quản và vận chuyển. Trong tiêm chủng mở rộng, vắc xin 5 trong
1 có gắn VVM trên lọ vắc xin. VVM là 1 hình vuông nằm bên trong hình
tròn. Khi lọ vắc xin tiếp xúc với nhiệt độ cao, hình vuông sẽ chuyển màu
sẫm. Sự thay đổi màu của VVM giúp cho cán bộ y tế biết lọ vắc xin nào có
thể sử dụng tốt và lọ vắc xin nào cần ưu tiên sử dụng trước hoặc lọ nào
không nên sử dụng.
Kiểm tra nhiệt độ bảo quản vắc-xin: Tất cả các thiết bị bảo quản vắc xin
hàng ngày đều được kiểm tra nhiệt độ lần đầu vào buổi sáng và lần 2 vào
buổi chiều trước khi về. Việc kiểm tra nhiệt độ sáng và chiều được thực
hiện liên tục cả ngày làm việc cũng như ngày nghỉ. Nếu nhiệt độ trong
khoảng +2oC đến +8oC thì không cần điều chỉnh nhiệt độ.
Vấn đề đặt ra là: Thực trạng bệnh truyền nhiễm gây dịch tại Quảng
Ninh trong những năm gần đây diễn biến ra sao? Các hoạt động phòng
chống dịch đã được triển khai như thế nào, những khó khăn, thách thức và
giải pháp phù hợp với điều kiện của Quảng Ninh.
Để trả lời những vấn đề trên giúp cho công tác kiểm soát bệnh truyền
nhiễm, phòng chống dịch tích cực và chủ động; hạn chế khả năng xảy ra
dịch lớn trên địa bàn tỉnh, giảm các biến chứng nặng và tử vong do dịch,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài về “Khảo sát dịch tễ học bệnh
truyền nhiễm tại tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2007-2011 và cơ số phòng
chống dịch”, với các mục tiêu cụ thể sau:
Mục tiêu của đề tài:
Hầu hết các bệnh truyền nhiễm lây theo đường da, niêm mạc đều do
da và niêm mạc bị sây sát, bị thương, tiếp xúc trực tiếp với mầm bệnh.
Phòng bệnh truyền nhiễm lây theo đường da và niêm mạc bằng các
biện pháp như: tiêm vắc xin phòng bệnh cho người (bệnh uốn ván), cho gia
súc (bệnh dại). Thực hiện đúng chế độ kiểm dịch động vật. Các động vật
ốm không được giết mổ thịt, nếu động vật ốm chết phải được chôn sâu, khử 8
trùng tẩy uế đúng quy định. Công nhân chế biến sản phẩm từ động vật cần
thực hiện đúng quy định bảo vệ cá nhân trong quá trình sản xuất, định kỳ
kiểm tra sức khỏe, các tổn thương da, niêm mạc cần được theo dõi điều trị
tốt; Khử trùng tẩy uế các chất thải của người và động vật ốm. Tổ chức diệt
chuột, tổng vệ sinh doanh trại, khai thông cống rãnh, nhắc nhở bộ đội giữ
gìn da và niêm mạc không để tổn thương, tuân thủ các quy định bảo vệ
trong lao động, huấn luyện quân sự tránh để tai nạn xảy ra. Khi có tổn
thương da và niêm mạc cần cắt lọc, rửa sát trùng vết thương ngay và điều
trị kịp thời, thích hợp. Khi phát hiện người nghi mắc bệnh, cần gửi ngay lên
tuyến trên để được xác minh và điều trị kịp thời. Nếu phải tiếp xúc với
nguồn bệnh, cần thực hiện triệt để chế độ cách ly như đeo găng, mặc áo
quần bảo hộ Thường xuyên tổ chức nói chuyện tuyên truyền cho bộ đội
biết cách phòng chống bệnh truyền nhiễm lây theo đường da và niêm
mạc.[2]
1.1.2.2.Bệnh lây theo đường hô hấp:
Nhóm bệnh truyền nhiễm đường hô hấp hiện nay còn khá phổ biến ở
các nước đang phát triển. Tác nhân gây bệnh thường là: vi khuẩn (bạch
hầu, ho gà, não mô cầu, lao….), virus cúm, sởi, quai bị, thủy đậu, đậu
mùa….)
Phần lớn các tác nhân này đều đề kháng yếu với ngoại cảnh, dễ bị tiêu
diệt ở điều kiện bình thường, trong đó virus sởi có sức đề kháng kém nhất,

Người bệnh có triệu chứng hôn mê hay co giật, kích thích, bứt rứt.
Tác nhân truyền bệnh là muỗi Culicinea tritaeniorhyunchus, thường có
ở nông thôn.
Sốt rét
Bệnh sốt rét là một bệnh truyền nhiễm lưu hành ở địa phương (có thể
phát thành dịch) do kí sinh trùng sốt rét Plasmodium gây nên. Bệnh truyền 10

nhiễm theo đường máu, chủ yếu do muỗi Anophen (côn trùng trung gian)
truyền bệnh, biểu hiện điển hình bằng những cơn sốt. Bệnh phát triển có
chu kì: sơ phát, tái phát và có hạn định nếu không bị tái nhiễm. Bệnh gây
miễn dịch đặc hiệu nhưng không tuyệt đối .
Sốt vàng da:
Là chứng bệnh sốt do siêu vi trùng thuộc họ Flaviviridae gây ra. Đây
là một chứng bệnh sốt xuất huyết quan trọng tại châu Phi và Nam Mỹ mặc
dù hiện nay đã có vắc xin hiệu nghiệm.
Tổ chức Y tế thế giới ước lượng trong năm 2001 có 200.000 người bị
sốt vàng da và 30.000 người tử vong.
Bệnh sốt thung lũng Rift do virut RVF gây ra:
Virus RVF gây bệnh cho các động vật nuôi như trâu, bò, cừu, dê
virus có thể tồn tại tự nhiên trong trứng muỗi một thời gian dài, trong điều
kiện khô có thể tồn tại đến vài năm. Khi gặp điều kiện thuận lợi, trứng
muỗi nở ra, lây lan virus cho động vật và người.
Khi bệnh nhân có xuất huyết thì tỉ lệ tử vong cao, có thể lên đến 50%.
Những triệu chứng trên thường xuất hiện sau thời gian nhiễm bệnh khoảng
10 ngày.
Bệnh truyền nhiễm cũng có thể chia làm 3 nhóm như sau:
Nhóm A: Gồm các bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm có khả năng

không nhanh.
Bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm C gồm bệnh do Cờ-la-my-đi-a
(Chlamydia); bệnh giang mai, các bệnh do giun, bệnh lậu, bệnh mắt hột,
bệnh do nấm Can-đi-đa-an-bi-căng (Candida albicans), bệnh Nô-ca-đi-a
(Nocardia), bệnh phong, bệnh do vi rút Xi-tô-mê-ga-lô (Cytomegalo), bệnh
do vi rút Héc-pét (Herpes), bệnh sán dây, bệnh sán lá gan, bệnh sán lá phổi,
bệnh sán lá ruột, bệnh sốt mò, bệnh sốt do Rích-két-si-a (Rickettsia), bệnh
sốt xuất huyết do vi rút Han-ta (Hanta), bệnh do Tờ-ri-cô-mô-nát
(Trichomonas), bệnh viêm da mụn mủ truyền nhiễm, bệnh viêm họng, viêm
miệng, viêm tim do vi rút Cốc-xác-ki (Coxsakie), bệnh viêm ruột do Giác-đi-a 12

(Giardia), bệnh viêm ruột do Vi-bờ-ri-ô Pa-ra-hê-mô-ly-ti-cút (Vibrio
Parahaemolyticus) và các bệnh truyền nhiễm khác [13].
1.2. Tình hình bệnh truyền nhiễm và những vụ dịch trên thế giới
và Việt Nam trong thời gian 2007-2011.
1.2.1. Tình hình bệnh truyền nhiễm và những vụ dịch trên thế giới
Theo báo cáo thường niên của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), các bệnh
truyền nhiễm đang lây lan nhanh trên toàn cầu. Báo cáo cho biết với
khoảng 2,1 tỷ lượt hành khách đi máy bay mỗi năm, thế giới đang đối mặt
với nguy cơ bùng phát một dịch bệnh khác giống như AIDS, SARS hay sốt
Ebola.
Trong báo cáo có tên gọi “Vì một tương lai an toàn hơn”, Tổ chức Y
tế thế giới (WHO) cho biết các bệnh mới xuất hiện hàng năm đang ở mức
“chưa từng có trong lịch sử”. Từ những năm 1970 đến nay, đã có 39 bệnh
mới xuất hiện, và chỉ riêng trong 5 năm qua, Tổ chức Y tế thế giới (WHO)
phát hiện có 1.100 dịch bệnh khác nhau xuất hiện trên thế giới, trong đó có
dịch tả, bại liệt và cúm gia cầm. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cũng kêu gọi

Ngày 11/6/ 2009, tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã chính thức công bố
Đại dịch cúm toàn cầu và nâng cấp báo động lên cấp 6.
Tính đến ngày 12 tháng 6 năm 2009 theo Tổ chức Y tế Thế giới, đã có
29.669 trường hợp được xác định nhiễm cúm A/H1N1 tại 74 quốc gia,
trong đó tử vong là 145 ca gồm Mê-hi-cô:108 người, Mỹ: 27 người,
Canada: 4 người, Chile: 02 người, Cốt-ta-ri-ca: 01 người và Cộng hòa Đô-
mi-ni-ca: 01 người, Guatemala: 01 người và Colombia: 01 người [5], [7].
Virus cúm A(H1N1) đại dịch xuất hiện ở các nước đang ở mức độ
thấp. Hiện nay đã ghi nhận một số trường hợp virus cúm A(H1N1) tái tổ
hợp và virus S-OtrH
3
N
2
có nguồn gốc từ lợn. Các cuộc điều tra, nghiên 14

cứu đang được tiến hành để đánh giá nguy cơ lây truyền từ người sang
người.
Theo thông báo của Trung tâm Dự phòng và Kiểm soát bệnh tật Hoa
Kỳ ngày 23/11/2011tại bang Iowa (Mỹ) đã phát hiện 3 trường hợp nhiễm
chủng virút cúm mới được xác định do tái tổ hợp từ chủng cúm A (H1N1)
đại dịch năm 2009 và cúm A (H3N2) có nguồn gốc từ lợn; các trường hợp
này không có tiền sử tiếp xúc với lợn nên cảnh báo nguy cơ chủng virus
mới có thể lây truyền từ người sang người.
Bệnh dịch hạch: Theo thông báo được đăng trên website chính thức
của Sở Y tế tỉnh Thanh Hải - Trung Quốc ghi nhận nạn nhân đầu tiên ngày
2/8/ 2009 của vụ dịch là một người chăn gia súc 32 tuổi. Cuối ngày 2/8,
một bệnh nhân nữa (anh Danzin 37 tuổi đã tử vong sau gần hai ngày nhập

lên gấp hơn 4 lần vào năm 1995. Trong những năm gần đây, bệnh sốt xuất
huyết đã trở thành mối quan ngại lớn đối với sức khỏe cộng đồng trên bình
diện quốc tế. Hàng năm, thế giới có khoảng 2,5 tỷ người hiện đang sống
trong vùng có dịch lưu hành[5]. Tỉ lệ mắc bệnh trên toàn thế giới gia tăng
mạnh trong những năm gần đây. Bệnh sốt xuất huyết hiện đã trở thành dịch
trên 100 Quốc gia Châu Phi, Châu Mỹ, khu vực phía Đông Địa Trung Hải,
Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ước
tính mỗi năm có khoảng 50 đến 100 triệu người mắc bệnh. Không chỉ có số
trường hợp mắc bệnh gia tăng mà khả năng nhiễm nhiều loại virus khác
nhau cũng ngày càng đáng báo động:
Tỉ lệ mắc bệnh ở những đối tượng nhạy cảm chiếm khoảng từ 40-50%
nhưng cũng có thể cao đến 80-90%. 16

Mỗi năm có khoảng 500.000 trường hợp Sốt xuất huyết Đăng-gơ cần
nhập viện, phần lớn trong số đó là trẻ em dưới 15 tuổi. Tỉ lệ tử vong chung
vào khoảng 2,5%.
Nếu không được điều trị, tỉ lệ tử vong của Sốt xuất huyết Đăng-gơ có thể vượt
quá 20%. Với phương thức điều trị tích cực và hiện đại ngày nay, tỉ lệ tử vong có thể
giảm < 1% [4] [5].

Bệnh dại
Bệnh dại tái xuất hiện ở một số nước, đặc biệt là Châu Á: Cứ 15 phút
có 1 người châu Á tử vong vì bệnh dại: 40% số này là trẻ em dưới 15 tuổi.
Đó là tuyên bố của bác sĩ FX-Mec-Lin tại Hội nghị quốc tế về bệnh dại họp ở
Băng Cốc (Thái Lan). Bác sĩ Mec-Lin còn cho biết cứ mỗi giờ có 800 người
châu Á nghi bị súc vật dại cắn và phải đi tiêm vắc xin [13].
Bệnh dại vẫn còn tồn tại khắp thế giới, tuỳ từng vùng mang tính chất

từ tháng 8 năm 2008, sau 6 tháng đã ghi nhận 94.443 trường hợp mắc,
trong đó có 4.127 trường hợp tử vong. Tỷ lệ chết trên mắc chiếm 4,4%.
Bệnh lây lan qua đường nước thải chưa được xử lý và nước uống bị nhiễm
bẩn.
Trong năm 2011 dịch tả tiếp tục xảy ra tại Haiti và Cônggô. Tại Haiti
tích luỹ từ đầu vụ dịch (tháng 10/2010) đến ngày 20/6/2011 đã ghi nhận
363.117 trường hợp mắc bệnh tả, trong đó có 5.506 trường hợp tử vong.
Tại Cônggô dịch bắt đầu xuất hện từ tháng 3/2011 và bắt đầu tăng lên sau 3
- 4 tuần chủ yếu tại tỉnh: Bandundu, Equateur, Kinshasa, Orientale.Tính
đến ngày 20/7/2011 Công gô ghi nhận tổng số 3.896 trường hợp mắc bệnh
tả, trong đó 265 trường hợp tử vong.
Nhiễm khuẩn Ecoli
Hội chứng tán huyết, tăng urê máu (HUS) và nhiễm khuẩn Ecoli
nhóm Enterohemorrhagic (EHEC) tăng cao ở Đức và một số nước Châu 18

Âu, từ đầu năm 2011 đến ngày 29/6/2011 ghi nhận 4.050 trường hợp
HUS/EHEC, trong đó có 49 trường hợp tử vong xuất hiện tại 16 nước,
riêng tại Đức ghi nhận số mắc và tử vong cao nhất (3.929/47).
2.2.2 Một số vụ dịch đã xảy ra tại Việt Nam giai đoạn 2007-2011
Từ 2007 đến nay tình hình dịch bệnh cũng diễn biến khá phức tạp, một số
dịch bệnh lưu hành thường xuyên như sốt xuất huyết, cúm mùa, sốt phát ban
(Ru-ben-la), bệnh dại…một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm có dấu hiệu
tái bùng pháp trở lại như: bệnh than, bệnh tả… một số dịch bệnh mới xuất
hiện như: cúm A/H5N1, cúm A/H1N1, bệnh tay chân miệng …cụ thể là:
Tiêu chảy cấp nguy hiểm do tả: Từ ngày tháng 7 đến hết tháng
10/2007 ghi nhận 111 ca nghi ngờ, trong đó 33 ca xác định (xét nghiệm
dương tính với phẩy khuẩn tả). Sau 2 đợt dịch tả năm 2007, quý I-II năm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status