Khảo sát tình hình chất lượng thuốc lưu hành trên địa bàn tỉnh vĩnh phúc - Pdf 29

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
………………………….
PHẠM ĐÌNH THẢO KHẢO SÁT TÌNH HÌNH CHẤT LƯỢNG THUỐC

LƯU HÀNH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC
GIAI ĐOẠN 2006 - 2010

LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I HÀ NỘI - 2013 BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
………………………….
hưởng trực tiếp đến sức khỏe người sử dụng. Chính vì vậy, việc bảo đảm chất
lượng thuốc trước khi đến tay người bệnh là điều kiện bắt buộc để phát huy hiệu
quả trong điều trị bệnh và là mối quan tâm hàng đầu của các cơ quan quản lý về
thuốc.
Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa
Việt Nam được Quốc hội thông qua năm 1998 đã xác định “Thuốc đưa vào lưu
thông phân phối và sử dụng phải đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng và an toàn cho
người tiêu dùng. Nghiêm cấm việc sản xuất, lưu thông, phân phối thuốc giả,
thuốc không đảm bảo chất lượng”
Vấn đề “Chất lượng thuốc” không chỉ là mối quan tâm đặc biệt của người
bệnh, của cán bộ ngành y tế mà đã trở thành mối quan tâm của toàn xã hội. Do
đó, công tác quản lý, đảm bảo an toàn chất lượng thuốc đã được các cấp, các
ngành, nhất là ngành Y tế hết sức quan tâm, xác định đây là một trong những
mục tiêu của Chính sách thuốc quốc gia (ban hành theo nghị định số 37 của
Chính phủ ngày 20 tháng 6 năm 1996).
Thời gian qua, ngành y tế đã từng bước hoàn thiện khung pháp lý trong
quản lý chất lượng thuốc thông qua việc ban hành các quy định, thông tư hướng
dẫn việc quản lý chất lượng thuốc. Đồng thời, ngành cũng đã xây dựng, ban
hành và bắt buộc áp dụng các tiêu chuẩn thực hành tốt trong sản xuất thuốc
(GMP), kiểm nghiệm thuốc (GLP), bảo quản thuốc (GSP), phân phối thuốc
(GDP), nhà thuốc (GPP) nhằm quản lý chất lượng thuốc chặt chẽ hơn từ khâu
sản xuất đến khâu phân phối.
1
Trên lĩnh vực này, trong những năm gần đây, ngành y tế nói chung và tỉnh
Vĩnh Phúc nói riêng đã có nhiều cố gắng và đạt được một số kết quả bước đầu
trong công tác quản lý, kiểm tra giám sát chất lượng thuốc, nhằm góp phần vào
sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân. Do sự tăng nhanh về số lượng và

cho thuốc đó đạt các mục tiêu sau:
+ Có hiệu lực phòng bệnh và chữa bệnh.
+ Không có hoặc ít có tác dụng có hại.
+ Ổn định về chất lượng trong thời hạn đã được xác định.
+ Tiện dùng và dễ bảo quản [4]
- Thuốc đạt chất lượng: là thuốc đạt tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký theo tiêu
chuẩn dược điển hoặc tiêu chuẩn cơ sở của nhà sản xuất. [8]
- Thuốc kém chất lượng: là thuốc không đạt tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký
với cơ quan có thẩm quyền. [8]
- Thuốc giả: là sản phẩm được sản xuất dưới dạng thuốc với ý đồ lừa đảo, thuộc
một trong những trường hợp sau đây:
+ Không có dược chất;
+ Có dược chất nhưng không đúng hàm lượng đã đăng ký;
+ Có dược chất khác với dược chất ghi trên nhãn;
+ Mạo tên, kiểu dáng công nghiệp của thuốc đã đăng ký bảo hộ sở
hữu công nghiệp của cơ sở sản xuất khác.[8]
1.2. Tình hình đảm bảo chất lượng thuốc.
1.2.1. Tình hình chất lượng thuốc trên thế giới.
3
Lợi nhuận khổng lồ từ việc kinh doanh thuốc giả là một trong những
nguyên nhân khiến thuốc giả ngày càng bành trướng, không chỉ tại Việt Nam mà
còn ở nhiều quốc gia khác trên thế giới. Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO),
thuốc giả chiếm tới 10% thị trường dược phẩm thế giới với doanh thu lên đến 35
tỷ USD. Cùng với đó, cũng có khoảng 200.000 người chết mỗi năm vì thuốc giả,
mà một nửa số nạn nhân này ở Châu Phi, nơi thuốc giả chiếm tới 30% thị trường
tân dược, nhất là các thuốc sốt rét, lao và HIV/AIDS. Bất chấp những nỗ lực
phòng chống của các quốc gia, tình trạng sản xuất và buôn bán thuốc giả, thuốc

gia và toàn thế giới, chúng ta có thể tin tưởng rằng việc kiểm soát chất lượng
thuốc sẽ tốt hơn và thị trường Dược phẩm sẽ ngày càng trong sạch.[3]
1.2.2. Tình hình chất lượng thuốc tại Việt Nam.
Trong những năm qua, ngành Dược Việt Nam đã có những tiến bộ nhanh
và cơ bản. Việt Nam đã sản xuất được hầu hết hoạt chất trong danh mục thiết
yếu, đáp đứng được nhu cầu về thuốc phòng và chữa bệnh cho y tế. Trong giai
đoạn 2001-2010, công nghiệp bào chế thuốc trong nước đã liên tục tăng trưởng
với tốc độ khá cao, đảm bảo khoảng 50% lượng thuốc tiêu thụ. [4]
Việt Nam cũng sản xuất được nhiều loại thuốc chuyên khoa, đặc trị với
các dạng bào chế hiện đại như thuốc tim mạch, tiểu đường, huyết áp, thần kinh,
nội tiết… Đặc biệt, các nhà sản xuất vắc xin trong nước cũng đã sản xuất được
tất cả các loại vắc xin phục vụ chương trình tiêm chủng mở rộng. Từ những cơ
sở sản xuất, cung ứng nhỏ bé, đến nay ngành Dược đã xây dựng được một hệ
thống tương đối hoàn chỉnh từ sản xuất, xuất nhập khẩu, lưu thông phân phối
thuốc tới tận tay người bệnh. Thị trường dược phẩm đã được vận hành trong nền
kinh tế thị trường có sự định hướng và quản lý của Nhà nước, dựa trên nền tảng
hệ thống tiêu chuẩn chất lượng được pháp quy hóa theo hướng tuân thủ và đồng
bộ với pháp luật quốc gia, hòa hợp khu vực và cam kết hội nhập quốc tế.
Bên cạnh những thành quả đạt được, ngành Dược Việt Nam còn phải đối
mặt với nhiều hạn chế và thách thức. Trình độ sản xuất, phân phối dược phẩm
mặc dù đã tuân thủ những quy chuẩn quốc tế cơ bản nhưng do nguồn vốn và quy
mô đầu tư chưa đủ lớn đã làm cho nền công nghiệp dược phẩm Việt Nam chưa
phát triển xứng tầm, thậm trí còn dần trở nên lạc hậu so với sự phát triển không
ngừng của các nước khác trên thế giới. Hệ thống và phương pháp đào tạo đã có
5
nhiều đổi mới để cung cấp nguồn nhân lực dược, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng
được yêu cầu về số lượng và chất lượng. Khả năng nghiên cứu và ứng dụng còn

25.415
1.495
( nguồn : Cục Quản lý dược)
Qua số liệu trên ta thấy số đăng ký thuốc gấp rất nhiều lần số hoạt chất,
điều này thể hiện rằng số đăng ký thuốc còn trùng lặp rất nhiều, một hoạt chất có
6
nhiều số đăng ký, nhất là một số những hoạt chất thông thường (VD :
paracetamol, … )
- Sản xuất, nhập khẩu thuốc :
Hiện nay, Chính phủ có chủ trương phát triển ngành Dược thành một
ngành kinh tế mũi nhọn. Thị trường dược phẩm Việt Nam trong những năm qua
liên tục tăng trưởng. Từ năm 2006 đến 2010, sự tăng trưởng này thể hiện ở bảng
thống kê sau :
Bảng 1.2: Số liệu thống kê sản xuất, nhập khẩu thuốc (2006 – 2010)
Năm
Tổng trị giá tiền
thuốc sử dụng
(1.000USD)
Trị giá thuốc
SX trong nước
(1.000USD)
Trị giá thuốc
nhập khẩu
(1.000USD)
Bình quân tiền
thuốc đầu người
(USD)

dấu hiệu đáng mừng, thể hiện bước tiến của ngành Dược Việt Nam, và chứng tỏ
người dân đã được chăm sóc tốt hơn về y tế. Thuốc sản xuất trong nước đã đa
dạng hơn về chủng loại và tốt hơn về chất lượng, đáp ứng khoảng 52% về trị giá
tiền thuốc sử dụng. Tính đến năm 2010, toàn quốc có 92 cơ sở đạt tiêu chuẩn
thực hành tốt sản xuất thuốc (GMP) và trên 50 đơn vị xuất nhập khẩu trực tiếp
thuốc và nguyên liệu làm thuốc tạo ra nguồn cung có chất lượng và đáp ứng
được phần lớn nhu cầu của thị trường dược phẩm. Tuy nhiên, theo hệ thống cấp
bậc phát triển ngành dược phẩm của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), thì Việt Nam
7
chỉ được đánh giá ở cấp độ từ 2,5 – 3, tức là ở mức đang phát triển. Khó khăn
lớn của ngành Dược Việt Nam hiện nay là chưa tự chủ được nguồn nguyên liệu
phục vụ cho sản xuất trong nước, với trung bình hơn 90% nguyên liệu vẫn phải
nhập khẩu. Ngoài ra, cơ cấu sản xuất thuốc nội địa tập trung vào các sản phẩm
thuốc generic thông thường có giá trị không cao, phải nhập khẩu phần lớn các
loại thuốc đặc trị và cả nhiều loại thuốc thông thường khác.
- Mạng lưới sản xuất và cung ứng thuốc:
Ngành Dược Việt Nam đã có đầy đủ các tiêu chí kỹ thuật (GMP, GLP,
GSP, GDP, GPP) để quản lý toàn diện chất lượng thuốc, kể từ nguyên liệu đầu
vào cho tới khi thuốc tới tay người bệnh. Việc thực hiện GP’s đã thúc đẩy sản
xuất trong nước phát triển, cùng với việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng đã
tạo điều kiện để chất lượng thuốc tương đồng với các nước về kỹ thuật và chỉ tiêu
chất lượng. Các phòng kiểm tra chất lượng của các nhà máy đạt GMP được đầu
tư trang thiết bị đạt GLP đáp ứng yêu cầu kiểm soát chất lượng nguyên liệu đầu
vào cũng như kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi đưa ra thị trường, đây là
yếu tố quan trọng để giúp quản lý và đảm bảo chất lượng thuốc. Thực hiện qui
định của Bộ Y tế về lộ trình triển khai GP’s, từ năm 2006 đến 2010, số doanh
nghiệp Dược đạt các tiêu chuẩn GP’s đã tăng lên nhanh chóng, điều này thể hiện

104 cơ sở đạt GLP bao gồm Viện kiểm nghiệm thuốc Trung ương, Viện kiểm
nghiệm thuốc Thành Phố Hồ Chí Minh, Trung tâm kiểm nghiệm và nghiên cứu
8
dược quân đội và 101 phòng kiểm nghiệm của các cơ sở sản xuất ; 137 doanh
nghiệp đạt GSP.
Về mạng lưới cung ứng thuốc : Tính đến tháng 6/2010, số lượng các loại
hình của màng lưới cung ứng thuốc thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1.4 : Số liệu về màng lưới cung ứng thuốc trên toàn quốc:
Loại hình
Số lượng
Công ty thương mại
800
Công ty nhập khẩu
90
Công ty sản xuất
180
Nhà cung ứng nước ngoài
370
Các điểm bán lẻ
39.016
(Nguồn : Báo cáo phân tích ngành Dược tháng 6/2009)
Bộ Y tế định hướng phát triển ngành Dược theo hướng sắp xếp lại hệ
thống lưu thông phân phối thuốc, nâng cao chất lượng của các cơ sở bán lẻ và tổ
chức lại thành một hệ thống bán lẻ chuyên nghiệp. Hệ thống màng lưới cung
ứng thuốc trên toàn quốc không chỉ có bước chuyển mình mạnh mẽ về chất
lượng mà còn tăng nhanh về số lượng. Màng lưới cung ứng thuốc phát triển và
mở rộng tạo điều kiện thuận lợi cho việc đưa thuốc tới tay người bệnh. Tuy

2007
28.747
1.194
4,15
43
0,17
2008
33.506
1.161
3,47
28
0,095
2009
37.214
1.569
4,22
38
0,12
2010
38.824
1.633
4,20
26
0,08
( Nguồn : Báo cáo của Viện kiểm nghiệm thuốc Trung ương)
Thuốc nhập lậu và thuốc không rõ nguồn gốc tuy chiếm số lượng nhỏ
nhưng lại gắn liền với nguy cơ thuốc giả, thuốc kém chất lượng. Quản lý thuốc
trong lĩnh vực này rất phức tạp và khó khăn do phải có sự phối hợp chặt chẽ của
rất nhiều cơ quan, ban ngành khác nhau.
Có thể nói, thuốc giả và thuốc kém chất lượng về cơ bản đã được kiểm

phù hợp với cơ chế kinh tế mới - cơ chế thị trường có định hướng Xã hội chủ
nghĩa và với quá trình hội nhập khu vực và quốc tế. Trong giai đoạn từ năm
2006 đến 2010, Bộ Y tế đã ban hành nhiều quyết định quan trọng ảnh hưởng
đến sự phát triển của ngành Dược như :
+ Luật dược ngày 14/6/2005.
+ Quyết định số 27/2007/QĐ – BYT về Lộ trình triển khai nguyên
tắc ‘‘Thực hành tốt sản xuất thuốc (GMP)’’, ‘‘Thực hành tốt bảo quản thuốc
(GSP) ’’ và các qui định khác như : ‘‘Thực hành tốt kiểm nghiệm thuốc
(GLP)’’, ‘‘Thực hành tốt phân phối thuốc (GDP)’’, ‘‘Thực hành tốt nhà
thuốc (GPP)’’.
+ Thông tư số 09/TT-BYT ngày 28/04/2010 hướng dẫn việc quản lý chất
lượng thuốc.
+ Thông tư số 04/TT-BYT ngày 12/02/2010 hướng dẫn việc lấy mẫu
thuốc để xác định chất lượng.
+ Chính sách quốc gia về thuốc của Việt Nam và chiến lược phát triển của
ngành Dược đã được chính phủ phê duyệt, ngành y tế đang triển khai thực hiện
11
trên toàn quốc.
Các văn bản pháp quy của Bộ y tế được ban hành mới đã cơ bản giải
quyết được những tồn tại, bất cập của các văn bản cũ và là hành lang pháp lý
cho sự phát triển của ngành Dược Việt Nam.
1.2.2.2. Hệ thống đảm bảo chất lượng thuốc của Việt Nam.
Hệ thống đảm bảo chất lượng thuốc bao gồm : hệ thống quản lý chất
lượng thuốc và hệ thống kiểm tra chất lượng thuốc. Hệ thống này được phân cấp
và trải rộng từ Trung ương đến địa phương :
* Hệ thống quản lý chất lượng thuốc :
- Cục Quản lý dược Việt Nam:

Tổng số cán bộ Hệ thống kiểm nghiệm nhà nước tính đến năm 2010 là
1594 cán bộ/1756 chỉ tiêu biên chế được giao. Trong đó: trên và sau đại học
(bao gồm Tiến sĩ, Thạc sĩ, CKI và CKII) chiếm 12,8%, đại học chiếm 34,9 %,
trung học chiếm 41,5%. Đội ngũ cán bộ này là nguồn nhân lực quan trọng của
hệ thống kiểm nghiệm Nhà nước trong công việc triển khai công tác kiểm tra,
giám sát chất lượng thuốc trong những năm tiếp theo.
1.2.2.3. Đặc điểm địa lý, dân cư, kinh tế, hệ thống đảm bảo chất lượng thuốc
của tỉnh Vĩnh Phúc
* Đặc điểm địa lý, dân cư, kinh tế của tỉnh Vĩnh Phúc :
- Tỉnh Vĩnh Phúc nằm trong khu vực châu thổ sông Hồng thuộc trung du và
miền núi phía Bắc. Địa hình của Vĩnh Phúc chia làm ba vùng: rừng núi, trung du
và đồng bằng.
- Tính đến 31/12/2008 : Diện tích tự nhiên là 1.231,76 km
2
, dân số 1.014.488
người, gồm 9 đơn vị hành chính: thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên và các
huyện: Lập Thạch, Sông Lô, Tam Dương, Bình Xuyên, Tam Đảo, Vĩnh Tường,
Yên Lạc với 113 xã, 24 phường và thị trấn.
Tỉnh Vĩnh Phúc tiếp giáp với các tỉnh:
+ Phía tây bắc giáp với tỉnh Tuyên Quang
+ Phía đông bắc giáp với tỉnh Thái Nguyên
+ Phía đông nam - nam giáp với thành phố Hà Nội
+ Phía tây giáp với tỉnh Phú Thọ
-Vĩnh Phúc có nhiều tuyến giao thông quan trọng: đường bộ, đường sắt, đường
13
sông, gần sân bay quốc tế Nội Bài. Đây là vùng đất có bề dày lịch sử - văn hóa
lâu đời, với hàng trăm di tích lịch sử - văn hóa gắn với các địa danh nổi tiếng.

Nhà thuốc
38
(Nguồn : Báo cáo tổng kết ngành y tế Vĩnh Phúc năm 2010)
- Theo báo cáo tổng kết ngành Y tế năm 2010 của Sở y tế Vĩnh Phúc, hiện nay
có 16 bệnh viện, 137 Trạm y tế xã và 3 bệnh viện trung ương đóng trên địa bàn.
- Mạng lưới bán lẻ thuốc phân bố rộng khắp trên địa bàn toàn tỉnh. Tính đến
cuối năm 2010 có 587 cơ sở bán lẻ thuốc chữa bệnh cho người bao gồm : 38 nhà
thuốc (chiếm 6,47%), 56 quầy thuốc doanh nghiệp (chiếm 9,54 %), 356 đại lý
bán lẻ của doanh nghiệp tư nhân (chiếm 60,65%), 137 trạm y tế có quầy thuốc.
Bình quân cứ 2,10 km
2
có một quầy bán thuốc, 1.728 người dân/1 quầy bán lẻ
thuốc. Hệ thống phân phối đã phát triển rộng khắp, độ bao phủ đáp ứng được
14
nhu cầu của nhân dân, mỗi xã tối thiểu có 2 quầy thuốc trở lên. Chất lượng thuốc
cung ứng không ngừng được cải thiện do các cơ sở phân phối thuốc đã triển khai
áp dụng các tiêu chuẩn thực hành theo quy định của pháp luật trong hoạt động
bảo quản và phân phối thuốc. Tuy nhiên, tỷ lệ cơ sở được công nhận đạt tiêu
chuẩn "Thực hành tốt phân phối thuốc – GDP" , "Thực hành tốt nhà thuốc –
GPP" trên địa bàn tỉnh còn thấp chiếm 19,92% là một thách thức lớn và là nhiệm
vụ lớn cho công tác đảm bảo chất lượng thuốc trên địa bàn Vĩnh Phúc. [15]
*Hệ thống quản lý và kiểm tra chất lượng thuốc của tỉnh Vĩnh Phúc :
Hệ thống quản lý chất lượng thuốc trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc được tổ
chức như sau:

HỆ DỰ PHÒNG
Bệnh viện
TW
Bệnh viện
tuyến tỉnh,
huyện,
các trạm y tế

Các
trung
tâm
chuyên
khoa
Hành
nghề y
tư nhân
Công ty
CP dược,
Chi
nhánh,
Quầy
thuốc
Công
ty
TNHH
dược
Các
nhà
thuốc
và đại

có chức năng tham mưu giúp cho Giám đốc Sở y tế trong việc kiểm tra, giám sát
quản lý chất lượng các loại thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm có ảnh hưởng trực tiếp
đến sức khỏe con người được sản xuất lưu hành tại địa phương.
- Nhiệm vụ:
+ Kiểm nghiệm và nghiên cứu kiểm nghiệm các loại thuốc , mỹ phẩm, kể
cả nguyên l iệu, phụ liệu làm thuốc, mỹ phẩm qua các khâu thu mua, sản xuất,
pha chế, bảo quản, lưu thông, sử dụng do các cơ sở sản xuất, kinh doanh dược
phẩm gửi tới hoặc lấy mẫu trên địa bàn tỉnh để kiểm tra giám sát chất lượng.
+ Xây dựng phương pháp kiểm nghiệm, chỉ đạo và hướng dẫn về mặt kỹ
thuật, chuyên môn, nghiệp vụ kiểm nghiệm thuốc, mỹ phẩm của các đơn vị hành
nghề dược, mỹ phẩm trên địa bàn tỉnh.
+ Tổ chức nghiên cứu, thẩm định các tiêu chuẩn kỹ thuật cấp cơ sở đối
với thuốc và mỹ phẩm, tham gia xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật cấp Nhà nước về
thuốc, mỹ phẩm theo sự phân công của Bộ y tế. Hướng dẫn việc áp dụng các
tiêu chuẩn kỹ thuật cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh dược phẩm, mỹ phẩm ở
địa phương, kiểm tra việc đôn đốc thực hiện các tiêu chuẩn kỹ thuật đó.
16
+ Báo cáo định kỳ về tình hình chất lượng thuốc, mỹ phẩm trên địa bàn
tỉnh với Giám đốc Sở y tế, tham mưu cho Giám đốc Sở y tế trong việc giải quyết
những tranh chấp về chất lượng thuốc, mỹ phẩm tại địa phương, tham gia giải
quyết các trường hợp khiếu nại về chất lượng thuốc, mỹ phẩm thuộc lĩnh vực
chuyên môn kiểm nghiệm. Tham mưu vào việc kiểm tra thực hiện các quy chế
chuyên môn về dược.
+ Nghiên cứu khoa học nhằm thúc đẩy các mặt hoạt động của công tác
kiểm soát, kiểm nghiệm ở địa phương và phục vụ cho yêu cầu nâng cao chất
lượng thuốc, mỹ phẩm.
+ Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chuyên khoa kiểm nghiệm và tham gia đào

tỉnh.
18
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Chất lượng thuốc được lưu hành trong các khâu sản xuất, kinh doanh, lưu
thông, tồn trữ, sử dụng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong 5 năm (2006 - 2010).
- Hoạt động của Trung tâm Kiểm nghiệm Vĩnh Phúc trong 5 năm (2006 -
2010).
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài đã kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Hình 2.1. Sơ đồ mô tả phương pháp nghiên cứu.
2.2.1. Phương pháp hồi cứu:
- Hồi cứu toàn bộ hồ sơ có liên quan đến công tác kiểm nghiệm thuốc từ
khâu kiểm tra, giám sát chất lượng thuốc, đến khâu lấy mẫu, gửi mẫu.
- Hồi cứu các số liệu về kết quả kiểm tra chất lượng thuốc để thu thập số
liệu trong hoạt động kiểm tra chất lượng thuốc (2006 – 2010) tại Trung tâm
Số liệu mẫu lấy,

cơ s vật chất trang thiết bị và những k thuật đang được sử dụng tại Trung tâm
Kiểm nghiệm Vĩnh Phúc.
2.2.3. Phương pháp đánh giá.
- So sánh liên hoàn, phần trăm, tỷ trọng.
2.3. Nội dung nghiên cứu :
Đánh giá thc trạng chất lượng thuốc trên địa bàn tỉnh Vĩnh phúc trong 5
năm ( 2006 – 2010) thông qua:
- Tình hình kiểm tra, giám sát, lấy mẫu kiểm tra chất lượng thuốc tại Vĩnh Phúc
trong 5 năm (2006 - 2010).
So sánh đánh giá chất lượng thuốc trong 5 năm đó theo:
+ Số lượt kiểm tra cơ s.
+ Số lượng mẫu kiểm nghiệm tổng thể.
+Mẫu kiểm nghiệm theo nguồn gốc sản xuất.
+ Mẫu kiểm nghiệm theo cơ s sản xuất, lưu thông, tồn trữ, sử dụng .
+ Mẫu kiểm nghiệm theo vùng địa lý.
+ Mẫu kiểm nghiệm theo nhóm thuốc.
+ Mẫu kiểm nghiệm theo dạng thuốc.
+ Mẫu kiểm nghiệm theo chỉ tiêu k thuật .
- Tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, trang thiết bị, các chỉ tiêu k thuật đã tiến hành
để kiểm tra chất lượng thuốc của Trung tâm Kiểm nghiệm Vĩnh phúc.
20

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Thực trạng hoạt động kiểm tra chất lượng thuốc tại Trung tâm Kiểm
nghiệm Vĩnh Phúc (2006 – 2010):
3.1.1. Hoạt động kiểm tra giám sát thị trường (2006 - 2010):

Năm
Nơi lấy mẫu
Tổng
cộng
Công
ty CPD
Công ty
TNHH
Đại lý,
hiệu thuốc
Nhà
thuốc
1 2006
Số cơ sở 70 6 346 21 443
Số lần kiểm tra 56 41 80 37 214
Tần suất 0,8 6,8 0,2 1,8 0,5
2 2007
Số cơ sở 73 7 352 23 455
Số lần kiểm tra 51 54 72 28 205
Tần suất 0,7 7,7 0,2 1,2 0,5
3 2008
Số cơ sở 72 7 368 26 473
Số lần kiểm tra 24 32 138 25 219
Tần suất 0,3 4,6 0,4 1,0 0,5
4 2009
Số cơ sở 74 9 404 30 517
Số lần kiểm tra 12 30 135 19 196
Tần suất 0,2 3,3 0,3 0,6 0,4
5 2010
Số cơ sở 64 12 356 38 470


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status