BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI BÙI THỊ THÚY TÌNH PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TIÊU THỤ THUỐC
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
HUYỆN QUẾ VÕ - TỈNH BẮC NINH NĂM 2013
LUẬN VĂN DƯỢC SỸ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH : TỔ CHỨC QUẢN LÝ
MÃ SỐ : CK 60720412
Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS Nguyễn Thị Song Hà
Nơi thực hiện : Trường Đại học Dược Hà Nội
Bệnh viện Đa khoa huyện Quế Võ
Thời gian thực hiện : Từ 15/11/2013 đến 15/3/2014 HÀ NỘI 2014
i
LỜI CẢM ƠN
Danh mục các chữ viết tắt v
Danh mục bảng biểu vi
Danh mục các hình vẽ, đồ thị vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Vài nét về xây dựng danh mục thuốc trong bệnh viện 3
1.1.1 DMT thiết yếu 4
1.1.2 DMT chủ yếu 4
1.1.3 Mô hình bệnh tật 4
1.1.4 Hướng dẫn điều trị chuẩn (hướng dẫn thực hành điều trị) 5
1.2 Khái quát về thị trường thuốc 5
1.2.1 Thị trường thuốc trên thế giới 5
1.2.2 Thị trường thuốc tại Việt Nam 8
1.3 Phân tích ABC 14
1.4 Phân tích VEN 15
1.5 Vài nét về Bệnh viện đa khoa huyện Quế Võ 15
1.5.1 Mô hình tổ chức 16
1.5.2 Cơ cấu nhân lực 17
1.5.3 Mô hình bệnh tật của bệnh viện năm 2013 18
1.5.4 Kết quả hoạt động khám chữa bệnh năm 2012 và 2013 19
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng, phạm vi, thời gian và địa điểm nghiên cứu 21
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21
iii
2.1.3 Phạm vi nghiên cứu 21
iv
3.3 Phân tích danh mục thuốc tiêu thụ của Bệnh viện Đa khoa Quế Võ
năm 2013 theo phương pháp VEN 40
3.3.1 Cơ cấu tiêu thụ theo phân tích VEN 40
3.3.2 Cơ cấu tiêu thụ theo phân tích VEN và nguồn gốc 41
3.4 Phân tích danh mục thuốc tiêu thụ theo phương pháp ABC/VEN 42
3.4.1 Cơ cấu số loại thuốc tiêu thụ theo ABC/VEN 42
3.4.2 Cơ cấu khối lượng, giá trị tiêu thụ hạng A theo phân tích VEN 43
3.4.3 Phân tích nhóm N trong hạng A (AN) 44
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 46
4.1 Về cơ cấu tiêu thụ thuốc theo nhóm tác dụng 46
4.2 Về nguồn gốc xuất sứ của thuốc tiêu thụ 48
4.3 Cơ cấu thuốc tiêu thụ theo tên chung quốc tế và biệt dược 49
4.4 Cơ cấu thuốc tiêu thụ theo phân tích ABC 50
4.5 Cơ cấu thuốc tiêu thụ thuốc theo phân tích VEN 53
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 55
5.1 Kết luận 55
5.1.1 Về danh mục thuốc tiêu thụ của bệnh viện đa khoa Quế Võ năm
2013 55
5.1.2 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo phân tích ABC 55
5.2 Kiến nghị 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bảng 1.1 Doanh số bán thuốc trên thế giới giai đoạn 2005- 2012 6
Bảng 1.2 Doanh số bán thuốc theo khu vực năm 2012 6
Bảng 1.3 Mười nhóm thuốc tiêu thụ nhiều nhất trong năm 2012 7
Bảng 1.4 Số liệu về sử dụng thuốc giai đoạn 2005- 2012 tại Việt Nam 9
Bảng 1.5 Cơ cấu nhân lực của Bệnh viện Đa khoa Quế Võ năm 2013 17
Bảng 1.6 Cơ cấu bệnh tật của Bệnh viện Đa khoa Quế Võ năm 2013 18
Bảng 1.7 Kết quả hoạt động của Bệnh viện trong hai năm 2012 và 2013 19
Bảng 3.1 Cơ cấu thuốc tiêu thụ theo nhóm tác dụng 26
Bảng 3.2 Cơ cấu tiêu thụ nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống
nhiễm khuẩn 27
Bảng 3.3 Cơ cấu tiêu thụ nhóm thuốc đông dược 28
Bảng 3.4 Cơ cấu tiêu thụ nhóm thuốc giảm đau, hạ sốt, chống viêm không
steroid, thuốc điều trị gút và các bệnh xương khớp 30
Bảng 3.5 Cơ cấu thuốc theo nguồn gốc, xuất xứ 31
Bảng 3.6 Cơ cấu tiêu thụ theo tên biệt dược – Tên chung quốc tế 32
Bảng 3.7 Kết quả tiêu thụ thuốc theo phân hạng ABC trong năm 2013 33
Bảng 3.8 Cơ cấu thuốc tiêu thụ phân hạng ABC theo nguồn gốc xuất xứ 35
Bảng 3.9 Cơ cấu các nhóm thuốc có giá trị tiêu thụ cao trong hạng A
trong năm 2013 36
Bảng 3.10 Cơ cấu tiêu thụ của nhóm thuốc đông dược hạng A năm 2013 38
Bảng 3.11 Cơ cấu tiêu thụ của nhóm thuốc điều trị KST, chống nhiễm
khuẩn hạng A năm 2013 39
Bảng 3.12 Cơ cấu tiêu thụ thuốc theo phân tích VEN năm 2013 40
Bảng 3.13 Cơ cấu tiêu thụ theo phân tích VEN và nguồn gốc 41
Bảng 3.14 Cơ cấu tiêu thụ theo phân tích VEN 42
Bảng 3.15 Cơ cấu khối lượng, giá trị tiêu thụ hạng A theo phân tích VEN 43
Bảng 3.16 Cơ cấu khối lượng, giá trị tiêu thụ nhóm N trong hạng A(AN)
44 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường
thuốc nước ta cũng có nhiều thay đổi. Chủng loại thuốc ngày càng nhiều và
nguồn cung ngày càng đa dạng, phong phú. Tuy nhiên, bên cạnh những thành
tựu đó thực trạng tiêu thụ thuốc trong cộng đồng nói chung và bệnh viện nói
riêng ở nước ta trong thời gian qua đang đặt ra nhiều vấn đề đáng quan tâm.
Ở nước ta, thời gian gần đây cùng với sự tác động của nền kinh tế thị
trường và các chính sách quảng cáo khuyến mại của các hãng thuốc,… Các
thuốc tiêu thụ trong bệnh viện có nguồn gốc nhập khẩu chiếm tỷ lệ rất cao. Theo
thống kê của ngành y tế, thuốc được tiêu thụ ở các bệnh viện công lập chủ yếu là
các thuốc có nguồn gốc nhập khẩu: năm 2010, tổng số kinh phí chi cho mua
thuốc của các bệnh viện công lập là 15.000 tỷ đồng, trong đó số tiền dành mua
thuốc nội chiếm chưa đến 40%. Năm 2012, tỷ lệ này có được điều chỉnh tăng lên
song ở các bệnh viện tuyến Trung ương thì vẫn chỉ chiếm 10% - 20% [11]. Bên
cạnh đó, tỷ lệ các nhóm thuốc cũng rất mất cân đối, nhiều đơn thuốc có chỉ định
nhiều kháng sinh trong một đơn thuốc. Cùng đó nhiều loại thuốc lại được sử
dụng trong một đơn thuốc,… thậm chí có cả các đơn thuốc kê thực phẩm chức
năng. Thực trạng này đang gây khó khăn rất lớn cho người bệnh trong việc chi
trả và điều trị bệnh.
Bệnh viện đa khoa huyện Quế Võ là một bệnh viện tuyến huyện hạng 3
của tỉnh Bắc Ninh, trong những năm gần đây hoạt động cung ứng thuốc về cơ
bản vẫn đáp ứng được tốt nhu cầu thuốc trong thăm khám và điều trị của bệnh
viện. Tuy vậy, công tác cung ứng thuốc và quản lý sử dụng thuốc của bệnh viện
vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Chính vì vậy, để góp phần nâng cao hiệu quả trong
quá trình lập kế hoạch cung ứng thuốc và quản lý sử dụng thuốc của bệnh viện
3
Chương 1: TỔNG QUAN
1.1 Vài nét về xây dựng danh mục thuốc trong bệnh viện
Xây dựng danh mục thuốc là việc xác định số lượng và chủng loại thuốc
để cung ứng và tiêu thụ. Trong bệnh viện, chủng loại thuốc được thể hiện qua
danh mục thuốc bệnh viện. Lựa chọn và xây dựng danh mục thuốc bệnh viện là
việc đầu tiên trong quy trình cung ứng thuốc. Danh mục thuốc là cơ sở để đảm
bảo cung ứng và tiêu thụ thuốc chủ động, có kế hoạch cho nhu cầu điều trị hợp
lý, an toàn và hiệu quả.
Mỗi bệnh viện sẽ tùy theo chức năng nhiệm vụ, cơ sở vật chất, trình độ
chuyên môn, vị trí địa lý mà xây dựng danh mục thuốc bệnh viện.
Căn cứ để xây dựng danh mục thuốc bệnh viện được thể hiện qua sơ đồ sau:
HĐT & ĐTMô hình bệnh tậtPhác đồ điều trị
yếu do Bộ y tế ban hành.
1.1.1 DMT thiết yếu
Là DMT có đủ chủng loại đáp ứng nhu cầu điều trị các bệnh thông
thường. Tên thuốc trong danh mục là tên gốc, dễ biết, dễ nhớ, dễ lựa chọn, dễ
sử dụng, dễ bảo quản, giá cả dễ chấp nhận, thuận tiện cho việc thông tin, đào
tạo, quản lý cán bộ và dễ quản lý.
Theo TCYTTG chỉ cần 1USD thuốc thiết yếu có thể đảm bảo chữa khỏi 80%
chứng bệnh thông thường của người dân tại cộng đồng để thực hiện chăm sóc
sức khỏe ban đầu. Như vậy việc cung ứng thuốc với giá cả hợp lý , chất lượng
đảm bảo là một yêu cầu cấp thiết và là một trong những nội dung chính sách
quốc gia về thuốc.
Hiện nay trên thế giới có hơn 150 nước áp dụng và có DMTTY (chủ yếu
các nước đang phát triển). Số lượng tên thuốc trong DMTTY của các nước
trung bình khoảng 300 thuốc[2] ; [14].
1.1.2 DMT chủ yếu
Là DMT sử dụng tại các cơ sở khám chữa bệnh và là cơ sở pháp lý để các
cơ sở khám chữa bệnh lựa chọn và xây dựng DMT cho đơn vị mình. Căn cứ vào
danh mục này đồng thời căn cứ vào mô hình bệnh tật và kinh phí của bệnh viện
để lựa chọn cụ thể tên thành phẩm của các thuốc trong danh mục, phục vụ cho
công tác khám chữa bệnh.Đối với thuốc tân dược, bệnh viện được phép sử dụng
thuốc phối hợp nếu các thành phần đơn chất của thuốc đó đều có trong danh
mục. Khuyến khích sử dụng thuốc của các doanh nghiệp trong nước đạt tiêu
chuẩn GMP[3]; [4] ; [6] ; [8]; .
1.1.3 Mô hình bệnh tật
Mô hình bệnh tật trong bệnh viện là số liệu thống kê về bệnh tật trong
khoảng thời gian nhất định. Tùy theo hạng và tuyến bệnh viện mà mô hình bệnh tật
có thể thay đổi (do bệnh viện liên quan đến kinh phí, kỹ thuật điều trị, biên chế…) 6
giai đoạn từ năm 2005- 2012. Tính đến năm 2012, con số này đã đạt 962 tỷ
USD, so với năm 2005 (611 tỷ USD) tăng trưởng 57,5 % [20].
Bảng 1.1: Doanh số bán thuốc trên thế giới giai đoạn 2005- 2012
Đơn vị: tỷ USD
Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012
Doanh số 611 658 729 801 834 891 956 962
So sánh
liên hoàn
(%)
100,0 107,7 110,8 109,9 104,1 106,8 107,3 100,6
(Nguồn: IMS Health)
Hàng năm, cả thế giới tiêu thụ một lượng thuốc lớn nhưng sự phân bố
thuốc không đều giữa các vùng. Theo báo cáo của tập đoàn IMS Health, năm
2012, thị trường Bắc Mỹ chiếm gần 40% doanh số dược phẩm bán ra trên thế
giới, trong khi toàn bộ Châu Á, Châu Phi chỉ chiếm gần 20 %. Điều đó cho thấy
có một khoảng cách khá xa về mức độ tiêu thụ thuốc giữa các nước phát triển và
các nước đang phát triển (Bảng 1.2) và (Hình 1.2)
Bảng 1.2: Doanh số bán thuốc theo khu vực năm 2012
Đơn vị: tỷ USD
Khu vực DS %
Bắc Mỹ 348,7
37,76
Châu Âu 221,8
24,02
Châu Á/Châu Phi/Châu Úc 168,3
6 Hô hấp 39,7 9,5
7 Chống nhiễm khuẩn 38,8 9,3
8 Hạ cholesterol và triglyceride 33,6 8,0
9 Tự miễn 27,8 6,6
10 Ức chế bơm proton 26,0 6,2
Tổng cộng:419,2 100
(Nguồn: IMS Health)
8
Nhóm thuốc ung thư đang dẫn đầu về doanh số bán thuốc trên toàn thế giới
năm 2012, doanh số bán loại thuốc này năm 2012 là 61,6 tỷ USD tương đương
14,7% doanh số bán thuốc toàn thế giới (Bảng 1.3). Đây là nhóm thuốc có giá trị
cao, bệnh nhân phải sử dụng trong thời gian dài và bệnh ung thư đang có xu
hướng phát triển cao trên thế giới. Tiếp đến là các nhóm thuốc chống đái tháo
đường, chống tăng huyết áp, Với nhóm hai nhóm thuốc chống đái tháo đường
và chống tăng huyết áp đây là hai nhóm thuốc đặc trưng của các bệnh của các
nước đang phát triển.
1.2.2 Thị trường thuốc tại Việt Nam
Trong những năm qua, mặc dù nền kinh tế đã có bước phát triển chậm lại
do ảnh hưởng từ những khó khăn của sự suy giảm kinh tế toàn cầu, những diễn
biến phức tạp của thời tiết, dịch bệnh,… GDP của Việt Nam chỉ tăng trưởng ở
mức trên 5% và dự báo từ nay đến năm 2015 mức tăng trưởng cũng chỉ dừng lại
ở mức một con số. Mặc dù vậy, thị trường dược phẩm Việt Nam, theo dự báo
của IMS trong 5 năm, từ 2010 đến 2015 sẽ tăng trưởng từ 17%- 19% [21]. Đây
2009 1.696.135 19,8
2010 1.913.661 22,3
2011 2.432.500 27,6
2012 2.605.000 29,6
(Nguồn: IMS Health)
* Tiền thuốc bình quân đầu người
Tiền thuốc bình quân đầu người năm 2012 đạt mức 29,6 USD, tăng
198,99% so với năm 2005 (tiền thuốc bình quân đầu người là 9,9 USD) (Bảng 1.4).
Từ năm 2010 đến năm 2011, tổng giá trị tiền thuốc sử dụng qua các năm
và tiền thuốc bình quân đầu người ở Việt Nam tăng đáng kể: năm 2011, tiền
thuốc sử dụng là 2,4 tỷ USD (tăng 26,32% so với năm 2010), tiền thuốc bình
quân đầu người là 27,6 USD (tăng 23,77% so với năm 2010). Năm 2012, tiền
thuốc sử dụng là 2,6 tỷ USD, tiền thuốc bình quân đầu người là 29,6 USD (Bảng
1.4). Cục quản lý dược thông báo đến năm 2014, tiền thuốc bình quân đầu người
sẽ nâng lên mức 33,8 USD. Con số này không chỉ phản ánh nhu cầu sử dụng
thuốc, mà còn cho thấy sự phát triển của ngành Dược cả ở lĩnh vực sản xuất, lưu
thông, phân phối và cung ứng thuốc.
10
b. Thực trạng tiêu thụ thuốc tại các cơ sở khám chữa bệnh ở Việt Nam
Thuốc là một mặt hàng không thể thiếu trong quá trình hoạt động của các
cơ sở khám chữa bệnh. Tổng số tiền mua thuốc năm 2010 của 1018 bệnh viện là
15 nghìn tỷ đồng, tăng 22,4% so với năm 2009. Tuy nhiên, hiện nay việc quản
lý tiêu thụ thuốc ở các cơ sở y tế đang gặp rất nhiều khó khăn. Thực trạng thuốc
tiêu thụ tại các cơ sở đang có rất nhiều bất cập.
Theo Phó Vụ trưởng Vụ BHYT, Bộ Y tế, Nghiêm Trần Dũng thuốc điều
trị- không thể thiếu trong KCB, luôn gắn chặt với quyền lợi BHYT, nhưng rất
- Tại các bệnh viện tuyến tỉnh thành phố: theo thống kê chi phí mua thuốc
của 307 bệnh viện vào năm 2010 thì tiền mua thuốc có nguồn gốc trong nước là
hơn 2.232 tỷ đồng chiếm 33,9% tổng chi phí mua thuốc.
- Tại các bệnh viện tuyến huyện: chi phí cho thuốc có nguồn gốc trong
nước cao hơn tại các bệnh viện tuyến trung ương và tuyến tỉnh. Năm 2010, tổng
trị giá tiền sử dụng thuốc sản xuất tại Việt Nam của 559 bệnh viện huyện là
2.900 tỷ đồng, chiếm 61.5% so với tổng số tiền mua thuốc [11].
Đứng trước thực trạng này, theo chỉ đạo của Đảng và Nhà Nước hiện nay,
BYT đang tổ chức vận động người Việt dùng thuốc việt và xây dựng định mức
tỷ lệ dùng thuốc có nguồn gốc trong nước cho các bệnh viện.
* Về thuốc mang tên gốc và tên biệt dược
Thuốc mang tên gốc là một thuốc thành phẩm nhằm thay thế một thuốc phát
minh dược sản xuất không có giấy phép nhượng quyền của công ty phát minh và
được đưa ra thị trường sau khi bằng phát minh và các độc quyền đã hết hạn. Thông
thường thuốc mang tên thương mại có giá thành cao hơn thuốc gốc vì nhà sản xuất
phải thực hiện quá trình xây dựng quảng bá thương hiệu và chi phí bảo hộ tên
thương mại hay chi phí đầu tư nghiên cứu. Mặt khác, theo Cơ quan quản lý thuốc
và thực phẩm Hoa Kỳ coi thuốc mang tên gốc là "đồng nhất hoặc tương đương sinh
học với một thuốc phát minh mang tên thương mại về dạng bào chế, độ an toàn,
hàm lượng, đường dùng, chất lượng, các đặc điểm về hiệu quả và mục đích sử
dụng". Chính vì vậy, việc sử dụng thuốc mang tên gốc thường xuyên cho bệnh
nhân sẽ giảm chi phí cho người bệnh và nguồn lực của ngành y tế. Tuy nhiên, hiện
12
nay ở các bệnh viện tỷ lệ thuốc mang tên biệt dược thường được sử dụng với tỷ lệ
rất cao, ngược lại các thuốc mang tên gốc có mức chi phí rất thấp so với tổng chi
phí thuốc sử dụng. Theo Lê Quốc Thịnh, việc sử dụng nhiều thuốc với tên biệt
dụng tại các bệnh viện có sự mất cân đối rất lớn và có sự lạm dụng kháng sinh
và các nhóm thuốc hỗ trợ điều trị, điều trị triệu chứng như: vitamin, corticoid.
Theo thống kê năm 2009 tỷ lệ chi phí cho kháng sinh chiếm 38,4% tổng chi phí
cho thuốc, con số này ở năm 2010 là 37,7%. Vitamin, năm 2009 tỷ lệ này là
6,5% còn năm 2010 giảm còn 4,7% [11]. Như vậy, có sự giảm lạm dụng các
thuốc này ở các cơ sở y tế. Đây là tín hiệu đáng mừng tuy nhiên vẫn còn ở mức
cao đòi hỏi các nhà quản lý phải có giải pháp hạn chế sử dụng.
* Về dạng thuốc sử dụng
So với các thuốc khác (dạng uống, bôi, ) thì việc sản xuất thuốc tiêm cần
phải có công nghệ cao hơn, trang thiết bị lớn hơn. Đồng thời các loại thuốc này
thường đòi hỏi điều kiện bảo quản khắt khe hơn dạng uống, trong quá trình sử
dụng cần phải có nhiều dụng cụ trang thiết bị khác đi cùng (bơm kim tiêm,
bông, cồn sát khuẩn, ). Do đó, giá thành chi phí cho thuốc tiêm cũng như việc
sử dụng loại thuốc này thường cao hơn các dạng thuốc khác rất nhiều lần.
Nhưng hiện nay ở các bệnh viện thực tế các dạng thuốc tiêm được sử dụng có tỷ
lệ chi phí rất cao trong tổng số chi phí sử dụng thuốc, đặc biệt là các bệnh viện
tuyến trung ương. Đây là một dấu hiệu đáng quan tâm trong quá trình cung ứng
thuốc bệnh viện.
Theo nghiên cứu của Vũ Thị Thu Hương năm 2009 tại một số bệnh viện
đa khoa thì các khoản mục thuốc tiêm truyền và giá trị tiêu thụ của thuốc tiêm
truyền chiếm một tỷ lệ rất cao ở tất cả các tuyến bệnh viện. Cụ thể:
- Tại các bệnh viện tuyến trung ương, số khoản mục thuốc tiêm chiếm tỷ
lệ từ 62,6% đến 69,7%. Trong đó tại bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái
Nguyên có 69,7%, Bệnh viện E (62,6%). Giá trị sử dụng nhóm thuốc tiêm của
Bệnh viện Đa khoa trung ương Thái Nguyên chiếm 74,7%.
- Tại các bệnh viện tuyến tỉnh giá trị sử dụng thuốc tiêm chiếm tỷ lệ từ
46,1 đến 65,3. Trong đó Bệnh viện Đa khoa Hải Dương có 65,3% giá trị thuốc
sử dụng là thuốc tiêm trong tổng chi phí thuốc của bệnh viện.
bởi các thuốc rẻ hơn; trong mua hàng, dùng để xác định tần suất mua hàng: mua
15
thuốc nhóm A nên thường xuyên hơn, với số lượng nhỏ hơn, dẫn đến hàng tồn
kho thấp hơn, bất kỳ giảm giá của các loại thuốc nhóm A có thể dẫn đến tiết
kiệm đáng kể ngân sách. Do nhóm A chiếm tỉ trọng ngân sách lớn nên việc tìm
kiếm nguồn chi phí thấp hơn cho nhóm A như tìm ra dạng liều hoặc nhà cung
ứng rẻ hơn là rất quan trọng. Theo dõi đơn hàng nhóm A có tầm quan trọng đặc
biệt, vì sự thiếu hụt thuốc không lường trước có thể dẫn đến mua khẩn cấp thuốc
với giá cao. Phân tích ABC có thể theo dõi mô hình mua tương tự như quyền ưu
tiên trong hệ thống y tế [23], [24].
1.4 Phân tích VEN
Phân tích VEN dựa trên mức độ quan trọng của các nhóm thuốc: nhómV
(Vital) là nhóm tối cần; nhóm E (Essential) thiết yếu; nhóm N (Non Essential) ít
quan trọng, không cần phải sẵn có. Một cách tương tự là phân tích VED (Vital –
Essential – Desirable: Tối cần – Thiết yếu – Mong muốn). Việc chăm sóc bệnh
nhân sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng nếu thuốc tối cần không sẵn có, dù là trong
một khoảng thời gian ngắn.
Phân tích VEN được sử dụng chủ yếu để thiết lập quyền ưu tiên cho việc lựa
chọn, mua và sử dụng trong hệ thống cungứng; hướng dẫn hoạt động quản lý tồn
trữ và quyết định giá thuốc phù hợp. Phân tích VEN được sử dụng trong lựa chọn
thuốc như sau: thuốc tối cần và thuốc thiết yếu nên ưu tiên lựa chọn, nhất là khi
ngân sách thuốc hạn hẹp [24]. Từ năm 2009, tác giả Huỳnh Hiền Trung đã áp dụng
cả phân tích ABC và VEN vào quản lý thuốc của bệnh viện nhân dân 115 [18].
1.5 Vài nét về Bệnh viện đa khoa huyện Quế Võ
Bệnh viện Quế Võ được thành lập từ năm 1963 với nhiệm vụ chăm sóc
sức khoẻ nhân dân trên địa bàn. Trong những năm qua cùng với sự phát triển
Hình 1.3. Mô hình tổ chức Bệnh viện Đa khoa Quế Võ
Phòng
Khám bệnh Đông Du
Các khoa
lâm sàng
Khoa khám bệnh cấp cứu
liên khoa
Khoa đông y
Khoa Nội - Nhi - Lây
Khoa ngoại sản
Ban Gi¸m ®èc
Hội đồng tư vấn:
- Khoa học kỹ thuật
- Thuốc và điều trị
- Khen thưởng
Các khoa
cận lâm sàng
Các phòng
chức năng
Khoa dược - vật tư y tế
Khoa xét nghiệm, chẩn đoán
Tỷ lệ (%)
1 Tiến sỹ y học, BSCK cấp II 2
1,8
2 Thạc sỹ y học, BSCK cấp I 10
8,93
3 Bác sỹ 14
12,50
4 Dược sỹ đại học 1
0,9
5 Cử nhân điều dưỡng 5
4,5
6 Dược sỹ trung học 5
4,5
7 Y tá ĐD, KTV trung cấp 59
52,7
8 Đại học khác 6