Vấn đề nhân cách con người trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - Pdf 29

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
A. Giới thiệu đề tài
Xã hội loài người đã phát triển trải qua nhiều giai đoạn nối tiếp nhau từ
thấp đến cao, ứng với mỗi giai đoạn là một hình thái kinh tế - xã hội phù
hợp với nó. Hình thái kinh tế - xã hội là một hệ thống chịu sự tác động của
qui luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất, quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng và
các quy luật xã hội khác. C.Mác đã viết :”sự phát triển của những hình thái
kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên”.
Trong quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, để phát triển nền
kinh tế Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa. Công cuộc đổi mới từ nền kinh tế kế hoạch
hoá tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường đã tác động đến mọi mặt đời
sống xã hội. Điều đó cũng ảnh hưởng không nhỏ tới tâm lý, suy nghĩ, lối
sống của người dân. Con người năng động nhiều hơn là ỷ lại, chủ động
nhiều hơn chờ đợi, trách nhiệm cá thể lớn hơn trách nhiệm làm chủ tập thể,
thách thức, cạnh tranh, đòi hỏi hơn là yên phận, chờ đợi sự ban phát. Từ đó
nảy sinh nhiều vấn đề, đó là con người kinh tế và con người đạo đức, lợi
ích cá nhân và lợi ích tập thể… Trong cơ chế thị trường con người cũng bị
tha hóa, đây là nguy cơ, nguồn gốc sản sinh ra tụt hậu kinh tế, tệ nạn xã
hội, diễn biến hoà bình …Bởi vậy, cần phải tìm ra nguyên nhân và biện
pháp để khắc phục các hiện tượng đó.
Là một con người lớn lên khi đất nước đang xây dựng nền kinh tế thị
trường và hơn thế nữa còn là một sinh viên kinh tế, em rất quan tâm đến
các vấn đề kinh tế - xã hội hiện nay của đất nước ta. Trong quá trình học
tập và nghiên cứu em đã nhận thấy rằng con người là yếu tố quyết định tới
sự phát triển của nền kinh tế, do đó việc tìm hiểu về nhân cách con người là
rất quan trọng. Bởi vậy, em đã chọn đề tài:
“Vấn đề nhân cách con người trong cơ chế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa”.
Nguyễn Thị Thu Hương – QTKDTH48B

dùng của xã hội phải dựa vào vay và viện trợ, nền kinh tế chưa tạo được
tích luỹ. Chênh lệch giữa thu và chi, xuất khẩu và nhập khẩu ngày càng
lớn. Lực lượng sản xuất kém phát triển, cơ sở vật chất xã hội nghèo nàn,
lạc hậu. Lương thực, vải mặc, các hàng tiêu dùng thiết yếu đều thiếu và vẫn
Nguyễn Thị Thu Hương – QTKDTH48B
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
áp dụng phân phối kiểu tem phiếu. Thị trường và vật giá không ổn định.
Việc cung ứng vật tư, giao thông vận tải gặp rất nhiều khó khăn. Nhiều xí
nghiệp phải sử dụng công suất ở mức thấp thậm chí không có khả năng duy
trì hoạt động dẫn tới tình trạng công nhân thất nghiệp. Đất nước khi đó có
tới 90% làm nông nghiệp, 95% dân cư mù chữ và số người lao động chưa
được sử dụng còn đông. Những vấn đề đó đều ảnh hưởng rất lớn tới đời
sống nhân dân, dẫn tới mức sống của người dân thấp, cuộc sống gặp nhiều
khó khăn.
Tình hình trì trệ đó có nguyên nhân khách quan là nền kinh tế phải
gánh chịu những hậu quả hết sức nặng nề của hai cuộc chiến tranh chống
Pháp và chống Mỹ. Trong thời kì chiến tranh, mọi nguồn lực của tổ quốc
đều tập trung vào mục tiêu đánh thắng kẻ địch, kinh tế không được chú
trọng phát triển đã trở nên nghèo nàn lạc hậu, chậm phát triển. Đồng thời,
chúng ta còn bị thiệt hại to lớn về con người, cơ sở vật chất – kĩ thuật và
qua trình khắc phục còn nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, tình hình thế giới đã
có nhiều biến đổi, nguồn viện trợ từ bên ngoài giảm so với thời kỳ chiến
tranh.
Nhưng nguyên nhân chủ yếu làm trầm trọng thêm tình hình khó khăn
về kinh tế - xã hội là cơ chế kinh tế không phù hợp qui luật kinh tế khách
quan. Lực lượng sản xuất lạc hậu không đủ điều kiện tác động đến quan hệ
sản xuất lỗi thời để phá vỡ nó, hình thành quan hệ mới. Cơ chế kế hoạch
hóa tập trung quan liêu bao cấp xóa bỏ một cách khô cứng mọi sự tư hữu,
kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Đó là do chúng ta đã nhận

đó sở hữu tư nhân bao gồm sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ, sở hữu tư bản
tư nhân. Tương ứng với mỗi loại hình sở hữu là một thành phần kinh tế.
Như vậy trong xã hội tồn tại nhiều chủ thể kinh tế độc lập với lợi ích
riêng nên quan hệ kinh tế giữa họ chỉ có thể thực hiện bằng quan hệ hàng
hoá - tiền tệ.
Thứ ba, thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể tuy cùng dựa
trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất nhưng các đơn vị kinh tế có sự
khác biệt nhất định, có lợi ích riêng. Các đơn vị kinh tế còn có sự khác
nhau về trình độ kĩ thuật – công nghệ, về trình độ tổ chức quản lý nên chi
phí sản xuất và hiệu quả sản xuất cũng khác nhau.
Thứ tư, quan hệ hàng hoá - tiền tệ còn cần thiết trong quan hệ kinh tế
đối ngoại, đặc biệt trong điều kiện phân công lao động quốc tế đang phát
triển mạnh mẽ. Mỗi quốc gia là người chủ sở hữu đối với các hàng hoá
đưa ra trao đổi trên thị trường thế giới và sự trao đổi phải theo nguyên tắc
Nguyễn Thị Thu Hương – QTKDTH48B
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
ngang giá. Bởi vậy, cần có một quan hệ kinh tế áp dụng chung cho tất cả
các nước, đó chính là quan hệ hàng hoá - tiền tệ.
Như vậy, kinh tế thị trường ở nước ta tồn tại tất yếu, khách quan và
không thể lấy ý chí chủ quan để xoá bỏ nó được.
3. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
a) Quá trình chuyển đổi
Sự chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền
kinh tế thị trường ở nước ta là một quá trình lâu dài.
Trước tình hình khó khăn của nền kinh tế, Đảng, Nhà nước ta đã
đưa ra chỉ thị 100 và quyết định 25/CP. Khi đó, kế hoạch hoá theo kiểu
tập trung bị suy yếu, cơ chế bao cấp bắt đầu chuyển đổi. Đến Nghị quyết
Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương khoá V và Nghị quyết
Bộ chính trị khoá V về các quan điểm kinh tế, cốt lõi của mô hình kinh tế

triển sức sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân.
- Phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần
kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế Nhà nước
cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền
kinh tế quốc dân.
- Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và
từng chính sách phát triển, hình thành cấu trúc kinh tế - xã hội phát triển
ổn định, bền vững, thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao
động, hiệu quả kinh tế đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn
lực khác và thông qua phúc lợi xã hội.
- Phát huy vai trò làm chủ của người dân, bảo đảm vai trò quản lý
điều tiết nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự
lãnh đạo của Đảng.
4. Vai trò của nền kinh tế thị trường
Sản xuất hàng hoá phát triển phá vỡ dần kinh tế tự nhiên và chuyển
thành nền kinh tế hàng hoá, thúc đẩy xã hội hoá sản xuất và đem lại
những tác dụng to lớn.
Thứ nhất kinh tế hàng hoá tạo ra động lực thúc đẩy lực lượng sản
xuất phát triển. Trên thị trường, các nhà sản xuất cạnh tranh với nhau, từ
đó buộc mỗi chủ thể phải cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới vào
sản xuất để giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm. Quá trình đó
thúc đẩy cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật phát triển, đồng thời buộc
người lao động phải được nâng cao về trình độ, tay nghề. Do đó, lực
lượng sản xuất phát triển mạnh, năng suất lao động xã hội không ngừng
được nâng cao.
Nguyễn Thị Thu Hương – QTKDTH48B
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Thứ hai, kinh tế hàng hoá kích thích tính năng động, sáng tạo của
chủ thể kinh tế. Trong nền kinh tế hàng hoá, người sản xuất phải căn cứ

Nguyễn Thị Thu Hương – QTKDTH48B
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
III. Nhân cách con người
1. Bản chất con người
a) Quan điểm trước Mác
Từ thời kỳ cổ đại, các trường phái triết học phương Đông đã tìm
cách lý giải vấn đề bản chất con người, quan hệ giữa con người với thế
giới. Các trường phái triết học tôn giáo phương Đông nhận thức con
người trên cơ sở thế giới quan duy tâm, thần bí hoặc nhị nguyên luận.
Trong triết học Phật giáo con người là sự kết hợp giữa danh và sắc (vật
chất và tinh thần), đời sống con người trên trần thế là ảo giác hư vô. Cuộc
đời con người khi còn sống là sống gửi tạm bợ, là bể khổ. Con người phải
hướng tới cuộc sống vĩnh cửu ở cõi Niết bàn, nơi tinh thần con người
được giải thoát để trở thành bất diệt.
Tư tưởng Nho giáo, Lão giáo trong triết học Trung Hoa đã quan
niệm về bản chất con người rất phong phú. Khổng Tử cho rằng “thiên
mệnh” quyết định nhân sự, đức “nhân” là giá trị cao nhất của con người.
Mạnh Tử qui tính thiện của con người vào năng lực bẩm sinh, do ảnh
hưởng của phong tục, tập quán xấu mà con người bị nhiễm cái xấu. Cả
hai ông đều cho rằng con người có thể tu dưỡng, rèn luyện để hướng tới
các gía trị đạo đức tốt đẹp. Trái lại, Tuân Tử quan niệm bản chất con
người khi sinh ra là ác, phải chống lại cái ác ấy con người mới tốt được.
Đó là một tư tưởng thuộc chủ nghĩa duy vật thô sơ. Đổng Trọng Thư lại
cho rằng trời và con người có thể hoà hợp với nhau, thông hiểu lẫn nhau,
gọi là thuyết “thiên nhân cảm ứng”. Đây là tư tưởng kế thừa Nho giáo
theo khuynh hướng duy tâm cực đoan, qui yếu tố quyết định đối với cuộc
đời con người là “thiên mệnh”. Lão Tử, người sáng lập ra trường phái
Đạo gia, cho rằng con người sinh ra từ “Đạo”, bản tính nhân loai có hai
khuynh hướng “hữu vi” và “vô vi”. Theo ông, con người cần phải sống

triển theo khuynh hướng của chủ nghĩa duy tâm. Theo Cantơ, nhận thức
con người chỉ biết được hiện tượng bên ngoài mà không xâm nhập được
vào bản chất đích thực, nhận thức cần hạn chế phạm vi của lí tính để dành
cho đức tin. Hêghen, một nhà duy tâm khách quan, cho rằng con người là
hiện thân của “ý niệm tuyệt đối”. Ông cũng khẳng định con người là chủ
thể đồng thời là kết quả của sự phát triển lịch sử.
Vượt qua những hạn chế trong triết học của Hêghen, nhà duy vật
Phoiơbăc phê phán tính chất siêu tự nhiên, phi vật chất, phi thể xác về bản
chất con người. Ông khẳng định con người do sự vận động của thế giới
vật chất tạo nên, là kết quả của sự phát triển của thế giới tự nhiên.
Phoiơbắc đề cao vai trò trí tuệ của con người với tính cách là những cá
Nguyễn Thị Thu Hương – QTKDTH48B
9


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status