SO SÁNH HỆ THỐNG TÀI CHÍNH CỦA VIỆT NAM VÀ MỸ
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1: Bộ máy tổ chức NHNN
Hình 2: Bộ máy tổ chức FED
Hình 3: Bản đồ các khu vực quản lý của các Ngân hàng FED khu vực
Bảng 1: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các TCTD Việt Nam từ 01/2008 – 01/2011.
Bảng 2: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo Quyết định 379 và Quyết định 79
Bảng 3: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các TCTD ở Mỹ tháng 12/2010
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BH: Bảo hiểm
BHTG: Bảo hiểm tiền gửi
CK: chứng khoán
CSHT: cơ sở hạ tầng
FED: Cục dự trữ liên bang Mỹ (federal reserve system)
NGNN: Ngân hàng Nhà nước
NHDT: Ngân hàng dự trữ
NHNNVN: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
NHQG: Ngân hàng Quốc gia
NHTK: Ngân hàng tiết kiệm
NHTM: Ngân hàng thương mại
NHTW: Ngân hàng Trung Ương
TCNH: Tài chính – Ngân hàng
TCTD: tổ chức tín dụng
TTCK: Thị trường chứng khoán
TTTC: Thị trường tài chính
GVHD: TS. BÙI THỊ MAI HOÀI Trang 1
SO SÁNH HỆ THỐNG TÀI CHÍNH CỦA VIỆT NAM VÀ MỸ
A. PHẦN MỞ ĐẦU
Trong xu thế hội nhập mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới hiện nay, hệ thống tài
chính đóng vai trò quan trọng vì tạo ra các kênh chuyển tải vốn từ người thừa vốn đến
người thiếu vốn, cung cấp các dịch vụ tài chính như: chia sẻ rủi ro, tính lỏng, thông tin
Mục tiêu của đề tài:
- Cung cấp cái nhìn tổng quan về hệ thống tài chính của Mỹ và Việt Nam.
- Nắm được nét chính về hoạt động và công cụ tài chính của các thị trường tài chính.
- Các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của các định chế tài chính như: ngân hàng,
công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán,…
Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập thông tin, dữ liệu từ các nguồn khác nhau.
- So sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp.
- Phương pháp mô hình hóa sử dụng bảng biểu, đồ thị.
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: hệ thống tài chính của Mỹ và Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu dựa trên phương pháp tư duy phân tích kinh tế. Đi
từ tổng quan đến cụ thể cấu trúc mô hình thị trường tài chính.
Do đây là một lĩnh vực có tính vĩ mô cao, cộng với trình độ nhóm viết còn hạn chế
nên bài viết chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong cô đóng góp, chỉ
bảo để đề tài của nhóm được hoàn chỉnh hơn.
B. PHẦN NỘI DUNG
I. THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
1. Khái niệm
Thị trường tài chính là một thị trường mà trong đó tài sản tài chính được giao
dịch. Ngoài việc cho phép trao đổi tài sản tài chính phát hành trước đó, TTTC tạo
điều kiện cho vay và cho vay bằng cách tạo điều kiện thuận lợi cho việc bán tài sản
tài chính mới được ban hành.
2. Phân loại
2.1. Việt Nam
GVHD: TS. BÙI THỊ MAI HOÀI Trang 3
SO SÁNH HỆ THỐNG TÀI CHÍNH CỦA VIỆT NAM VÀ MỸ
Dựa vào thời hạn tín dụng:
Thị trường tiền tệ: là nơi các công cụ ngắn hạn được mua bán với số lượng lớn.
Thị trường vốn: là nơi các công cụ vốn, công cụ nợ trung gian dài hạn (do các
SO SÁNH HỆ THỐNG TÀI CHÍNH CỦA VIỆT NAM VÀ MỸ
Ví dụ:về các thị trường tài chính bao gồm New York Stock Exchange (bán lại cổ
phần chứng khoán phát hành trước đó), thị trường trái phiếu chính phủ Mỹ (bán lại
trái phiếu phát hành trước đó), và bán đấu giá trái phiếu kho bạc Mỹ (doanh số bán
hàng-tín phiếu kho bạc mới ban hành).
Tổ chức tài chính là một tổ chức có chính nguồn gốc của lợi nhuận thông qua
các giao dịch tài sản tài chính. Ví dụ của các tổ chức tài chính bao gồm môi giới
giảm giá (ví dụ, Charles Schwab và Associates), ngân hàng, các công ty bảo hiểm,
và đa chức năng tổ chức tài chính phức tạp, chẳng hạn như Merrill Lynch.
2.3. Nhận xét
Việt Nam và Mỹ đều chia thị trường tài chính thành hai thị trường chính: thị
trường tiền tệ và thị trường vốn.
Tuy nhiên: Thị trường tiền tệ Hoa Kỳ rất hiệu quả ở chỗ nó cho phép một số
tiền lớn để được chuyển giao một cách nhanh chóng và với chi phí thấp từ một
đơn vị kinh tế (kinh doanh, chính phủ, ngân hàng, vv) sang một đơn vị kinh tế
khác trong thời gian tương đối ngắn.
II. CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH
1. Ngân hàng trung ương
Trên thế giới hiện nay có hai mô hình tổ chức NHTW: một là mô hình ngân
hàng trực thuộc Chính phủ như: NHTW Anh, Pháp, Nhật, Việt Nam,…; hai là mô
hình NHTW không trực thuộc Chính phủ như: FED,…
1.1. Thành lập
- NHNNVN: sắc lệnh 15/SL của Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 6/5/1951.
- FED: năm 1913 theo Federal Reserve Act (Đạo luật dự trữ liên bang) được Quốc
Hội Mỹ thông qua.
1.2. Vị trí
- NHNNVN: là cơ quan ngang bộ của Chính Phủ, là Ngân hàng trung ương của
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. NHNNVN là pháp nhân, có vốn
pháp định thuộc sở hữu nhà nước, có trụ sở chính tại Thủ đô Hà Nội.
- FED là tổ chức độc lập với chính phủ và Quốc hội Mỹ. Trụ sỡ chính của FED
hàng tư nhân. Trong đó, Tổng thống chỉ được quyền bổ nhiệm và miễn nhiệm 1
thành viên trong vòng 2 năm. Như vậy, 1 nhiệm kỳ Tổng thống 4 năm thì Tổng
thống chỉ được quyền bổ nhiệm và miễn nhiệm 2 thành viên trong Hội đồng
Thống đốc FED. Nếu nhiệm kỳ Tổng thống kéo dài 8 năm (2 nhiệm kỳ) thì
quyền bổ nhiệm và miễn nhiệm chỉ được tối đa 4 người, và 4 người này phải
được Thượng viện thông qua. Chủ tịch Hội đồng thống đốc của FED hiện nay là
Giáo Sư Ben Bernanke. Từ khi thành lập
- đến nay FED đã có 14 đời chủ tịch: Charles S. Hamlin (1914 - 1916), William P.
G. Harding (1916 – 1922), Daniel R. Crissinger (1923 – 1927), Roy A. Young
(1927 – 1930), Eugene Meyer ( 1930 – 1933), Eugene R. Black (1933 – 1934),
Marriner S. Eccles (1934 – 1948), Thomas B. McCabe (1948 - 1951), William
McChesney Martin, Jr (1951 – 1970), Arthur F. Burns (1970 – 1978), G.
William Miller (1978 – 1979), Paul A. Volcker (1979 – 1987), Alan Greenspan
(1987 – 2006), Ben BernanKe 2006 – nay)
GVHD: TS. BÙI THỊ MAI HOÀI Trang 8
SO SÁNH HỆ THỐNG TÀI CHÍNH CỦA VIỆT NAM VÀ MỸ
1.5. Tính độc lập: bao gồm độc lập về việc lựa chọn công cụ và độc lập về lựa chọn
mục tiêu khi thực hiện chính sách tiền tệ)
- NHNNVN: thấp do trực thuộc và phải nhận chỉ thị từ chính phủ( các chính sách
cũng phải có chính phủ quyết định), ngân sách hoạt động cũng do chính phủ xét
duyệt.
- FED: Cao do độc lập với chính phủ ( để thay đổi quy chế của FED Quốc hội
thậm chí còn phải sửa đổi cả hiến pháp), các lãnh đạo có nhiệm kỳ và không
được tái cử, ngân sách hoạt động độc lập.
1.6. Các ngân hàng thành viên
- NHNNVN: NHNNVN và các chi nhánh ở tỉnh, thành phố.
- FED: FED gồm 12 ngân hàng địa phương và 25 chi nhánh ở khắp nước Mỹ nên
chính thức mà nói, đây là hệ thống ngân hàng trung ương chứ không phải là một
ngân hàng trung ương riêng lẻ. 12 ngân hàng của FED gồm: Boston, New York,
philadelphia, Cleveland, Richmon, Atlanta, Chicago, St. Luois, Minneapolis,
chỉnh được lượng tiền lưu thông để có thể kiểm soát lạm phát và từ đó có thể
tăng giảm lãi suất để tăng lượng cầu hay giảm lượng cầu ứng với mỗi thời điểm
của nền kinh tế.
•Quản lý tham mưu chính sách liên quan đến tiền tệ cho Chính Phủ Việt Nam:
Ngân sách có tác động khá quan trọng đến nền kinh tế vĩ mô vì nếu hoạt động
của ngân sách không hài hòa với chính sách tiền tệ nó sẽ làm cản trở hiệu quả
của chính sách tiền tệ trong điều tiết vĩ mô. Với lý do trên NHTW phải tham
gia cố vấn cho chính phủ trong chính sách tài chính và kinh tế. Với vai trò này
NHTW gián tiếp ảnh hưởng đến việc cung ứng trái phiếu của chính phủ và các
hoạt động chi tiêu khác cho hợp lý với ngân sách. Đây là một cách để điều tiết
kinh tế vĩ mô
•Thực hiện chính sách tiền tệ:
Nghiệp vụ thị trường mở:
Khái niệm: là những hoạt động mua bán chứng khoán do NHTW thực
hiện trên thị trường mở nhằm tác động tới cơ số tiền tệ. Qua đó điều tiết
lượng tiền cung ứng.
GVHD: TS. BÙI THỊ MAI HOÀI Trang 10
SO SÁNH HỆ THỐNG TÀI CHÍNH CỦA VIỆT NAM VÀ MỸ
Đặc điểm: do vận dụng tính linh hoạt của thị trường nên đây được coi là
một công cụ rất năng động, hiệu quả, chính xác của chính sách tiền tệ vì khối
lượng chứng khoán mua (bán) tỷ lệ với quy mô lượng tiền cung ứng cần
điều chỉnh, ít tốn kém về chi phí, dễ đảo ngược tình thế. Tuy vậy, vì thực
hiện thống qua quan hệ trao đổi nên nó còn phụ thuộc vào các chủ thể khác
tham gia trên thị trường và mặt khác để công cụ này hiệu quả thì cần phải có
sự phát triển đồng bộ của thị trường tiền tệ, thị trường vốn.
Dự trữ bắt buộc
Là số tiền dự trữ bắt buộc mà các Ngân hàng phải giữ lại do NHTW quy
định, gửi tại NHTW, không hưởng lãi, không được dùng để đầu tư, cho vay
và thông thường được tính theo một tỷ lệ nhất định trên tổng số tiền gửi của
khách hàng để đảm bảo khả năng thanh toán, sự ổn định của hệ thống ngân
- 2%
2
2951/QĐ-NHNN ngày 03/12/2008
5%
1
- 1%
2
3158/QĐ-NHNN ngày 19/12/2008
GVHD: TS. BÙI THỊ MAI HOÀI Trang 11
SO SÁNH HỆ THỐNG TÀI CHÍNH CỦA VIỆT NAM VÀ MỸ
3%
1
- 1%
2
379/QĐ-NHNN ngày 24/02/2009
(
1
): đối với tiền gửi không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 12 tháng
(
2
): đối với tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng trở lên
Nguồn:
Bảng 2: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo Quyết định 379 và Quyết định 79
Loại hình tổ chức tín dụng
379/QĐ-NHNN 79QĐ-NHNN
Tiền gửi
VND không
kỳ hạn và
dưới 12
tháng
sang cơ chế tự hoạch toán kinh doanh
- FED: Thực thi chính sách tiền tệ quốc gia , giám sát và quản lý các tổ chức tín
dụng, duy trì sự ổn định của nền kinh tế , cung cấp các dịch vụ tài chính cho các
tổ chức quản lý tài sản có giá trị, các tổ chức chính thức nước ngoài, và chính
phủ Hoa Kỳ, đóng vai trò chủ chốt trong vận hành hệ thống chi trả quốc gia
GVHD: TS. BÙI THỊ MAI HOÀI Trang 12
SO SÁNH HỆ THỐNG TÀI CHÍNH CỦA VIỆT NAM VÀ MỸ
•Kiểm soát cung ứng tiền tệ: FED kiểm soát quy mô nguồn cung ứng tiền tệ
bằng các hoạt động thị trường mà qua đó FED mua hoặc cho mượn các loại trái
phiếu, giấy tờ có giá. Những tổ chức tham gia mua bán với FED gọi là người
giao dịch ưu tiên (primary dealers). Tất cả hoạt động thị trường của FED ở Hoa
Kỳ đều tiến hành tại bàn giao dịch thị trường của Ngân hàng dự trữ liên bang
khu vực New York với mục đích là đạt được tỷ lệ lãi suất trái phiếu liên bang
gần với tỷ lệ mục tiêu, gồm:
Thỏa thuận mua lại: Thực chất của hoạt động này là cho vay hoặc đi vay có
thế chấp. Để đảm bảo những thay đổi nguồn cung tiền tệ theo chu kỳ hoặc
tạm thời, bàn giao dịch thị trường của NHDT liên bang New York tham gia
các thỏa thuận mua lại với những nhà giao dịch ưu tiền. Các mua bán chủ
yếu là các khoản cho vay ngắn hạn, có đảm bảo của FED. Trong ngày giao
dịch, FED sẽ đặt tiền vào tài khoản của người giao dịch và nhận thế chấp
(là các giấy tờ chứng nhận sở hữu như cổ phiếu, trái phiếu, v.v ). Khi hết
hạn giao dịch, quá trình diễn ra ngược lại FED hoàn lại chứng khoán và
nhận lại tiền cùng lãi. Thời hạn giao dịch có thể thay đổi từ 1 ngày (cho vay
qua đêm) tới 65 ngày, phần lớn giao dịch là cho vay qua đêm và 14 ngày.
Giao dịch mua đứt: Một công cụ khác của bàn giao dịch thị trường là mua
đứt. Trong giao dịch này, FED mua lại trái phiếu chính phủ và cung cấp
giấy bạc mới vào tài khoản của người giao dịch đặt tại FED. Bởi hoạt động
này là mua đứt nên tăng cung tiền tệ lâu dài nhưng khi trái phiếu hết hạn
khoản lãi vẫn được thu, thông thường là 12-18 tháng. Từ những năm 1980,
FED cũng bán quyền mua trái phiếu chính phủ ở mức lãi suất cao. Việc bán
Yêu cầu dự trữ
Loại trách nhiệm
Yêu cầu
% Của các
khoản nợ
Ngày có hiệu
lực
Tài khoản giao dịch thuần
$ 0 đến $ 10.700.000 0 30/12/2010
Nhiều hơn $ 10.700.000 đến 58.800.000 $ 3 30/12/2010
Nhiều hơn $ 58.800.000 10 30/12/2010
Nonpersonal tiền gửi thời gian 0 27/12/1990
Eurocurrency nợ 0 27/12/2010
Nguồn:
•Tỷ lệ chiết khấu:
GVHD: TS. BÙI THỊ MAI HOÀI Trang 14
SO SÁNH HỆ THỐNG TÀI CHÍNH CỦA VIỆT NAM VÀ MỸ
FED thực hiện chính sách tiền tệ chủ yếu bằng cách định hướng "lãi suất quỹ
vốn tại Fed". Đây là tỷ lệ các ngân hàng ấn định với nhau cho khoản vay qua
đêm các quỹ đặt cọc tại Cục dự trữ liên bang. Tỷ lệ này do thị trường quyết định
chứ Fed không ép buộc. Tuy vậy, Fed sẽ cố gắng tác động tỷ lệ này ở con số phù
hợp với tỷ lệ mong muốn bằng cách bổ sung hoặc hạn chế nguồn cung tiền tệ
thông qua hoạt động của nó trên thị trường
FED còn ấn định tỷ lệ chiết khấu – lãi suất mà các NHTM phải trả khi vay
tiền từ FED. Tuy nhiên, các ngân hàng thường lựa chọn cách vay quỹ đặt cọc tại
FED từ một ngân hàng khác mặc dù lãi suất này cao hơn tỷ lệ chiết khấu của
FED. Lý do của cách lựa chọn này là việc vay tiền từ FED mang tính công khai
rộng rãi, nó sẽ đưa đến chú ý của công chúng về khả năng thanh khoản và mức
độ tin cậy của ngân hàng đang đi vay.
Cả hai tỷ lệ trên chi phối lãi suất ưu đãi, là tỷ lệ thường cao hơn 3% so với "lãi
gửi mà không phải tôn trọng một kỳ hạn ký thác nào khác. Có nhiều loại tiền
gửi không kỳ hạn:
• Tiền gửi dùng séc: là loại tiền gửi dùng để chi trả các Séc và hối phiếu
• Tiền gửi tiết kiệm: là tiền gửi vào tài khoản tiết kiệm còn gọi là tài khoản
dùng sổ. Đó là những khoản tiền gửi nhỏ, ổn định tương đối lâu ở tài
khoản, được hưởng lãi, tương đối cao hơn lãi của tiền gửi thông dụng
Luật Mỹ cho phép ngân hàng có thể buộc người gửi tiết kiệm phải báo 30
ngày trước khi rút nhưng các ngân hàng không sử dụng quyền này, không
đòi hỏi phải báo trước vì nó có thể bị giới hạn về ngạch số tiền gửi tối đa
(100.000 USD)
• Tiền gửi có thấu chi: ở Mỹ, có sự phối hợp gửi tiền vào tài khoản tiết kiệm
và tài khoản dùng séc bằng cách gửi tiền vào tài khoản ATS (automatic
Transfer Service Account). Từ ngày 1/11/1978, NHTM được phép trả lãi
cho TK dùng séc bằng cách gửi tiền vào TK dùng séc để rút tiền bằng séc
- Các loại tiền gửi đặc biệt của Hoa Kỳ: ngoài các loại tiền gửi thông dụng như
của Việt Nam thì Hoa Kỳ còn có những loại tiền gửi vào những tài khoản đặc
biệt được áp dụng từ thập niên 1970 và 1980. Đó là tiền gửi phối hợp giữa
tiền gửi dùng Séc và tiền gửi tiết kiệm vào những tài khoản giao dịch bao gồm
lệnh rút tiền giao dịch và dịch vụ chuyển ngân tự động.
Nghiệp vụ đầu tư vốn:
- Đầu tư chứng khoán: các định chế tài chính là các nhà đầu tư trên thị trường
tài chính. Đây là nguồn lợi quan trọng thứ hai sau cho vay. Thông thường
chứng khoán mà họ đầu tư bao gồm những chứng khoán an toàn nhất như:
trái phiếu kho bạc đến những khoản đầu tư tương đối an toàn. Nếu tính về
thời hạn, có những chứng khoán rất ngắn hạn chỉ có 24h ở Mỹ có thỏa ước
mua lại (RPs) do NHTM phát hành để vay trong 24h, có khi gọi là thỏa ước
qua đêm.
GVHD: TS. BÙI THỊ MAI HOÀI Trang 16
SO SÁNH HỆ THỐNG TÀI CHÍNH CỦA VIỆT NAM VÀ MỸ
- Cho vay: là hình thức thông dụng nhất của các định chế tài chính nói chung
GVHD: TS. BÙI THỊ MAI HOÀI Trang 17
SO SÁNH HỆ THỐNG TÀI CHÍNH CỦA VIỆT NAM VÀ MỸ
Vốn hoạt động chủ yếu của NHTK là từ tiền gửi tiết kiệm của dân chúng hoặc
là vốn đóng góp của các nhà hảo tâm với tính chất hỗ trợ người nghèo là chính
hơn là đóng góp để kiếm lời. Loại ngân hàng này không phát hành các công cụ
nợ để vay vốn của công chúng và cũng hầu như không vay của các tổ chức nước
ngoài hay NHTW, trừ trường hợp đặc biệt thiếu tiền mặt.
Do tính chất đặc biệt của vốn huy động, các NHTK cho vay rất thận trọng.
Tiêu chuẩn hàng đầu trong vấn đề cho vay là sự an toàn. Đối tượng cho vay chủ
yếu là các khoản vay cầm cố, thế chấp bằng nhà cửa, tài sản hoặc chứng khoán.
Tiếp đó là đầu tư vào chứng khoán hoặc cho các ngân hàng thương mại khác
vay. Nhìn chung những người được vay tiền tại các ngân hàng này cũng chính là
những người đã gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng. Lãi suất cho vay thường rất
thấp vì nó mang tính chất tương trợ nhiều hơn là kinh doanh.
Ở Mỹ, NHTK tồn tại dưới hình thức các ngân hàng tiết kiệm tương trợ
(Mutual savings banks). Các NHTK tương trợ này thu hút tiền vốn bằng cách
nhận tiền gửi và dùng chúng trước hết để cho vay thế chấp. Những người gửi
tiền đồng thời là người chủ sở hữu các ngân hàng này. Trước năm 1980, các
ngân hàng này bị hạn chế ở các khoản cho vay bất động sản, nhưng ngày nay họ
đã được phép phát hành các tài khoản tiền gửi có thể phát séc dưới dạng các tài
khoản NOW hay Super NOW và thực hiện các khoản cho vay khác ngoài cho
vay bất động sản như vay tiêu dùng, vay cho sản xuất nông nghiệp, cũng như
cung cấp các dịch vụ như tín thác, phát hành thẻ tín dụng.
Ở Việt Nam không có NHTK riêng biệt, hầu như tất cả các ngân hàng thương
mại đều có bộ phận quỹ tiết kiệm để huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư nhằm
hình thành nguồn vốn chung của ngân hàng thương mại.
2.2.2. Quỹ tín dụng
Quỹ tín dụng được thành lập theo hình thức góp vốn cổ phần và hoạt động
theo nguyên tắc tập thể, tự nguyện, hợp tác và bình đẳng. Các thành viên của
quỹ góp tiền vào quỹ dưới hình thức mua các thẻ thành viên (tương tự như cổ
Các giai đoạn phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam:
- Ngày 28/7/2000, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
chính thức đi vào hoạt động và thực hiện phiên giao dịch đầu tiên đánh đấu sự
ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam. Ở thời điểm lúc bấy giờ, chỉ có 2
doanh nghiệp niêm yết 2 loại cổ phiếu (REE và SAM) với số vốn 270 tỷ đồng
và một số ít trái phiếu Chính phủ được niêm yết giao dịch.
GVHD: TS. BÙI THỊ MAI HOÀI Trang 19
SO SÁNH HỆ THỐNG TÀI CHÍNH CỦA VIỆT NAM VÀ MỸ
- Đầu năm 2006 được coi là mốc thời gian mang tính chất phát triển “đột phá”,
tạo cho thị trường chứng khoán Việt Nam một diện mạo hoàn toàn mới với
hoạt động giao dịch sôi động tại cả 3 “sàn”: Sở giao dịch Tp.Hồ Chí Minh,
Trung tâm Giao dịch Hà Nội và thị trường OTC. Với mức tăng trưởng đạt tới
60% từ đầu đến giữa năm 2006 thị trường chứng khoán Việt Nam trở thành
"điểm" có tốc độ tăng trưởng nhanh thứ 2 thế giới. Và sự bừng dậy của thị
trường non trẻ này đang ngày càng "hút hồn" các nhà đầu tư trong và ngoài
nước.
- Trong giai đoạn 2007, luật chứng khoán có hiệu lực từ ngày 01/01/2007 đã góp
phần thúc đẩy thị trường phát triển và tăng cường khả năng hội nhập vào thị
trường tài chính quốc tế.
- Giai đoạn 2008: cùng trong xu thế chung của nền kinh tế, thị trường chứng
khoán Việt Nam khép lại năm 2008 với sự sụt giảm mạnh.
- Giai đoạn 2009 đến nay: thị trường chứng khoán Việt Nam hồi phục chậm sau
khủng hoảng.
Các chủ thể tham gia vào thị trường chứng khoán Việt Nam:
- Uỷ ban chứng khoán Nhà nước
- Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
- Các công ty chứng khoán
- Các tổ chức phát hành chứng khoán bao gồm chính phủ, chính quyền địa
phương, các công ty cổ phần …
2.3.2. Thị trường chứng khoán Mỹ
thị trường chứng khoán non trẻ của Việt Nam với một thị trường lâu đời như Mỹ
là khập khiễng, nhưng thị trường Mỹ có một số điểm đáng để chúng ta học tập.
- Thị trường chứng khoán Mỹ hoạt động liên tục từ 9 giờ sáng đến 4 giờ chiều,
nhưng luôn có rất nhiều người tham gia giao dịch với khối lượng cả tỷ cổ phiếu
mỗi ngày. Cơ quan quản lý thị trường chứng khoán Mỹ đưa ra những quy định
ngặt nghèo từ niêm yết đến báo cáo, từ môi giới đến tự doanh, từ phương thức
giao dịch đến sử dụng tiền vay… Tất cả đều quy định thành luật rõ ràng và các
công ty chứng khoán hay ngân hàng đầu tư có trách nhiệm thông báo những
quy định đó cho khách hàng của họ.
- Do thị trường chứng khoán tiềm ẩn rủi ro mất vốn rất cao, nên đa số nhà đầu tư
cá nhân đều ủy thác tài sản của họ cho những tổ chức chuyên nghiệp kinh
doanh và quản lý hộ, chứ không tự đi kinh doanh như ở Việt Nam. Do đó, số
lượng nhà đầu tư cá nhân rất ít. Trong khi đó, các tổ chức môi giới hay tư vấn
đầu tư thường có uy tín, có đội ngũ nhân viên được đào tạo bài bản, có kinh
GVHD: TS. BÙI THỊ MAI HOÀI Trang 21
SO SÁNH HỆ THỐNG TÀI CHÍNH CỦA VIỆT NAM VÀ MỸ
nghiệm thực tế và phong cách chuyên nghiệp, không bao giờ trả lời cho khách
hàng những vấn đề mà họ không thông thạo.
Ngoài ra, các công ty chứng khoán bị ràng buộc với quy định: đảm bảo an
toàn tài sản và khả năng sinh tồn cho nhà đầu tư trong trường hợp mất vốn. Có
nghĩa là, nếu thu nhập của bạn thấp, mà bạn dùng hết tiền của bạn đi đầu tư vào
những dạng đầu tư mang tính rủi cao sẽ không được chấp thuận. Đây là điều mà
các công ty chứng khoán Việt Nam không có trong chính sách của họ, mà ngược
lại, có công ty còn khuyến khích khách hàng vay tiền để đầu tư, khi thị trường
chứng khoán tuột dốc thì chỉ việc giải chấp và thu hồi cả vốn lẫn lãi. Thậm chí,
có công ty còn tư vấn khách hàng mua cổ phiếu, trong khi khối tự doanh của họ
muốn bán ra cổ phiếu đó
2.3.4. Mối tương quan giữa thị trường chứng khoán Việt Nam và Mỹ hiện nay
Thị trường chứng khoán Việt Nam và Mỹ hiện nay chưa có liên hệ chặt chẽ. Tuy
nhiên, chúng cũng có sự biến động tương đối giống nhau vì nhìn chung thị trường
qui mô rất lớn, phát triển hệ thống trên khắp thế giới như AIA, Liberty Mutual,
ACE …
2.4.3. Nhận xét
Nếu so sánh, ta có thề thấy qui mô cũng như thi trường của các công ty bảo
hiểm Việt Nam trên toàn thế giới còn khoảng cách xa so với các công ty bảo
hiểm Mỹ. Đây là một thách thức không nhỏ cho các công ty bảo hiểm trong
nước khi thị trường bảo hiểm Việt Nam thật sự mở cửa hoàn toàn. Việc cấp giấy
phép hoạt động cho các công ty bảo hiểm của Mỹ được thực hiện theo Hiệp định
Thương mại song phương (BTA), do chính phủ Việt Nam và Mỹ phê chuẩn.
Theo BTA, có hiệu lực từ tháng 12/2001, các công ty bảo hiểm của Mỹ có thể
thành lập công ty liên doanh với các công ty Việt Nam từ tháng 12/2004 và công
ty 100% vốn nước ngoài từ tháng 12/2006.
Cùng với việc Việt Nam gia nhập WTO, nhiều công ty bảo hiểm Mỹ đã dần
thâm nhập vào thị trường Việt Nam. Tập đoàn bảo hiểm nhân thọ hàng đầu của
Mỹ New York Life (thành lập năm 1845t, với trên 200 tỷ USD giá trị tài sản,
doanh thu hàng năm trên 25 tỷ USD, hiện có thị trường rộng lớn tại châu Mỹ và
châu á) đã mở văn phòng đại diện tại Hà Nội vào 4/2000, Tháng 12/2001, New
York Life chính thức gửi hồ sơ xin thành lập doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
với 100% vốn nước ngoài lên Bộ Tài chính. Đồng thời, hai công ty bảo hiểm
khác của Mỹ là American International Group (AIG) và AON Inchibrok đã được
GVHD: TS. BÙI THỊ MAI HOÀI Trang 23
SO SÁNH HỆ THỐNG TÀI CHÍNH CỦA VIỆT NAM VÀ MỸ
cấp giấy phép hoạt động tại Việt Nam. Mới đây, Việt Nam cũng chính thức được
cấp phép hoạt động cho Tập đoàn ACE và Tập đoàn Marsh Inc., tập đoàn môi
giới bảo hiểm lớn nhất thế giới, với 100% vốn của Mỹ, với thời hạn hoạt động
50 năm…
Về triển vọng, quan hệ hợp tác kinh tế - bảo hiểm và những ngành khác như
ngân hàng, tài chính nói riêng và các quan hệ song phương toàn diện Việt Nam –
Hoa Kỳ nói chung chắc chắn sẽ có những phát triển mạnh mẽ hơn cả bề rộng,
lẫn bề sâu.
phát triển địa phương trực thuộc các uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố. Các quỹ
này có nhiệm vụ cho vay các dự án theo định hướng phát triển của từng địa
phương. Quỹ hỗ trợ phát triển và các quỹ đầu tư phát triển của các địa phương
hoạt động không chịu sự chi phối của Luật các tổ chức tín dụng và không chịu sự
giám sát của Ngân hàng Nhà nước.
Tại Mỹ, các quỹ đầu tư chứng khoán đã có được một lịch sử hoạt động khá lâu
đời. Hình thức tín thác đầu tư (đơn vị tín thác đầu tư UITs) là hình thức ban đầu
của các quỹ đầu tư chứng khoán tại Mỹ. Sau sự kiện TTCK sụp đổ vào năm 1929,
quỹ công ty xuất hiện và được biết đến với tên gọi là các công ty quản lý
(Management Company). Đây thực chất là một loại quỹ đầu tư chứng khoán được
tổ chức dưới dạng một công ty đầu tư dạng mở (quỹ tương hỗ) và công ty đầu tư
dạng đóng. Theo quy định của Mỹ, tất cả các quỹ đầu tư chứng khoán cho dù là
một công ty quản lý hay là một quỹ tín thác đều phải lập Hội đồng quản trị và ít
nhất 40% thành viên trong hội đồng phải là các thành viên độc lập không liên
quan tới công ty quản lý quỹ.
III. CÔNG CỤ TÀI CHÍNH
1. Thị trường tiền tệ
1.1. Tín phiếu kho bạc
1.1.1. Tín phiếu kho bạc Việt Nam
Tín phiếu kho bạc: là loại giấy nợ do chính phủ phát hành có kỳ hạn dưới một
năm để bù đắp thiếu hụt tạm thời của Ngân sách Nhà nước và là một công cụ
trong những công cụ quan trọng để Ngân hàng Trung ương điều hành chính sách
tiền tệ. (tại Việt Nam, tín phiếu kho bạc do Bộ Tài chính phát hành). Tín phiếu
kho bạc thường có kỳ hạn 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng hay 9 tháng với một hay
nhiều mức mệnh giá. Tín phiếu kho bạc thường được coi là không có rủi ro tín
dụng (rủi ro phá sản).
1.1.2. Tín phiếu kho bạc Mỹ
GVHD: TS. BÙI THỊ MAI HOÀI Trang 25