Website: Email : Tel : 0918.775.368
I.Lời nói đầu
Nớc ta là một nớc nông nghiệp nên từ xa xa các làng nghề thủ công đã
xuất hiện, có không ít làng nghề nổi tiếng đã tồn tại hàng trăm năm. Đặc biệt
khi nói tới các làng nghề truyền thống của đồng bằng sông Hồng, dờng nh ai
cũng biết danh làng nghề Hà nội, thủ đô nghìn năm văn hiến của chúng ta. Hà
nội Ba sáu phố phờng nổi tiếng với những phờng nghề nhng những làng
nghề hiện nay chủ yếu nằm ở khu vực ngoại thành. Ngoại thành Hà nội với
diện tích 836,7 km
2
, dân số 1,274 triệu ngời đóng trên địa bàn 5 huyện, 118
xã, 8 thị trấn nhng nông nghiệp chỉ thu hút 25% lao động.
Xung quanh Hà nội có hơn 80 làng nghề, các làng nghề phát triển mạnh
mẽ lan sang các làng bên cạnh và trở thành xã nghề rộng lớn hơn. Cùng với
nghề truyền thống, các nghề, các làng nghề mới xuất hiện ngày một nhiều. Vì
vậy ngày nay khi nói đến làng nghề thờng bao gồm cả làng nghề truyền thống
và làng nghề mới.
Từ năm 1993 trở lại đây, sau khi có nghị quyết Trung ơng khóa VII về
chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, các làng nghề đã bắt đầu khôi phục và
khởi sắc do chuyển hớng sản xuất và khai thông thị trờng xuất khẩu. Sản phẩm
của ngời thợ ở đây là tác phẩm nghệ thuật vì ngời sản xuất không chỉ thao tác
các quá trình công nghệ mà còn sáng tạo nữa. Nhng với mức độ cạnh tranh
ngày càng gay gắt nh hiện nay, việc duy trì, mở rộng thị trờng, quảng bá sản
phẩm là vấn đề đặt ra đối với các làng nghề. Đây cũng là lý do của việc lựa
chọn đề tài nghiên cứu " Làng nghề Hà nội với tiến trình hội nhập kinh tế " với
mục đích nêu lên những khó khăn, thuận lợi từ đó đa ra một số giải pháp nhằm
phát triển, mở rộng làng nghề Thủ đô.
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
II. Làng nghề Hà nội
1/ Tìm hiểu chung về làng nghề Hà nội
- Góp phần phân bố sản xuất ở các vùng dân c, địa bàn khác nhau,
thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội ở khu vực nông thôn.
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
b, Về giá trị văn hóa xã hội
- Giữ vai trò hỗ trợ, bổ sung hình thành mối liên kết hợp tác giữa
nông thôn và thành thị, giữa sản xuất nông nghiệp và thủ công
nghiệp, thúc đẩy phát triển nền kinh tế hàng hóa ở nông thôn.
- Sản phẩm làng nghề thể hiện rõ và bảo tồn đợc những nét, những
sắc thái độc đáo của dân tộc. Những giá trị văn hóa của dân tộc
thể hiện t duy, triết lý á Đông, phong cách sống Việt nam ... đều
có thể biểu hiện qua nét vẽ, hình mẫu, cách trang trí, cấu trúc của
sản phẩm làng nghề. Đây cũng chính là u thế của sản phẩm nghề
truyền thống Việt nam khi rộng mở, giao lu trên thị trờng quốc tế
và mở rộng quan hệ văn hóa, nghệ thuật với các nớc trên thế giới.
III. Thực trạng làng nghề Hà nội những năm
gần đây
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
A - Sự khôi phục, phát triển
Các làng nghề ngày nay phát triển mạnh mẽ bên cạnh làng nghề
truyền thống, các làng nghề phục vụ nhu cầu mới xuất hiện. Để nhận dạng
làng nghề ngời ta thờng sử dụng hai tiêu chí: Tỷ trạng số hộ làm nghề trong
làng; tỷ trạng thu nhập từ nghề trong tổng thu nhập của làng. Từ đó, chúng ta
có thể quan niệm làng nghề là một cụm dân c sinh sống trong một làng cùng
với một nghề ( có số hộ làm nghề này chiếm tỷ trọng trên 50% tổng số hộ
trong làng ) và các hộ có thể sinh sống bằng nghề đó ( tỷ trọng thu nhập từ
nghề chiếm 50% tổng thu nhập của làng )
1/ Các làng nghề ngày càng mở rộng quy mô
Năm 1986, khi nớc ta xóa bỏ chế độ tập trung , bao cấp , Nhà nớc
Hồng Kông, Đài Loan, Xingapo, Pháp, Mỹ ... làng nghề thêu ren Hạ Mỗ có
1.600 lao động, chiếm 69,57% lao động làng nghề thêu ren.
Hoạt động ngành nghề mang lại thu nhập lớn gấp hai đến ba lần so với
nông nghiệp , đặc biệt là chi phí về lao động và diện tích sử dụng thấp hơn
nhiều so với sản xuất nông nghiệp . Bình quân thu nhập của một ngời trong hộ
chuyên nghề phi nông nghiệp là 400 - 450 ngàn đồng / tháng , hộ kiêm
nghề từ 190 - 240 ngàn đồng/ tháng trong đó thu nhập từ ngành nghề chiếm
khoảng 40 % - 75 % tổng thu nhập của gia đình . ở nhiều hộ thu nhập từ
ngành nghề đã là nguồn tích lũy và làm giàu trong bớc đi ban đầu từ sản xuất
tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hóa . Từ sự phát triển ngành nghề đã hình
thành hàng nghìn doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn ( có đăng ký kinh
doanh và hoạt động theo pháp luật ) , trong đó doanh nghiệp nông nghiệp
( 14,2% ) , hợp tác xã ( 5,8% ) , doanh nghiệp t nhân ( 80,0% ) các doanh
nghiệp này đã tạo nhiều việc làm cho lao động nông thôn trong các lĩnh vực
sau : chế biến thực phẩm ( 17,3 % ) , công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
( 32,5 % ) , dịch vụ thơng mại nông thôn ( 50,2% ).
Nhờ tạo thêm việc làm nên thu nhập của ngời lao động tăng thêm. Tiền
công hàng tháng của ngời lao động kỹ thuật nghề gốm sứ, chạm khắc, rèn đúc
có thể đạt 800.000 đồng - 1.000.000 đồng, thợ thủ công, dệt đũi, thêu ren: 180
- 200 ngàn đồng; thợ khai thác, chạm đá có thu nhập 20 - 70 ngàn đồng/ ngày
tuỳ trình độ tay nghề, bậc thợ . Nhờ tăng thu nhập nên đời sống của ngời dân
những nơi có phát triển trong làng nghề đợc cải thiện hơn so với những địa ph-
ơng khác.
Ví dụ: ở làng nghề gốm sứ Bát Tràng, 100% hộ có nhà mái bằng, mái
ngói ( 40% số hộ có nhà hai tầng trở lên ); 60% số hộ có xe gắn máy, ô tô;
90% số hộ có ti vi ( chủ yếu là ti vi màu ); 10% số hộ có điện thoại.
Sự phát triển nghề và làng nghề đã góp phần thúc đẩy, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông thôn theo hớng giảm tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp
tăng giá trị sản xuất công nghiệp và dịch vụ. Điều đáng chú ý là tăng tỷ trọng
lao động phi nông nghiệp theo hớng " Ly nông bất ly hơng ", giải quyết 60% -
bậc về công nghệ, kỹ thuật, các làng nghề Hà nội phải liên tục đối mặt với
những khó khăn, thách thức.
1/ Đầu ra của sản phẩm ch a ổn định
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mặt hàng mà các làng nghề sản xuất , kinh doanh rất phong phú, đa
dạng: đồ gốm, đồ gỗ, đồ đồng, chạm khắc, sơn mài, bánh kẹo, dệt may, giấy,
tranh cổ ... đợc các bạn hàng thế giới rất a chuộng. Tuy nhiên, sản phẩm thờng
mang tính đồng loạt, mẫu mã ít thay đổi, sản phẩm lại phụ thuộc nhiều vào
nguồn nguyên liệu không ổn định. Khi có những hợp đồng với số lợng lớn,
việc đảm bảo thực hiện đúng số lợng khiến nhiều doanh nghiệp lúng túng.
Nhiều doanh nghiệp sản xuất đồ mỹ nghệ ( Ví dụ: đồ gỗ ) thờng hoạt động
theo kiểu mùa vụ, có đơn hàng mới " chạy " nguyên liệu, số lợng lao động lại
không cố định, nên lúc cần không huy động kịp, đặc biệt là những công đoạn
đòi hỏi ngời thợ có trình độ chuyên môn, tay nghề nhất định. Chính vì vậy,
nhiều khi chúng ta đã bị mất những đối tác kinh doanh nhiều tiềm năng.
Bên cạnh đó, đầu ra của sản phẩm phụ thuộc rất nhiều yếu tố:
marketing, tìm và mở rộng thị trờng, nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm
hàng hóa. Trớc những vấn đề trọng yếu đấy, nhiều làng nghề Hà nội còn tỏ ra
lúng túng. Chúng ta thiếu thông tin chính xác về thị trờng tiêu thụ sản phẩm,
thị hiếu ngời tiêu dùng. Có khi những doanh nghiệp lại tiếp nhận thông tin thị
trờng chủ yếu qua quan hệ cá nhân với t thơng hay cơ quan xuất nhập khẩu
( tức là những cá nhân hay đơn vị mua sản phẩm của họ ). Vì thế những thông
tin này thờng bị " nhiễu " theo chiều hớng có lợi cho bên mua, thiệt hại cho
bên bán.
Không những thế, sản phẩm làng nghề còn bị đe dọa bởi sự cạnh tranh
khắc nghiệt của các hàng công nghiệp sản xuất theo dây truyền, kỹ thuật tiên
tiến, mẫu mã đẹp, lại hợp túi tiền ngời tiêu dùng.
Thị trờng trong nớc tràn ngập sản phẩm nớc ngoài bởi nhiều khi "
hàng Việt nam quá đắt ". Những năm gần đây, đời sống ngời dân lên cao, lại
thiếu tính hiện đại. Đội ngũ thể hiện các bản vẽ ít, thiếu kinh nghiệm, họa sĩ
sáng tác mẫu mới không sản xuất đợc do không có cơ sở khoa học kỹ thuật.
Hầu hết công nghệ kỹ thuật hiện đang sản xuất đã có sẵn từ xa, ít có sự đầu t,
nghiên cứu để cải tiến hoặc đa những tiến bộ mới vào thay thế, tính bảo thủ
nghề còn rất nặng nề, cơ khí mới sử dụng 37%, còn 63% là thủ công. Đó
chính là những nguyên nhân làm cho sản phẩm làng nghề đạt chất lợng thấp,
giá thành cao, sức cạnh tranh kém.
4/ Vấn đề truyền nghề
Những khó khăn về đầu ra sản phẩm, cùng với nếp sống ngày nay
khiến không ít ngời con làng nghề nản lòng, tìm kiếm một công việc khác.
Chủ yếu lao động hiện nay trong làng nghề có trình độ phổ thông thấp , ít lao
động bậc cao, tay nghề giỏi . Những ngời thợ cả, nghệ nhân bậc thầy
( những ngời giữ vị trí quan trọng ) ngày càng giảm. Mà khả năng cạnh tranh,
sức sống của sản phẩm làng nghề nh gốm, sứ, mỹ nghệ, khảm trai, sơn mài, gỗ
... chủ yếu phụ thuộc tài hoa, kinh nghiệm, tay nghề ngời lao động. Nguyên
nhân quan trọng là do chính t tởng quan niệm của ngời dân làng nghề. Họ
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
mong muốn con chăm học hành trở thành kỹ s, bác sĩ, nhà kinh tế ... không
muốn con vất vả học nghề , rồi những ngời tâm huyết gắn bó với nghề cũng ít
dần. Điều này làm cho việc cải tiến mẫu mã nâng cao chất lợng rất khó khăn
vì thiếu lực lợng trẻ, khỏe, năng động, thực sự tâm huyết với làng nghề. Hơn
nữa, từ nhiều đời nay, chủ yếu nghề truyền thống đợc dạy theo phơng thức cha
truyền con nối, bí quyết gia đình, dòng họ không truyền cho ngời ngoài ( theo
thống kê, phơng thức truyền nghề này chiếm tới 60,15% ở các làng nghề, số
thợ ở làng nghề đợc đào tạo chính quy chỉ chiếm 0,78% ). Vì vậy những bí
quyết nhà nghề có nguy cơ bị mai một dần.
5/ Vấn đề môi tr ờng ở các làng nghề
Các làng sắt, đúc đồng, làm giấy tạo ra hàng nghìn m
3