*) VÀI KHÁI NIỆM CẦN LÀM RÕ.
Trước khi phân tích bất kỳ một vấn đề nào, một thao tác không thể
thiếu là làm rõ các khái niệm liên quan. Dưới đây cách hiểu riêng của nhóm
về ba khái niệm “giáo dục”, “chính sách giáo dục”, “quốc sách hàng đầu”.
Giáo dục: không có một định nghĩa về giáo dục nhưng ai cũng có thể
hiểu một cách đơn giản nhất giáo dục nghĩa là dạy và học. Xét trên góc độ
lý luận, giáo dục là một bộ phận thuộc một chế định của Hiến pháp: “Văn
hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ”. Giáo dục vừa là một lĩnh vực điều
chỉnh gồm nhiều quan hệ xã hội của pháp luật, vừa là một nhóm các mục
tiêu, yêu cầu mà nhà nước đặt ra để thực hiện.
Chính sách giáo dục: Là các chính sách do nhà nước đặt ra nhằm điều
chỉnh lĩnh vực giáo dục và thực hiện những mục tiêu yêu cầu của giáo dục.
Quốc sách hàng đầu: Là những chính sách trọng tâm có vai trò chính
yếu của nhà nước, luôn dành dược sự ưu tiên hàng đầu, quan tâm đặc biệt
của nhà nước, được thể hiện qua một loạt các chính sách, , các biện pháp và
phạm vi thực hiện và nguồn ngân sách chi cho chính sách đó.
1. GIÁO DỤC LÀ QUỐC SÁCH HÀNG ĐẦU.
1.1. Vai trò vị trí của giáo dục.
Giáo dục đào tạo đóng vai trò quan trọng là nhân tố chìa khóa, là động
lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các
quốc gia khác trên thế giới, các chính phủ đều coi giáo dục là quốc sách
hàng đầu. Vậy tại sao giáo dục đào tạo lại có tầm quan trọng đến chiến lược
phát triển đất nước như vây?
- Thứ nhất: Giáo dục đào tạo là điều kiện tiên quyết góp phần phát
triển kinh tế.
- Thứ hai: Giáo dục đào tạo góp phần ổn định chính trị xã hội.
- Thứ ba: Và trên hết giáo dục đào tạo góp phần nâng cao chỉ số phát
triển con người.
Không chỉ trong giai đoạn hiện nay vị trí tầm quan trọng của giáo dục
mới được khẳng định mà tư tưởng này trải qua từng thời kỳ lịch sử đã được
một dân tộc có truyền thống hiếu học đã dày công vun trồng và củng cố. Ở
Giáo dục- đào tạo không chỉ có vai trò quan trọng trên lĩnh vực sản
xuất vật chất mà còn là cơ sở để hình thành nền văn hoá tinh thần của chủ
nghĩa xã hội. Giáo dục có tác động vô cùng to lớn trong việc truyền bá hệ tư
tưởng chính trị xã hội chủ nghĩa, xây dựng ý thức pháp quyền và ý thức đạo
đức, xây dựng nền văn hoá, văn học nghệ thuật, góp phần cơ bản vào việc
hình thành lối sống mới, nhân cách mới của toàn bộ xã hội. Đảng ta đã chỉ
rõ: “Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng con
người và thế hệ thiết tha, gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường, xây dựng và bảo vệ tổ
quốc; thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, giữ gìn
và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc…là những người kế thừa xây
dựng chủ nghĩa xã hội…”
Như vậy giáo dục- đào tạo có tác dụng to lớn đến toàn bộ đời sống
vật chất và đời sống tinh thần của xã hội. Phát triển giáo dục - đào tạo là cơ
sở để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, chiến lược con người
của Đảng và Nhà nước ta.
1.2 Sự ghi nhận về giáo dục đào tạo qua các bản Hiến pháp.
Trong lịch sử phát triển loài người giáo dục luôn được coi là tài sản vô
giá của mọi con người cũng như mọi dân tộc, nhân thức rõ điều đó Đảng và
Nhà nước đã được ghi nhận một cách cụ thể, rõ ràng lần lượt qua các bản
Hiến pháp.
Trong hai bản hiến pháp đầu tiên thì giáo dục chưa được quy định trong
một chế định riêng biệt nhưng đã được đề cập đến trong phần quyền và
nghĩa vụ của người công dân.
+ Hiến pháp 1946:
Ngay từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mới ra đời thì giáo dục
đã được nhắc đến như một vấn đề quan trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói
“Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Ngay sau CMT8-1945 thành công
cùng với nhiệm vụ chống giặc ngoại xâm, giặc đói. Chủ thịch Hồ Chí Minh
đã chú tâm ngay đến giặc dốt. Trong HP 1946, vấn đề GD-ĐT đã được đề
hoàn toàn có thể khẳng định tính đúng đắn của các điều khoản ghi nhận cho
giáo dục trong các bản hiến pháp, đặc biệt hiến pháp 1992 với chính sách “
Giáo dục là quốc sách hàng đầu Việt Nam”.
2.CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC VỚI GIÁO DỤC HIỆN NAY
2.1) Nhà nước coi phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu.
Coi giáo dục là quốc sách hàng đầu là một sự đổi mới về nhận thức
của Nhà nước và lần đầu tiên được quy định tại điều 35 Hiến pháp 1992.
đến Nghị quyết Trung ương II (Đại hội Đảng VIII. Từ thực tế của xã hội
Việt Nam cũng như các nước khác, Đảng và Nhà nước ta phải có cách nhìn
nhận mới, phải coi giáo dục là một hoạt động đặc biệt, nhờ đó hình thành và
bồi dưỡng nhân cách công dân, đào tạo những người lao động có tay nghề
cao, năng động và sáng tạo... vì vậy không có sự đầu tư nào mang lại nhiều
lợi ích như dầu tư cho giáo dục và khuyến khích các nguồn đầu tư khác,
đồng thời phải ban hành những chính sách phù hợp để điều chỉnh trong lĩnh
vực giáo dục. Đáp ứng đòi hỏi này ngày 09/12/2000, Quốc hội khóa X đã
thông qua hai nghị quyết quan trọng: Nghị quyêt số 40 về đổi mới chương
trình giáo dục phổ thông và Nghị quyết số 41 về thực hiện phổ cập giáo dục
trung học cơ sở.
Dưới đây bảng tập hợp lại số liệu trong bản báo cáo của bộ Giáo dục.
Số chi ngân sách từ trung ương mà nhà nước kiểm soát được.
Bảng 1: Chi ngân sách cho giáo dục (tỷ đồng)
2001 2002 2003 2004 2005 2006
Tổng chi từ ngân sách
theo loại chi
19.747 22.601 28.951 34.872 42.943 54.798
Chi thường xuyên 16.082 18.754 24.162 28.712 35.717 44.798
Chi đầu tư 3.665 3.847 4.789 6.160 7.226 10.000
Tổng chi từ ngân sách
theo cấp
quy mô, đáp ứng yêu cầu học tập ngày càng cao của nhân dân; cả nước đã
hoàn thành phổ cập tiểu học vào năm 2000 và đến năm học 2004-2005 đã
có 20 tỉnh thành phố trực thuộc trung ương được công nhận hoàn thành phổ
cập trung học cơ sở.
b) Vấn đề đổi mới chương trình giáo dục, mở rộng quy mô giáo dục.
Nghị quyết số 40/2000/QH10 chỉ ra rằng: Mục tiêu của việc đổi mới
chương trình giáo dục phổ thông là xây dựng nội dung chương trình,
phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới nhằm nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển ngồn nhân
lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với thực tiễn
truyền thống Việt Nam; tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước
phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Mở rộng quy mô giáo dục cũng là một nhiệm vụ cấp bách gắn với nó là
một loạt mục tiêu cụ thể:
-Mở rộng quy mô đào tạo, đạt tỷ lệ 200 sinh viên/1 vạn dân vào năm
2010 và 450 sinh viên/1 vạn dân vào năm 2020, trong đó khoảng 70-80%
tổng số sinh viên theo học các chương trình nghề nghiệp- ứng dụng vào
khoảng 40% tổng số sinh viên thuộc các cơ sở giáo dục đại học ngoài công
lập.
- Xây dựng đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục đại học đủ về
số lượng, có phẩm chất đạo đức là lương tâm nghề nghiệp, có trình độ
chuyên môn cao, phong cách giảng dạy và quản lý tiên tiến; bảo đảm tỷ lệ
sinh viên /giảng viên của hệ thống giáo dục không quá 20. Đến năm 2020 có
ít nhất 40% giảng viên đạt trình độ thạc sỹ và 20% đạt trình độ tiến sỹ; đến
năm 2020 có ít nhất 60% giảng viên đạt trình độ thạc sỹ và 35% đạt trình độ
tiến sỹ.
Đổi mới sách giáo khoa cũng là một nhiệm vụ không kém phần quan
trọng : Việc xây dựng chương trình, biên soạn sách giáo khoa, triển khai thí
điểm, tổng kết rút kinh nghiệm phải chu đáo, khẩn trương để đạt được các
mục tiêu nêu trên; lầm lượt triển khai địa trà việc áp dụng chương trình,
Nghị quyết số 14/2005 NQ-CP bổ sung thêm:
“Bố trí tối thiểu 1% ngân sách nhà nước hàng năm để các cơ sở giáo
dục đại học thực hiện các nhiệm cụ khoa học và công nghệ quy định trong
Luật Khoa học và công nghệ.”
2.3 Sự đảm bảo phát triển cân đối hệ thống giáo dục từ phía Nhà nước.
Nhà nước ta phát triển đồng đều tất cả các cấp và trình độ đào tạo
trong hệ thống giáo dục quốc dân. Nhà nước đặc biệt quan tâm đến giáo dục
mầm non vì đây là độ tuổi mà trẻ em đặt nền móng đầu tiên cho tính tình
của nó với những nét tính cách mang tính ổn định lâu dài. Quan tâm đến
giáo dục phổ thông vì tiểu học là trình độ phổ cập bắt buộc, trung học cơ sở
là mục tiêu phổ cập tiếp theo, và trung học phổ thông là bước quan trọng
bậc nhất trong việc bồi dưỡng kiến thức văn hóa và nghề nghiệp cho con
người. Nhà nước đặc biệt quan tâm đến giáo dục đại học và sau đại học vì
đây là khâu cốt yếu nhất để đào tạo và phát huy tối đa nguồn nhân lực,
nguồn vốn tri thức cho đất nước trong điều kiện hội nhập. Bên cạnh giáo
dục chính quy, nhà nước mở rộng và tạo điều kiện thuận lợi cho giáo dục
thường xuyên. Bên cạnh hệ thống các trường công lập, nhà nước còn phát
triển hệ thống các trường dâh lập và tư thục, luôn có những chính sách
nhằm đa dạng hóa các loại hình trường. Tuy cơ cấu về ngân sách đầu tư là
khối lượng chương trình giữa các cấp học, các trình độ đào tạo là khác nhau
nhưng nhìn chung chúng đều được cân đối và phát triển một cách đồng đều.
2.4) Giáo dục là sự nghiệp của toàn dân.
Với tư cánh là một quốc sách hàng đầu, giáo dục phải được xem là sự
nghệp của toàn dân. Điều 12 Luật giáo dục 2005 ghi nhận việc xã hội hóa
sự nghiệp giáo dục :
a) Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của nhà
nước và sự nghiệp của toàn dân.
b) Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục,
thực hiện đa dạng hóa các loại hình trường và các hình thức giáo dục,
khuyến khích , huy động và tạo điều kiện đẻ tổ chức, cá nhân tham gia
thời gian học dự bị đại học.
Nghị quyết số 37/2004/QH11 cũng nhấn mạnh:
Thực hiện tốt hơn công bằng xã hội trong giáo dục, ưu tiên phát triển
giáo dục vùng đồng bào đân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã
hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và giáo
dục cho trẻ em khuyết tật.
3.THỰC TRẠNG NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GIẢI
PHÁP TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.
3.1 Thực trạng :
a) Những kết quả đạt được của nền giáo dục Việt Nam.
Việt Nam được nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế đánh giá là nước có
những thành tựu đáng kể về giáo dục, đào tạo so với nhiều nước có thu
nhập tính theo đầu người tương đương. Việt Nam hoàn toàn có khả năng
hoàn thành Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG) về phổ cập giáo dục
tiểu học trước năm 2015. Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống giáo
dục đầy đủ các cấp học ở mọi vùng, miền với nhiều loại hình trường lớp với
số lượng học sinh đến trường ở các cấp ngày một tăng. Năm học 2004-
2005, đã có hơn 22 triệu học sinh, sinh viên theo học trong hơn 37.000 cơ
sở giáo dục - đào tạo.
Giáo dục đại học, cao đẳng cũng ngày càng được mở rộng về quy mô
đào tạo, cơ sở vật chất ngày càng được nâng cấp, chương trình đào tạo dần
dần được đổi mới. Nền giáo dục đại học Việt Nam một mặt đã đáp ứng xu
hướng thế giới là tiến tới phổ cập giáo dục đại học, mặt khác vẫn giữ nền
tảng giáo dục tinh hoa. Việc đầu tư cho đội ngũ giáo viên đã được chú trọng
đặc biệt.
Năm 2000, Việt Nam đã đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập
tiểu học. Từ năm học 2002-2003, tỷ lệ biết chữ của người lớn trong độ tuổi
15-24 đã đạt gần 95%, số năm đi học trung bình của người dân đạt mức 7,3
năm. Việc dạy chữ dân tộc đã được đẩy mạnh ở các địa phương, nhờ đó tỷ
lệ người dân tộc thiểu số mù chữ giảm mạnh.