Đề xuất giảm giá VND của nhóm nghiên cứu đại học Harvard - Pdf 29

Nghiên cứu đề xuất giảm giá từng bước VND để kích thích kinh tế
của nhóm nghiên cứu Harvard
MUÏC LUÏC
  
Chương 1: Lý thuyết về phá giá đồng nội tệ Trang
1.1./ Khái niệm .......................................................................................................4
1.2./ Những tác động...............................................................................................5
1.2.1./ Ngắn hạn.......................................................................................................5
1.2.2./ Trung hạn......................................................................................................6
1.2.3./ Dài hạn..........................................................................................................6
1.3./ Tại sao chính phủ phá giá tiền tệ.....................................................................7
1.4./ Điều kiện để phá giá thành công ....................................................................7
1.4.1./ Phương pháp tính độ co giãn:.......................................................................7
1.4.2./ Phương pháp hấp thu:...................................................................................8
1.4.3./ Phương pháp tiền tệ :....................................................................................9
1.5./ Trung Quốc phá giá đồng Nhân dân tệ............................................................9
1.5.2./ Những mặt lợi mà Trung Quốc có được từ phá giá: ..................................10
1.5.1./ Cụ thể hành động của chính phủ: ..............................................................13
1.6./ So sánh độ mở nền kinh tế Việt Nam năm 2008 và Trung Quốc giai đoạn
1993-1994 .............................................................................................................18
Chương 2: Đề xuất giảm giá VND của nhóm nghiên cứu đại học Harvard
2.1./ Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam..............................................................19
2.1.1./ Thuận lợi để thực hiện đề xuất giảm giá VND...........................................19
2.1.1.1./ CPI tăng:..................................................................................................19
2.1.1.2./ Lạm phát ở mức cao:..............................................................................21
2.1.1.3./ Các biện pháp hành chính thời gian qua tỏ ra không có hiệu quả:..........23
2.1.1.4./ Sự gia tăng nguồn vốn đầu tư nước ngoài:..............................................29
Trang 1
Nghiên cứu đề xuất giảm giá từng bước VND để kích thích kinh tế
của nhóm nghiên cứu Harvard
2.1.1.5./ Thu nhập quốc dân tăng cao:..................................................................33

của các quốc gia khác. Hai khái niệm phá giá và giảm giá thường được dùng lẫn lộn
nhưng giữa chúng vẫn có sự khác biệt. Điểm khác biệt lớn nhất: giảm giá là việc giá
trị đồng nội tệ được điều chỉnh theo quy luật cung cầu của thị trường hối đoái; còn
Phá giá thì việc giảm giá là kết quả từ quyết định chính sách của chính phủ.
Giai đoạn tiền kim loại, giá trị của tiền được xác định thông qua lượng kim loại
quý trong mỗi đồng. Do đó, một tiền tệ được đánh giá quá cao hay quá thấp khi
đồng tiền được đính trên hay dưới giá trị của kim loại trong lúc tính toán với các
tiền tệ khác trên thế giới. Chính phủ một nước, khi cần tiền, họ sẽ giảm lượng kim
loại trong mỗi đơn vị tiền mà không thông báo, hoặc ra một chỉ thị để buộc người
dân phải chấp nhận đồng tiền mới với giá trị như đồng tiền cũ. Từ đó dần tới phá
giá tiền tệ.
Ngày nay, tiền được phát hành và chỉ tồn tại đến chừng nào mà người tham gia
trên thị trường cho là tiền này vẫn còn một giá trị nhất định. Đối với những nước
theo chế độ tỷ giá thả nổi, giá trị của một đồng tiền được phép dao động trên thị
trường ngoại hối. Trong khi đó, tỷ giá cố định là nói đến việc một đồng tiền được
gắn với giá trị một đồng tiền khác hay với một rổ các đồng tiền khác hay với một
thước đo khác như vàng chẳng hạn. Khi đó, giá trị tham khảo tăng hoặc giảm thì giá
trị của đồng tiền neo vào cũng tăng hoặc giảm. Do mỗi chế độ tỷ giá đều có những
bất lợi và thuận lợi riêng, nên hiện nay phần lớn các quốc gia lựa chọn một chế độ ở
giữa, chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết. Theo đó, tỷ giá sẽ được xác định theo quan
hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối nhưng vẫn có sự can thiệp của chính phủ.
Giảm giá (phá giá) nay được sử dụng như một công cụ nhằm khắc phục sự thâm hụt
cán cân thanh toán. Một đồng nội tệ yếu sẽ gia tăng sản xuất, tạo công ăn việc làm
Trang 3
Nghiên cứu đề xuất giảm giá từng bước VND để kích thích kinh tế
của nhóm nghiên cứu Harvard
cho xã hội, tăng xuất khẩu và giảm nhập khẩu,cải thiện cán cân thanh toán. Nhưng
nếu không kiểm soát được mức độ giảm giá thì hậu quả sẽ khôn lường.
1.2./ Những tác động:
1.2.1./ Ngắn hạn:

của nhóm nghiên cứu Harvard
 Ngược lại, nếu chi phí ngoại tệ chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng chi phí
thì tỷ giá thay đổi sẽ ảnh hưởng mạnh đến giá cả hàng hóa xuất khẩu và ít tác động
đến hàng hóa nội địa.
Cần lưu ý rằng tác động của yếu tố tỷ giá hối đoái thay đổi còn phụ thuộc vào khả
năng và mức độ tự nguyện giảm giá bán của nhà cung cấp.
1.2.2./ Trung hạn:
GDP hay chính là tổng cầu gồm các thành tố chi cho tiêu dùng của dân cư, chi
cho đầu tư, chi cho mua hàng của chính phủ và xuất khẩu ròng. Việc phá giá làm
tăng cầu về xuất khẩu ròng và tổng cung sẽ điều chỉnh như sau:
 Nếu nền kinh tế đang ở dưới mức sản lượng tiềm năng thì các nguồn lực
nhàn rỗi sẽ được huy động và làm tăng tổng cung.
 Nếu nền kinh tế đã ở mức sản lượng tiềm năng thì các nguồn lực không thể
huy động thêm nhiều và do đó tổng cung cũng chỉ tăng lên rất ít dẫn đến việc tăng
tổng cầu kéo theo giá cả, tiền lương tăng theo và triệt tiêu lợi thế cạnh tranh của
việc phá giá. Vì thế trong trường hợp này, muốn duy trì lợi thế cạnh tranh và đạt
mục tiêu tăng xuất ròng thì chính phủ phải sử dụng chính sách tài chính thắt chặt
(tăng thuế hoặc giảm mua hàng của chính phủ) để tổng cầu không tăng nhằm ngăn
chặn sự tăng lên của giá cả trong nước.
1.2.3./ Dài hạn:
Nếu như trong trung hạn, phá giá tiền tệ kèm theo chính sách tài chính thắt chặt
có thể triệt tiêu được áp lực tăng giá trong nước thì trong dài hạn các yếu tố từ phía
cung sẽ tạo ra áp lực tăng giá. Hàng nhập khẩu trở nên đắt tương đối và các doanh
nghiệp sử dụng đầu vào nhập khẩu sẽ có chi phí sản xuất tăng lên dẫn đến phải tăng
giá; người dân tiêu dùng hàng nhập khẩu với giá cao hơn sẽ yêu cầu tăng lương và
gây áp lực làm cho tiền lương tăng. Cuối cùng việc tăng giá cả và tiền lương trong
nước vẫn triệt tiêu lợi thế cạnh tranh do phá giá. Các nghiên cứu thực nghiệm cho
thấy lợi thế cạnh tranh do phá giá bị triệt tiêu trong vòng từ 4 đến 5 năm.
1.3./ Tại sao chính phủ phá giá tiền tệ
Chính phủ sử dụng biện pháp phá giá tiền tệ để có thể nâng cao năng lực cạnh

ít thay đổi theo giá thì tác động của chính sách càng giảm.
 Điều kiện Marshall- Lerner:
Điều kiện Marshall-Lerner phát biểu rằng, để cho việc phá giá tiền tệ có tác
động tích cực tới cán cân thanh toán, thì giá trị tuyệt đối của tổng hai độ co dãn theo
Trang 6
Nghiên cứu đề xuất giảm giá từng bước VND để kích thích kinh tế
của nhóm nghiên cứu Harvard
giá cả của xuất khẩu và độ co dãn theo giá cả của nhập khẩu phải lớn hơn 1. Điều
kiện này đặt theo tên của hai học giả kinh tế đã phát hiện ra nó, đó là Alfred
Marshall và Abba Lerner.
Phá giá dẫn tới giảm giá hàng xuất khẩu định danh bằng ngoại tệ, do đó nhu cầu
đối với hàng xuất khẩu (ngoại nhu) tăng lên. Đồng thời, giá hàng nhập khẩu định
danh bằng nội tệ trở nên cao hơn, làm giảm nhu cầu đối với hàng nhập khẩu.
Hiệu quả ròng của phá giá đối với cán cân thanh toán tùy thuộc vào các độ co
dãn theo giá. Nếu hàng xuất khẩu co dãn theo giá, thì tỷ lệ tăng lượng cầu về hàng
hóa sẽ lớn hơn tỷ lệ giảm giá; do đó, kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng. Tương tự, nếu
hàng nhập khẩu co dãn theo giá, thì chi cho nhập khẩu hàng hóa sẽ giảm. Cả hai
điều này đều góp phần cải thiện cán cân thanh toán.
Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, hàng hóa thường không co dãn theo giá cả
trong ngắn hạn, bởi vì thói quên tiêu dùng của người ta không thể thay đổi dễ dàng.
Hơn nữa, giá cả trong ngắn hạn chưa chắc đã thay đổi do chi phí vận chuyển, hợp
đồng. Do đó, điều kiện Marshall-Lerner không được đáp ứng, dẫn tới việc phá giá
tiền tệ chỉ làm cho cán cân thanh toán trong ngắn hạn xấu đi. Trong dài hạn, khi
người tiêu dùng đã điều chỉnh thói quen tiêu dùng của mình theo giá mới, cán cân
thanh toán mới được cải thiện.
1.4.2./ Phương pháp hấp thu:
Phương pháp phân tích tác động của sự phá giá hoặc giảm tỷ giá hối đoái của
một nước đối với cán cân thương mại.
Ta có : Y = C + I + G + (X - M)
C + I + G : a

chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý. Tuy nhiên, tỷ giá chính thức vẫn ít được áp dụng
hơn tỷ giá thị trường.
 Từ năm 1993, thị trường ngoại hối giữa các doanh nghiệp phát triển mạnh
hơn và hơn 80% sử dụng tỷ giá của thị trường. Sự sai lệch giữa tỷ giá chính thức và
tỷ giá thị trường gây ra những tác động tiêu cực, lượng ngoại tệ do dân cư nắm giữ
rất lớn trong khi dự trữ ngoại hối của quốc gia còn hạn chế.
Trang 8
Nghiên cứu đề xuất giảm giá từng bước VND để kích thích kinh tế
của nhóm nghiên cứu Harvard
 Từ năm 1994, Trung Quốc có nhiều chuyển biến lớn trong việc điều hành
chính sách tỷ giá: đưa tỷ giá chính thức lên mức cân bằng với tỷ giá thị trường để
thống nhất hai tỷ giá và thực hiện chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý, tạo điều kiện cho
việc chuyển đổi đồng Nhân dân tệ.
 Đến giữa tháng 7/2005 Trung Quốc đã bất ngờ tuyên bố tăng giá đồng nhân
dân tệ (NDT) từ 8,277 lên 8,11 NDT ăn 1 USD, tương đương 2,1%, chấm dứt một
thập niên duy trì tỷ giá cố định của đồng tiền này với đồng USD.
1.5.1./ Cụ thể hành động của chính phủ:
Đầu những năm 1990, 1 USD chỉ có thể đổi từ 5,8 đến 5,9 nhân dân tệ.
Biểu đồ 1.1: Diễn biến tình hình tỷ giá USD/RMB giai đoạn 1990 - 2005
Cho đến năm 1993, mặc dù phá giá liên tục và với biên độ lớn như vậy, tổn thất
xuất khẩu do tỷ giá (đánh giá cao đồng NDT) gây ra vẫn rất lớn. Lý do là vì tỷ giá
NDT/USD có mặt bằng xuất phát “phá giá” quá thấp nên dù phá giá mạnh như vậy,
mức tỷ giá vẫn chưa đạt đến điểm “hòa vốn” cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Bắc
Kinh cảm thấy phải có biện pháp hỗ trợ mạnh cho xuất khẩu, một đòn bẩy quan
trọng cho tăng trưởng kinh tế. Trung Quốc đã quyết định định giá lại đồng bản tệ,
mà thực chất là làm cho nhân dân tệ trượt giá tới 50%. Biên độ phá giá lên tới 50%:
từ mức 5,8 NDT/1USD năm 1993 xuống 8,7 NDT/1USD kể từ ngày 1/1/1994. Năm
1995, tỷ giá hối đoái danh nghĩa đã giảm xuống. Kể từ đây đến 2005, Trung Quốc
Trang 9
Nghiên cứu đề xuất giảm giá từng bước VND để kích thích kinh tế

những điều chỉnh quản lý ngoại hối lỏng hơn như :
 Cho phép các công ty xuất khẩu tăng tỷ lệ giữ ngoại tệ.
 Các công ty nước ngoài từng bước được giao dịch, mua bán các loại ngoại tệ
mạnh, tạo điều kiện để đồng Nhân dân tệ xâm nhập nhanh hơn vào thị trường tiền tệ
Thế giới…
Năm 1998, để bảo vệ đồng NDT trước tác động của cuộc khủng hoảng tài chính
- tiền tệ khu vực, một lần nữa Trung Quốc lại quay lại kiểm soát chặt chẽ thị trường
ngoại hối, giảm nguy cơ đầu cơ và găm giữ giảm những dự kiến về phá giá đồng
NDT. Song song với việc quản lý chặt trên thị trường ngoại hối, để giảm bớt sức ép
đối với xuất khẩu và sự tăng trưởng của nền kinh tế, Chính phủ Trung Quốc đã phối
hợp với các chính sách tiền tệ nới lỏng và kích cầu.
Trong năm 1998, Trung Quốc đã liên tiếp 3 lần hạ lãi suất tiền cho vay và tiền
gửi bằng đồng NDT, lãi suất tái chiết khấu cũng giảm 1,91%, đồng thời với việc
giảm cả lãi suất với các tiền gửi bằng ngoại tệ. Kết hợp với chính sách lãi suất là
chính sách hạ thấp tỷ lệ dự bắt buộc, tăng hoạt động nghiệp, vụ thị trường mở của
ngân hàng trung ương, chính sách hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp, kích thích tiêu
dùng của các tầng lớp dân cư….
Bảng 1.1: Tình hình lãi suất và một số chỉ số của thị trường tiền tệ 1998.
Chỉ tiêu 20/03/98 01/07/98 06/12/98
Lãi suất tiền cho vay giảm
(%)
1,6 0,49 0,27
Lãi suất tiền gửi giảm (%) 0,6 1,12 0,55
Lãi suất tiền gửi USD (%) 4,875 4,250 3,755
Nguồn: IMF
Tác động của một loạt những phối hợp trong chính sách để điều chỉnh này là
cách gián tiếp giảm giá đồng NDT, giảm sức ép phá giá đồng NDT đè nặng lên
chính sách tỷ giá của Trung Quốc.
Trang 11
Nghiên cứu đề xuất giảm giá từng bước VND để kích thích kinh tế

Đầu tư trực tiếp (triệu USD) 317897 33849 38066 41673
Vốn từ các công ty - thị trường (Triệu USD) 3543 789 1744 6804
Nguồn: IMF
 Cán cân thanh toán được cải thiện:
Bảng 1.3: Cán cân tài khoản vốn c ủa Trung Qu ốc giai đo ạn 1994 – 2003
Trang 14
Nghiên cứu đề xuất giảm giá từng bước VND để kích thích kinh tế
của nhóm nghiên cứu Harvard
Biểu đồ 1.3: Cán cân thanh toán giai đoạn 1990 – 2005
 Tuy nhiên, Trung Quốc cũng đã phải chấp nhận trả giá bằng một mức
lạm phát cao không mong muốn năm 1994 là 24,24%, cao hơn năm 1993
Trang 15
Nghiên cứu đề xuất giảm giá từng bước VND để kích thích kinh tế
của nhóm nghiên cứu Harvard
24,24/ 14,58 = 66, 25%, lớn hơn mức ảnh hưởng thông thường của tỷ giá hối
đoái đến mức giá cả hàng hoá - dịch vụ của một nước (Theo thống kê của
các nhà kinh tế là <50%). Thực tế này có thể được giải thích do sự cộng
hưởng của các tác động của chính sách tiền tệ trước đó.
Bảng1.4: Tình hình kinh tế Trung Quốc những năm 1994 - 1997.
Chỉ tiêu 1994 1995 1996 1997
Lạm phát (% năm) 24,24 16,90 8,32 2,80
Tỷ giá hối đoái (trung b.nh NDT/USD) 8,6187 8,3514 8,3142 8,2898
Nguồn: IMF
Bảng 1.5 : Tình hình diễn biến của chính sách tiền tệ giai đoạn 1990 - 1997.
Năm 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997
Lãi suất
ngân hàng
(% năm)
7,92 7,20 7,20 10,08 10,98 10,44 9,00 8,55
Mức cung

Nghiên cứu đề xuất giảm giá từng bước VND để kích thích kinh tế
của nhóm nghiên cứu Harvard
Với chính sách phá giá đồng nội tệ, Việt Nam cần phải rất thận trọng do tác
động của nó sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế sâu sắc hơn đối với Trung Quốc giai
đoạn 1993-1994.
Chương 2:
ĐỀ XUẤT GIẢM GIÁ VND
CỦA NHÓM NGHIÊN CỨU HARVARD
  
2.1./ Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam:
Đề xuất này được nhóm nghiên cứu đại học Harvard đưa ra vào ngày 01/01/2009.
Cho nên, toàn bộ phần 2.1./ sẽ hướng tới tổng hợp và phân tích các chỉ tiêu kinh tế -
xã hội Việt Nam từ tháng 1 năm 2009 trở về trước.
2.1.1./ Thuận lợi để thực hiện đề xuất giảm giá VND:
2.1.1.1./ CPI tăng:
Trang 18
Nghiên cứu đề xuất giảm giá từng bước VND để kích thích kinh tế
của nhóm nghiên cứu Harvard
 Trong khoảng 8 tháng đầu năm, biểu đồ CPI tạo thành những đường dốc
đứng, trồi lên, sụt xuống kế tiếp nhau. “Nhịp điệu” tăng CPI tạo thành những đợt
sóng, vượt lên một tháng lại giảm tốc hai tháng mà đỉnh của những “con sóng” CPI
rơi vào các tháng 2, 5 và 8.
Nguồn: Tổng cục thống kê
Biểu đồ 2.1: CPI qua các năm
 Nếu tính sau một năm (tức là tháng 12 năm 2008 so với năm 2007), thì năm
2008 là năm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) có tốc độ tăng cao nhất so với 16 năm trước
đó (năm 1992 tăng 17,5%, năm 1993 tăng 5,2%, năm 1994 tăng 14,4%, năm 1995
tăng 12,7%, năm 1996 tăng 4,5%, năm 1997 tăng 3,6%, năm 1998 tăng 9,2%, năm
1999 tăng 0,1%, năm 2000 giảm 0,6%, năm 2001 tăng 0,8%, năm 2002 tăng 4%,
năm 2003 tăng 3%, năm 2004 tăng 9,5%, năm 2005 tăng 8,4%, năm 2006 tăng

cạnh đó, việc đầu cơ đã dẫn đến giá nhà, bất động sản hay chứng khoán liên tục
tăng giá, đặc biệt là trong năm 2007. Tỷ lệ lạm phát của Việt Nam cũng cao hơn
Trang 20
Nghiên cứu đề xuất giảm giá từng bước VND để kích thích kinh tế
của nhóm nghiên cứu Harvard
nhiều so với Thái Lan trong cuộc khủng hoảng năm 1997 (trung bình ở mức
10%/năm).

Nguồn: GSO, BVSC
Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ lạm phát của Việt Nam hiện cao hơn nhiều so với Thái Lan trong
cuộc khủng hoảng năm 1997 - trung bình ở mức 10%/năm
 Có hai nguyên nhân gây ra lạm phát ở Việt Nam:
 Neo tỷ giá cứng nhắc với USD dẫn đến cung tiền tăng mạnh:
 Kinh tế Việt Nam trẻ, được đánh giá có nhiều tiềm năng và triển vọng về
cơ hội đầu tư do vậy sau khi gia nhập WTO, lượng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt
Nam tăng đột biến (chỉ tính riêng năm 2007 đã tới 20 tỉ USD).
 Về nguyên tắc khi luồng vốn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam tăng, Việt
Nam Đồng (VND) sẽ lên giá để tạo ra điểm cân bằng. Tuy nhiên, với chiến lược
phát triển dựa vào xuất khẩu, NHNN Việt Nam phát hành VND mua lại lượng
ngoại tệ này với mục đích kìm tỉ giá của VND với đồng Đô la Mỹ (USD) thấp hơn
điểm cân bằng nhằm nâng cao tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu về giá cả. Giữ
VND yếu có thể coi là một hình thức trợ giá cho hàng xuất khẩu và phát huy ở trong
những điều kiện kinh tế thế giới nhất định.
 Tuy nhiên, mặt trái thứ nhất của chính sách này là do phải tung VND ra
mua lại lượng ngoại tệ chảy vào, lượng cung tiền của Việt Nam từ năm 2005 đến
nay tăng tổng cộng 135%. Đây là mức tăng rất lớn mặc dù NHNN đã có nỗ lực hút
lại một phần cung tiền.
Trang 21
Nghiên cứu đề xuất giảm giá từng bước VND để kích thích kinh tế
của nhóm nghiên cứu Harvard

chủ yếu là do cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, chính sách tiền tệ, tài khoá chưa thật
phù hợp, kém hiệu quả; chất lượng và tính bền vững của nền kinh tế thấp; công tác
chỉ đạo điều hành, nhất là về kinh tế vĩ mô tuy đã có bước tiến bộ nhưng còn nhiều
bất cập.
 Chính sách nới lỏng tiền tệ trong nhiều năm, đặc biệt là năm 2007, làm
tổng phương tiện thanh toán và tổng dư nợ tín dụng tăng cao, gây áp lực trực tiếp
đến lạm phát.
Nguồn: Số liệu theo Báo cáo Chính phủ 6/5/2008
Biểu đồ 2.4: Dư nợ tín dụng qua các năm
 Sang quí III/2008 khủng hoảng tài chính từ Mỹ đã bắt đầu lan rộng, giá
cả trên toàn thế giới suy giảm, góp phần kiềm chế lạm phát những tháng cuối năm,
nhưng Ngân hàng nhà nước vẫn duy trì chính sách thắt chặt tiền tệ, lãi suất ngân
vẫn duy trì quá cao, đến tận tháng 10/2008 lãi suất cơ bản vẫn ở mức 13%/năm và
lãi suất cho vay vẫn ở khoảng 19-21%/năm.
Trang 23
Nghiên cứu đề xuất giảm giá từng bước VND để kích thích kinh tế
của nhóm nghiên cứu Harvard
Biểu đồ 2.5: Diễn biến lãi suất năm 2008
 Chỉ đến khi nền kinh tế bộc lộ sự phát triển trì trệ, giá tiêu dùng giảm
phát vào tháng 10 và có dấu hiệu tiếp tục giảm phát CPI, chính phủ mới mạnh dạn
nới lỏng hơn chính sách tiền tệ mạnh tay giảm lãi suất cơ bản 4% xuống còn 10%
trong vòng 6 tuần.

Chính sách tiền tệ thắt chặt của Ngân hàng Nhà nước đã kiểm soát lạm
phát một cách thành công. Tuy nhiên, nó vẫn có điểm hạn chế.
 Điểm hạn chế thứ nhất của chính sách tiền tệ trong năm 2008 là ở thị trường
ngoại hối. Nếu giữ chính sách tỷ giá cố định trong hoàn cảnh nền kinh tế thế giới
bất ổn, dòng chu chuyển vốn phức tạp cùng với nền kinh tế “đô la hóa” cao của Việt
Nam thì sẽ rất khó cho chính sách kiểm soát tiền tệ.
 Trên thị trường tự do, dấu hiệu tăng tỷ giá bắt đầu xuất hiện từ cuối tháng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status