Nghiên cứu đề xuất hạ giá từng bước Việt Nam đồng để kích thích kinh tế của nhóm nghiên cứu Harvard - Pdf 24

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Trong hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia, quản lý điều
hành tỉ giá là một nội dung quan trọng mà ngân hàng nhà nước phải quan tâm
nhằm mục đích ổn định tỉ giá và đạt được mục tiêu cuối cùng là tăng trưởng
kinh tế.
Ở Việt Nam, tỉ giá đã bước đầu hình thành, phát triển trong một thời gian
và có vai trò lớn đối với nền kinh tế đặc biệt trong quá trình chuyển đổi từ cơ
chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường. Tỉ giá giúp so sánh sức mua,
giá trị giữa các đồng tiền tạo điều kiện cho các giao dịch quốc tế; tỉ giá cũng ảnh
hưởng tới tình hình xuất nhập khẩu của quốc gia và là một công cụ điều tiết vĩ
mô đầy hiệu quả. Với những tác động và vai trò to lớn của tỉ giá thì nhà nước
cần thiết phải điều hành quản lý tỉ giá để đảm bảo cho nền kinh tế có tốc độ tăng
trưởng, phát triển cao; đặc biệt là trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế tài chính
toàn cầu như hiện nay.
Nắm bắt được những yêu cầu đặt ra ở trên, chính phủ Việt Nam đã có
chương trình hợp tác nghiên cứu kinh tế Fulbright phối hợp với Trung tâm Châu
Á của Trường Harvard Kenedy School nhằm nghiên cứu và tìm ra được những
hướng đi cho chính sách tỷ giá của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Vậy bản cáo Harvard đã đề xuất những phương án như thế nào đối với
chính sách quản lý tỷ giá hiện nay, cũng như những đề xuất của nhóm nghiên
cứu Harvard có hoàn tòan phù hợp với tình hình hiện tại của Việt Nam hay
không? Xuất phát từ những quan điểm nêu trên, nhóm chúng em đã thực hiện đề
tài: “Nghiên cứu đề xuất hạ giá từng bước Việt Nam đồng để kích thích kinh tế
của nhóm nghiên cứu Harvard” để hiểu biết thêm về tỉ giá, cũng như tình hình
chính sách quản lỳ tỉ giá của Việt Nam trong tình hình hiện tại. Vì thời gian làm
đề tài ngắn, kinh nghiệm và hiểu biết còn hạn chế; Do đó, quá trình thực hiện
chắc chắn còn có những sai sót, mong cô hiểu, thông cảm và đóng góp để đề tài
của nhóm chúng em hoàn thiện hơn.
Nhóm chúng em xin chân thành cảm ơn.
GVHD: Ñinh Thò Thu Hoàng Trang 1

GVHD: Ñinh Thò Thu Hoàng Trang 3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
của nước đó và các nước có liên quan. Cụ thể chúng ta có thể xác định vai trò
của tỉ giá như sau:
Thứ nhất, tỉ giá là đại lượng xác định quan hệ về mặt giá trị, so sánh sức
mua giữa các đồng tiền với nhau, hình thành nên tỉ lệ trao đổi giữa các đồng tiền
khác nhau với nhau để thuận tiên cho các giao dịch quốc tế.
Thứ hai, tỉ giá có tác động to lớn đến thương mại quốc tế, xuất-nhập khẩu
hàng hoá, dịch vụ của một nước với nước khác.
Thứ ba, chính phủ các nước đã lợi dụng các tác động của tỉ giá đến nền
kinh tế để điều tiết nền kinh tế hay nói cách khác tỉ giá được sủ dụng với vai trò
là một công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nước thông qua các tác động sau đây:
 Tác động của tỷ giá hối đoái đối với cán cân thương mại.
 Tác động của tỷ giá hối đoái đối với lạm phát.
 Tác động của tỷ giá hối đoái đối với đầu tư quốc tế.
0.1.3 Quá Trình Hình Thành Của Tỉ Giá:
0.1.3.1 Tỉ Giá Ngang Giá Vàng Trong Chế Độ Bản Vị Vàng:
Từ năm 1880 cho đến đầu chiến tranh thế giới lần thứ nhất 1914, chế độ tỉ
giá được áp dụng là chế độ bản vị vàng. Trong chế độ này, vàng được sử dụng
làm nền tảng cơ sở của tiền tệ và một quốc gia sẽ xác định đơn vị tiền tệ của
mình bằng hàm lượng vàng chứa bên trong một đơn vị ấy. Ví dụ:
 . Hàm lượng vàng chứa trong 1 USD = 1.504g vàng (trước năm
1914).
 . Hàm lượng vàng chứa trong 1 GBP = 7.320g vàng (trước năm
1914).
Còn tỉ giá được xác định trên cơ sở ngang giá hàm lượng vàng tức đông
giá vàng. Ví dụ như tỉ giá giữa GBP và USD: 1 GBP/1 USD = 7.320/1.504 =
4.867, vậy 1GBP tương đương với 4.867 USD.
Tỉ giá giữa các đồng tiền được xác định một cách chính xác như vậy
nhưng trên thực tế tỉ giá không cố định và luôn biến động xung quanh đồng giá

trong quan hệ thanh toán quốc tế và được IMF xác định tiêu chuẩn giá cả với 1
USD = 0,888671 gam vàng. Chính vì vậy mà đã hình thành tỷ giá cố định giữa
GVHD: Ñinh Thò Thu Hoàng Trang 5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
USD với đồng tiền các nước trong IMF. Để giữ vững tỷ giá cố định với USD,
các nước trong IMF chỉ được mua bán ngoại tệ theo tỷ giá trong phạm vi biên độ
± 1% so với tỷ giá chính thức. Để giữ vững tỷ giá vàng IMF còn quy định giá
vàng là 35 USD/ounce vàng. Như vậy trong trường hợp nếu giá vàng trên thị
trường vượt qua 35 ounce vàng thì Mỹ tung vàng ra bán với giá 35 USD/ounce
vàng và ngược lại, khi giá vàng dưới 35 USD/ounce vàng thì Mỹ tung USD ra
và mua vàng về.
Với chế độ tiền tệ này, các nước đã duy trì được tỷ giá cố định trong thời
gian tương đối dài cho đến năm 1960. Bắt đầu từ sau năm 1960, nền kinh tế Tây
Âu và Nhật được phục hồi và có khả năng cạnh tranh với Mỹ, hơn nữa đồng
USD của Mỹ đã bị khủng hoảng và suy yếu, các nước dự trữ USD ngày càng
nhiều, đã lần lượt tấn công vào kho vàng của Mỹ, buộc Mỹ chuyển đổi USD ra
vàng. Sau hai lần phá giá USD hàm lượng vàng của 1 USD là 0.736662 g vàng.
Tình hình này làm cho kho dự trữ vàng của Mỹ tụt xuống thấp nhất và chính
thức ngày 13. 2.1973 Mỹ đơn phương tuyên bố chế độ tiền tệ Bretton Woods
sụp đổ và hầu hết các nước tư bản đều thi hành chính sách thả nổi của đồng tiền
nước mình.
0.1.3.3 Tỉ Giá Hối Đoái Sau Chế Độ Tiền Tệ Bretton Woods:
Sau khi chế độ tiền tệ Bretton Woods sụp đổ đến nay, các nước trên thế
giới chủ yếu lưu thông tiền giấy không chuyển đổi ra vàng trong lưu thông, hàm
lượng vàng chỉ mang tính chất tượng trưng, giá trị tiền tệ luôn thay đổi, tỷ giá
biến động không ngừng nên việc xác định tỷ giá không dựa trên đồng giá vàng
mà trên cơ sở so sánh sức mua của hai đồng tiền, bao gồm sức mua trong nước
và sức mua quốc tế gọi là ngang giá sức mua.
Trên thực tế tỉ giá được hoàn toàn xác định do quan hệ cung cầu ngoại hối
trên thị trường, tại mỗi thời điểm nhất định ở mỗi thị trường khác nhau trên thế

Chế độ tỷ giá thả nổi cho phép xác định một tỷ giá danh nghĩa gần với sức
mua thực tế của đồng tiền các nước. Nó phản ánh tương đối xác thực những biến
đổi kinh tế của mỗi nước và sự thay đổi trong tương quan kinh tế giữa các nước
với nhau.
GVHD: Ñinh Thò Thu Hoàng Trang 7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Một lợi điểm khác của tỷ giá thả nổi tự do là các ngân hàng trung ương
không bị đòi hỏi phải liên tục duy trì tỷ giá hối đóai trong biên độ đã định. Vì
vậy họ không bị bắt buộc phải thực hiện một chính sách can thiệp có thể tạo nên
những tác động không thuận lợi đối với nền kinh tế chỉ để kiểm sóat tỷ giá. Hơn
nữa, các chính phủ có thể thực thi những chính sách mà không cần bận tâm là
các chính sách này sẽ duy trì được tỷ giá trong các biên độ quy định hay không.
Cuối cùng, nếu tỷ giá không được phép thả nổi, các nhà đầu tư sẽ đầu tư vốn của
mình vào bất cứ nước nào có lải suất thấp, hạn chế vốn của các nhà đầu tư đem
ra khỏi nuớc mình. Như vậy, sẽ có nhiều hạn chế dòng vốn và hiệu quả của thị
trường tài chính sẽ giảm sút
Nhưng, bên cạnh đó, khi phản ánh được sự thay đổi trong sức mua thực tế
của của đồng tiền, các khả năng thích ứng với các biến động lớn của nền kinh tế
và tạo khả năng thực thi chính sách tiền tệ chủ động của các chính phủ thì tỷ giá
hối đoái thả nổi lại gây ra những biến động tỷ giá hết sức thất thường, làm cho
sự lên giá – xuống giá của các đồng tiền không sao dự đoán được (làm tăng tính
rủi ro của tỷ giá hối đoái). Điều này làm tăng thêm những yếu tố gây mất ổn
định của các nền kinh tế, cản trở khả năng kiểm soát quá trình tăng trưởng và
phát triển kinh tế của các chính phủ.
0.1.4.3 Chế Độ Tỷ Giá Hối Đoái Hỗn Hợp Giữa Cố Định Và Thả
Nổi.
Tỷ giá hỗn hợp giữa cố định và thả nổi là tỷ giá thả nổi nhưng có sự can
thiệp của Chính phủ để tác động đến tỷ giá hối đoái phục vụ chiến lược chung
của nước mình. Đó là một chế độ tỷ giá trung gian giữa tỷ giá cố định với tỷ giá
thả nổi, trong đó tỷ giá hối đoái cần phải có khả năng phản ảnh được những biến

Tháng 10/1990 Anh đồng ý gia nhập thể thức tỷ giá hối đoái của EMS .
Theo thể thức này , đồng bảng sẽ được phép giao động +_ 6% so với tỷ giá 2,95
mark Đức mỗi bảng.
Các tỷ giá trung tâm của vài đồng tiền ràng buộc với đồng ECU đã được
điều chỉnh nhiều lần giữa năm 1986 và 1991.
GVHD: Ñinh Thò Thu Hoàng Trang 9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mỗi đồng tiền ràng buộc với đồng ECU được phân bổ một tỷ giá gọi là tỷ
giá hối đoái trung tâm tương ứng với đồng ECU. Các tỷ giá được giao này ta có
thể xác định tỷ giá trung tâm giữa hai đồng tiền bất kỳ nào đó .Với tỷ giá trung
tâm của hai đồng tiền này, có thể xác định các giới hạn trên và dưới bằng cách
áp dụng biên độ +_ 2,25%.
Một vài chính phủ có thể không đồng ý về các tỷ giá hối đóai trung tâm
thích hợp. Ngòai ra, một vài chính phủ có thể thích một vùng mục tiêu rộng hơn
các chính phủ khác
Nếu các vùng mục tiêu được thực hiện ,các chính phủ sẽ chịu trách nhiệm
can thiệp để giữ cho các đồng tiền của mình nằm trong các vùng này. Nếu các
vùng vừa đủ rộng ,ít khi cần đến sự can thiệp của chính phủ . Tuy nhiên, các
vùng rộng như vậy về cơ bản sẽ gần giống như hệ thống tỷ giá thả nổi tự do. Các
chính phủ thường can thiệp khi giá trị của một đồng tiền biến động vượt khỏi
một vùng ẩn có thể chấp nhận được nào đó
Nếu các vùng mục tiêu hẹp, các chính phủ sẽ bị buộc phải can thiệp liên
tục, mà trong vòng một vài trường hợp sẽ làm trở ngại các chính sách kinh tế
khác
Nếu các chính phủ không thể duy trì giá trị của một đồng tiền trong phạm
vi mục tiêu, hệ thống này không thể tạo nên sự ổn định trong các thị trường quốc
tế. Một quốc gia đang chịu một thâm hụt cán cân mâu dịch lớn có thể cố ý cho
phép đồng tiền của mình thả nổi thấp hơn biên độ dưới để kích thích mức cầu
của nước ngoài đối với xuất khẩu của mình. Kết quả là có thể có các thay đổi
lớn trong các mẫu mực mậu dịch quốc tế. Hơn nữa , giá cả ở thị trường tài chính

trong chính sách tiền tệ . Ngoài ra , tỷ giá thay đổi một cách định kỳ cũng có
nghĩa là vai trò của chính sách tỷ giá đối với việc điều chỉnh cán cân thanh toán
sẽ được duy trì . Cuối cùng , bởi vì chỉ có mỗi thay đổi với tỷ lệ nhỏ cho nên ít
có nguy cơ dẫn đến đầu cơ tiền tệ. Vào tháng 09/1996 ChiLê và Nicaragua đã
áp dụng thành công chế độ tỷ giá con rắn tiền tệ
Những tranh luận chống lại hệ thống này là một thay đổi lớn trong vị thế
cán cân thanh toán của một quốc gia do các cú sốc bên trong và bên ngoài sẽ cần
GVHD: Ñinh Thò Thu Hoàng Trang 11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
có một thay dổi lớn để tái lập thế cân bằng cán cân thanh toán . Nếu cứ duy trì
liên tục hệ thống con rắn tiền tệ một cách nghiêm ngặt thì quốc gia đó có thể hy
sinh các mục tiêu bên trong như công ăn việc làm ,sức cạnh tranh hàng xuất
khẩu … Ngoài ra , nếu những thay đổi ngang giá nhỏ xảy ra định kỳ và nếu như
không dự đoán được sẽ làm phát sinh thêm những rủi ro trong đầu tư và thương
mại quốc tế . Cuối cùng trong điều kiện nền kinh tế không ổn định và có lạm
phát cao thì hệ thống này có thể chuyển sang giống như hệ thống tỷ giá thả nổi .
Columbia là một điển hình về thất bại trong việc áp dụng hệ thống tỷ giá neo
theo đồng đô la giai đoạn 1980-1990
0.1.4.3.3 Hệ Thống Tỷ Giá Thả Nổi Có Quản Lý .
Hệ thống tỷ giá hối đoái hiện hữu ngày nay đối với một vài đồng tiền nằm
đâu đó giữa cố định và thả nổi tự do . Nó giống hệ thống thả nổi tự do ở điểm
các tỷ giá được cho phép dao động hàng ngày và không có các biên độ chính
thức . Nhưng nó lại giống hệ thống cố định ở điểm các chính phủ có thể và đôi
khi can thiệp để tránh đồng tiền nước họ không đi quá xa theo một hướng nào
đó. Loại hệ thống này được gọi là thả nổi có quản lý , hay thả nổi “không hoàn
toàn” ( để đối lại với thả nổi “hoành toàn” khi tỷ giá thả nổi tự do không có sự
can thiệp của chính phủ )
0.1.4.3.4 Chế Độ Tỷ Giá Chuẩn Tiền Tệ:
Đây là một hệ thống tỷ giá hối đoái đặc biệt đã và đang áp dụng ở các
nước như Achentina, Hongkong, Estonia, Bungari và Lithuania để tạo niềm tin

phải xem xét lãi suất thực, là lãi suất danh nghĩa đã điều chỉnh theo tỷ lệ lạm
phát. Theo hiệu ứng Fisher:
“Lãi suất thực = Lãi suất danh nghĩa – Tỷ lệ lạm phát”
Chúng ta thường so sánh lãi suất thực giữa các quốc gia để đánh giá
những biến đông của tỷ giá hối đoái bởi lẽ nó kết hợp giữa lãi suất danh nghĩa
và tỷ lệ lạm phát mà cả hai nhân tố này đều ảnh hưởng đến tỷ giá. Khi các nhân
tố khác không đổi, sẽ có một tương quan cao giữa chênh lệch lãi suất thực của
hai quốc gia với tỷ giá của hai đồng tiền của hai nước đó.
GVHD: Ñinh Thò Thu Hoàng Trang 13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
0.1.5.5 Thu Nhập Tương Đối:
Nhân tố thứ ba tác động đến tỷ giá hối đoái là mức thu nhập tương đối.
Thu nhập của quốc gia 1 tăng trong khi thu nhập của quốc 2 lại không đổi thì tác
động : làm cho cầu đồng quốc gia 2 tăng do nhu cầu về hàng hóa quốc gia 2 của
người dân quốc gia 1 tăng, trong khi cung đồng quốc gia 2 không đổi và vì thế,
tỷ giá tăng lên.
0.1.5.6 Kiểm Soát Của Chính Phủ:
Chính phủ có thể tác động đến tỷ giá cân bằng qua nhiều cách khác nhau:
 Áp đặt những hàng rào cản về ngoại hối
 Áp đặt những rào cản về ngoại thương
 Can thiệp thị trường ngoại hối
 Tác động đến những biến động vĩ mô như lạm phát, lãi suất và thu
nhập quốc dân.
Các chính sách chính phủ thường áp dụng để tác động đến tỷ giá hối đoái:
 Chính sách chiết khấu: Đây là chính sách mà ngân hàng Trung
Ương bằng cách thay đổi lãi suất cho vay chiết khấu của mình để điều chỉnh tỷ
giá hối đoái trên thị trường.
 Chính sách hối đoái: Đây là chính sách mà Ngân hàng trung ương
can thiệp vào thị trường ngoại hối bằng cách mua bán ngoại hối trên thị trường.
 Phá giá tiền tệ: Đây là sự nâng cao một cách chính thức tỷ giá hối

hối đoái có thể thay đổi một cách nhanh chóng nên các vị thế đầu cơ tiền tệ điều
chỉnh ngay lập tức, tạo ra những mẫu hình khó xác định trong tỷ giá hối đoái.
Phản ứng quá mức xảy ra bởi lẽ các nhà đầu cơ thường thực hiện các vị thế dựa
vào các dấu hiệu của các hành động tương lai chứ không phải là khẳng định của
những hành động và những dấu hiệu này có thể bị dẫn dắt sai bởi các lực của thị
trường.
GVHD: Ñinh Thò Thu Hoàng Trang 15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
PHẦN II. QUÁ TRÌNH TỰ DO HÓA LÃI SUẤT Ở VIỆT
NAM:
Quá trình tư do hóa lãi suất ở VN, chính là quá trình điều hành cơ chế lãi
suất qua các thời kỳ phát triển của nền kinh tế, quá trình đó được thể hiện như
sau:
0.2 Lãi Suất ở Thời Kỳ Thực Thi Cơ Chế Quản Lý Nền Kinh Tế
Theo Phương Thức Quản Lý Kế Hoạch Hóa Tập Trung (Trước Năm
1988):
 Đặc trưng cơ bản của lãi suất thời kỳ thực thi chế độ quản lý nền kinh tế
theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung kéo dài, đó là áp dụng chính sách lãi suất bao
cấp khá nặng nề, lãi suất đựơc xây dựng thoát ly lãi suất của nền kinh tế thế giới.
 Dẫn đến lãi suất thực thi trong thời kỳ này với tình trạng “lãi giả và lỗ
thật” làm cho ngân hàng không thể bảo toàn vốn của mình do lạm phát tăng cao
và lãi suất thực là số âm, vì tỷ lệ lạm phát đã lớn hơn lãi suất danh nghĩa.
0.2.1 Lãi Suất Thời Kỳ Nền Kinh Tế Bắt Đầu Chuyển Sang Nền Kinh
Tế Thị Trường Phát Triển Theo Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Có Sự Quản
Lý Của Nhà Nước (Từ Năm 1988 Đến Nay).
 Bước ngoặt trong tiến trình đổi mới, cải cách nền kinh tế VN trong lĩnh
vực ngân hàng bắt đầu bằng Nghị định 53/HĐBT ngày 26.3.1988 của Hội đồng
bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ). Nội dung cơ bản của Nghị định
53/HĐBT đó là “Đã hình thành việc phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ của
Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng chuyên doanh, làm tiền đề cho hai pháp

sang cơ chế lãi suất thực dương.
0.2.1.2 Cơ Chế Điều Hành Khung Lãi Suất (6.1992-1995):
 Đặc trưng của cơ chế này là Ngân hàng Nhà nước điều hành cơ chế lãi
suất theo khung lãi suất, quy định rõ sàn lãi suất tiền gửi và trần lãi suất cho vay
đối với nền kinh tế.
 Các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng căn cứ khung lãi suất
của ngân hàng thương mại để đưa ra các lãi suất thích hợp cho mình, thực chất
GVHD: Ñinh Thò Thu Hoàng Trang 17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
là bước chuyển đổi căn bản từ cơ chế lãi suất âm sang cơ chế lãi suất dương,
đảm bảo cho các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng kinh doanh có
hiệu quả, đây là cơ chế lãi suất khởi đầu cho quá trình tự do hóa lãi suất ở nước
ta.
0.2.1.3 Cơ Chế Điều Hành Lãi Suất Trần (1996-7.2000):
 Nét cơ bản của cơ chế điều hành trần lãi suất, đó là Ngân hàng Nhà
nước đã thay đổi căn bản cơ chế điều hành linh hoạt trần lãi suất, bước đầu đã
thực hiện tự do hóa lãi suất huy động (lãi suất đầu vào của ngân hàng thương
mại) và linh hoạt trần lãi suất cho vay (lãi suất đầu ra).
 Cơ chế lãi suất này đã góp phần duy trì sự tăng trưởng kinh tế, kiểm soát
lạm phát, ổn định sức mua của VND trong sự tương quan của các đồng tiền
trong khu vực do có khủng hoảng tiền tệ năm 1997-1998 ở các nước Đông Nam
Á.
0.2.1.4 Cơ Chế Điều Hành Lãi Suất Cơ Bản Kèm Biên Độ
(8.2000-5.2002):
 Nội dung của cơ chế điều hành lãi suất cơ bản kèm biên độ là Ngân
hàng Nhà nước đã điều hành cơ chế lãi suất theo luật ngân hàng để thay thế cho
cơ chế lãi suất trần. Lãi suất cơ bản và biên độ được công bố định kỳ hàng
tháng, trường hợp cần thiết, Ngân hàng Nhà nước sẽ công bố điều chỉnh kịp
thời.
 Đối với lãi suất cho vay bằng ngoại tệ, về cơ bản các ngân hàng thương

 Những ưu điểm nổi bật của cách thức xác định tỷ giá mới này
có thể phân tích theo một số khía cạnh sau:
o Thứ nhất: Việc thay đổi về cơ chế quản lý điều hành tỷ giá đã tạo
quyền chủ động cho các NHTM trong việc tự qui định tỷ giá giữa đồng Việt
Nam với các ngoại tệ khác (không phải là USD)
o Thứ hai: Tỷ giá NHNN công bố hàng ngày là tỷ giá giao dịch bình
quân trên thị trường liên Ngân hàng, điều này phản ánh tỷ giá của đồng Việt
Nam được hình thành trên cơ sở giao dịch trên thị trường và phản ánh tương đối
GVHD: Ñinh Thò Thu Hoàng Trang 19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
khách quan sức mua của đồng Việt Nam so với ngoại tệ, tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp chủ động hơn trong kinh doanh đồng thời vẫn đảm bảo được vai
trò kiểm soát của Nhà nước.
o Thứ ba: Trước đây, do tỷ giá NHNN công bố cứng nhắc không thực sự
phản ánh quan hệ cung cầu nên nếu thấy giá mua ngoại tệ của các ngân hàng
thấp thì các doanh nghiệp mang ngoại tệ ra thị trường tự do bán, ngược lại, nếu
mua ngoại tệ của các ngân hàng quá khó khăn thì mua trên thị trường tự do. Vì
thế, chỉ cần có những biến động nhỏ trong nền kinh tế cũng đủ tác động để mở
ra một khoảng cách rộng giữa tỷ giá thị trường tự do và tỷ giá các NHTM. Hiện
nay với cơ chế điều hành tỷ giá mới xuất phát từ cung cầu ngoại tệ giữa các
ngân hàng, nên nó sẽ gần gũi hơn với tỷ giá thị trường tự do và như vậy những
biến động để có thể tạo ra khoảng cách giữa tỷ giá thị trường tự do và tỷ giá của
các NHTM sẽ khó có thể xảy ra.
o Thứ tư: Với cơ chế điều hành tỷ giá trước đây, vì NHNN muốn ổn
định, không thay đổi, trong khi đó khả năng cung ứng ngoại tệ của NHNN cũng
như các NHTM thấp nên nhu cầu ngoại tệ của các doanh nghiệp cũng thường
xuyên không được đáp ứng điều này đã làm cho nhiều doanh nghiệp phải lao
đao khi phải đối mặt với các nhu cầu thanh toán đến hạn mức ngoài. Còn với cơ
chế điều hành tỷ giá như hiện nay thì bản thân tỷ giá tự do nó đã được điều
chỉnh theo quan hệ cung cầu, hay nói cách khác chính nhu cầu của các doanh

thiểu sức ép phá giá VND so với ngoại tệ khác.
GVHD: Ñinh Thò Thu Hoàng Trang 21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bảng 2.1: Tỷ giá hối đoái 1999-2006
N
ăm
Tháng 1 Tháng 6 Tháng
12
Bình
quân
C
hính
thức
T
ự do
C
hính
thức
T
ự do
C
hính
thức
T
ự do
C
hính
thức
T
ự do

1
4617
1
4159
1
4265
2
001
1
4510
1
4620
1
4746
1
4853
1
5050
1
5120
1
4796
1
4825
2
002
1
5065
1
5135

2
004
1
5603
1
5695
1
5717
1
5672
2
005
1
5750
1
5818
1
5863
1
5809
2
006
1
5902
1
5996
1
6055
1
5984

đầu năm 2004, tỷ giá bình quân liên ngân hàng, tỷ giá giao dịch USD/VND của
các NHTM và tỷ giá mua bán USD trên thị trường tự do chỉ tăng khoảng 100
-110 USD/VND, tương đương 0,69-0,7%, thấp hơn nhiều so với mức tăng
0,99% của cùng kỳ năm ngoái.
 Với mục tiêu bám sát cung - cầu ngoại tệ trên thị trường và
biến động tỷ giá giữa các ngoại tệ chủ chốt trên thị trường quốc tế, đồng
thời hạn chế bớt ảnh hưởng tiêu cực của sự biến động về giá trên thế giới và
trong nước, công tác điều hành tỷ giá trong 9 tháng đầu năm 2004 đã được
NHNN tiến hành thận trọng, linh hoạt, do đó về cơ bản đã duy trì được sự cân
bằng về cung – cầu ngoại tệ.
 Tính đến thời điểm cuối tháng 9/2004, tỷ giá mua bán USD/VND
của các NHTM dao động quanh mức 15.750/15.760 USD/VND, tỷ giá mua bán
USD/VND trên thị trường tự do dao động quanh mức 15.750/15.770
USD/VND. Như vậy, chênh lệch tỷ giá giữa thị trường chính thức và thị trường
tự do đã thu hẹp đến mức hầu như không đáng kể (khoảng 10 USD/VND).
 Trong năm 2005, việc điều hành tỷ giá USD/VND đã đạt được sự
ổn định tương đối, cả năm chỉ tăng 0,86%, không tạo ra những bất lợi cho sự
phát triển kinh tế, khuyến khích xuất khẩu và kiểm soát nhập khẩu. Việc điều
hành tỷ giá đã gắn với quan hệ cung – cầu trên thị trường. Tỷ giá trên thị trường
tự do và trên thị trường liên ngân hàng không có sự chênh lệch đáng kể.
 Trong 6 tháng đầu năm 2006, tỷ giá USD/VND ổn định trong quí
I, tăng cao trong tháng 6 do ảnh hưởng của việc tăng giá dầu, giá vàng và do tâm
GVHD: Ñinh Thò Thu Hoàng Trang 24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
lý của một bộ phận dân cư. Tỷ giá USD/VND trong tháng 6 có tăng nhưng giảm
0,3% so với tháng 5; tăng 0,6% so với tháng 12/2005 và giảm 1,1% so với cùng
kỳ năm trước. 06 tháng cuối năm 2006, NHNN tiếp tục thực hiện cơ chế tỷ giá
thả nổi có quản lý, thực hiện can thiệp mua bán ngoại tệ trên thị trường theo mục
tiêu chính sách kinh tế vĩ mô, góp phần kiểm soát lạm phát, khuyến khích xuất
khẩu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status