Đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực xây dựng cơ bản của công ty cổ phần tài chính và phát triển doanh nghiệp - Pdf 29

Lời nói đầu
Cạnh tranh xuất hiện cùng với nền kinh tế thị trờng và nó nh một tất yếu
khách quan không thể xóa bỏ. Đồng thời, cạnh tranh cũng là một điều kiện thúc
đẩy nền kinh tế thị trờng phát triển. Đối với các doanh nghiệp, cạnh tranh quyết
định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh, ảnh hởng đến uy tín của doanh nghiệp trên thị tr-
ờng. Đối với ngời tiêu dùng, nhờ có cạnh tranh mà họ đợc thoả mãn đợc nhu
cầu về hàng hoá và dịch vụ: chất lợng sản phẩm ngày càng cao với một mức giá
ngày càng phù hợp. Đối với nền kinh tế quốc dân, cạnh tranh là động lực thúc
đẩy sự phát triển bình đẳng của mọi thành phần kinh tế, tạo điều kiện để phát
huy lực lợng sản xuất, nâng cao tiến bộ khoa học kỹ thuật, hiện đại hoá nền sản
xuất xã hội, đó cũng là điều kiện để xoá bỏ độc quyền bất hợp lý, xoá bỏ bất
bình đẳng trong kinh doanh, phát huy tính tháo vát và năng động, óc sáng tạo
của các doanh nghiệp, gợi mở nhu cầu thông qua việc tạo ra nhiều sản phẩm
mới, nâng cao chất lợng đời sống xã hội.
ở nớc ta trong thời kỳ kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, cạnh tranh hầu
nh không tồn tại. Mọi quan hệ kinh tế trong giai đoạn này đều do Nhà nớc chi
phối, độc quyền quyết định, các doanh nghiệp không có môi trờng cạnh tranh
để phát triển mà tồn tại một cách bị động phục thuộc hoàn toàn vào Nhà nớc.
Chính vì vậy, nền kinh tế luôn bị kìm hãm và không thể phát triển.
Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đang tiếp tục xây dựng nền kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý
của Nhà nớc và ngời ta bắt đầu đề cập nhiều đến vấn đề cạnh tranh. Thực tế
cho thấy rằng năng lực cạnh tranh của hầu hết hàng hoá của Việt Nam trên
thị trờng trong nớc cũng nh nớc ngoài còn rất yếu kém. Vấn đề càng trở nên
bức xúc khi áp lực cạnh tranh do quá trình tự do hoá thơng mại trong khuôn
khổ AFTA, trong khi đó các doanh nghiệp Việt Nam lại tỏ ra cha sẵn sàng
đối mặt với những thách thức từ cuộc cạnh tranh gay gắt ấy. Nếu tình hình
này vẫn tiếp tục đợc duy trì thì nguy cơ tụt hậu của nền kinh tế Việt Nam sẽ
1
rất nghiêm trọng, nhất là trong bối cảnh xu thế hôi nhập kinh tế khu vực và

(FBS).
Chơng III: Một số giải pháp chủ yếu để đầu t nâng cao đợc khả năng
cạnh tranh của Công ty cổ phần tài chính và phát triển doanh nghiệp (FBS).
Trong quá trình viết, em đã nhận đợc sự giúp đỡ rất nhiệt tình của các cô,
chú trong phòng kinh doanh của Công ty cổ phần tài chính và phát triển doanh
nghiệp (FBS). Đặc biệt là sự hớng dẫn nhiệt tình của TS Nguyễn Hồng Minh.
Em xin chân thành cảm ơn tất cả những sự giúp đỡ quý báu và nhiệt tình
đó .
3
Chơng I
Lý luận chung về đầu t, doanh nghiệp, cạnh tranh và
đầu t nâng cao năng lực cạnh tranh
I. Một số vấn đề chung về đầu t.
1. Khái niệm về đầu t và đầu t phát triển.
Xuất phát từ phạm vi phát huy tác dụng của các kết quả đầu t chúng ta có
thể có những cách hiểu khác nhau về đầu t.
Đầu t theo nghĩa rộng, nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại
để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tơng
lai lớn hơn nguồn lực đã bỏ ra để đạt đợc các kết quả đó. Nguồn lực đó có thể là
tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ.
Những kết quả đó có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền vốn),
tài sản vật chất (nhà máy, đờng xá, các của cải vật chất khác...), tài sản trí tuệ
(trình độ văn hóa, chuyên môn, khoa học kỹ thuật...) và nguồn nhân lực có điều
kiện để làm việc với năng suất cao hơn trong nền sản xuất xã hội.
Trong các kết quả đã đạt đợc nh trên đây, những kết quả là các tài sản vật
chất, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực tăng thêm có vai trò quan trọng trong mọi
lúc, mọi nơi, không chỉ đối với ngời bỏ vốn mà còn đối với cả nền kinh tế.
Theo nghĩa hẹp, đầu t chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn
lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế - xã hội những kết quả trong tơng
lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt đợc kết quả đó.

trong nhiều năm, có khi hàng trăm năm, thậm chí tồn tại vĩnh viễn. Điều này
nói lên giá trị lơn lao của các thành quả đầu t phát triển
* Vị trí của các công trình xây dựng là cố định, các công trình này sẽ
hoạt động ở ngay nơi mà nó đợc tạo dựng nên. Do đó, các điều kiện về địa hình
có ảnh hởng lớn đến quá trình thực hiện đầu t cũng nh tác động sau này của kết
quả đầu t.
* Ngoài ra, các yếu tố rủi ro đầu t luôn luôn rình rập. Nếu ngời đầu t,
ngời quản lý không đánh giá đúng hay nhận dạng đủ các nhân tố rủi ro có thể
5
xảy ra và có kế hoạch quản lý phòng ngừa thì rất dễ gây ra sự đổ vỡ cho dự
án.
3. Vai trò của đầu t phát triển.
3.1. Trên giác độ toàn bộ nền kinh tế của đất nớc
3.1.1. Đầu t vừa tác động đến tổng cung, vừa tác động đến tổng cầu.
* Về mặt cầu: đầu t là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của
toàn bộ nền kinh tế . Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, đầu t thờng chiếm
khoảng 24 - 28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nớc trên thế giới. Đối với
tổng cầu, tác động của đầu t là ngắn hạn. Với tổng cung cha kịp thay đổi, sự
tăng lên của đầu t làm cho tổng cầu tăng, kéo theo mức sản lợng cân bằng tăng
và giá cả của các đầu vào của đầu t tăng.
* Về mặt cung: khi thành quả của đầu t phát huy tác dụng, các năng lực
mới đi vào hoạt động thì tổng cung, đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng lên, kéo
theo sản lợng tiềm năng tăng và do đó giá cả giảm. Sản lợng tăng, giá cả giảm
cho phép tăng tiêu dùng. Tăng tiêu dùng đến lợt mình lại tiếp tục kích thích sản
xuất hơn nữa. Sản xuất phát triển là nguồn gốc cơ bản để tăng tích luỹ, phát
triển kinh tế xã hội, tăng thu nhập cho ngời lao động, nâng cao đời sống của
mọi thành viên trong xã hội.
3.1.2. Đầu t có tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế .
Sự tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu t đối với tổng cầu
và tổng cung của nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của đầu t, dù là tăng hay

vốn đợc sử dụng nhiều để thay thế cho lao động, do sử dụng công nghệ hiện đại
có giá trị cao. Còn ở các nớc chậm phát triển, ICOR thấp từ 2- 3 do thiếu vốn,
thừa lao động nên có thể cần phải sử dụng lao động để thay thế cho vốn, do sử
dụng công nghệ kém hiện đại, giá rẻ
3.1.4. Đầu t và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Kinh nghiệm của các nớc trên thế giới cho thấycon đờng tất yếu có thể
tăng trởng nhanh tốc độ mong muốn (từ 9 -10%) là tăng cờng đầu t nhằm tạo ra
sự phát triển nhanh ở khu vực công nghiệp và dịch vụ. Đối với các ngành nông,
lâm, ng nghiệp do những hạn chế về đất đai và các khả năng sinh học, để đạt đ-
ợc tốc độ tăng trởng từ 5 -6% là rất khó khăn. Nh vậy, chính sách đầu t quyết
7
định quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các quốc gia nhằm đạt đợc tốc độ
tăng trởng nhanh của toàn bộ nền kinh tế.
Về cơ cấu lãnh thổ, đầu t có tác dụng giải quyết những mất cân đối về
phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình
trạng đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế,
kinh tế, chính trị,...của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn, làm bàn
đạp thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển.
3.1.5. Đầu t với việc tăng cờng khả năng khoa học và công nghệ của
đất nớc:
Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá. Đầu t là điều kiện tiên quyết
của sự phát triển và tăng cờng khả năng công nghệ của nớc ta hiện nay.
Theo đánh giá của các chuyên gia công nghệ, trình độ công nghệ của
Việt Nam lạc hậu nhiều thế hệ so với thế giới và khu vực. Theo UNIDO, nếu
chia quá trình phát triển công nghệ thế giới làm 7 giai đoạn thì Việt Nam năm
1990 ở vào giai đoạn 1 và 2. Việt Nam đang là một trong 90 nớc kém nhất về
công nghệ. Với trình độ công nghệ lạc hậu này, quá trình công nghiệp hoá và
hiện đại hoá của Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn nếu không đề ra đợc một
chiến lợc đầu t phát triển công nghệ nhanh và vững chắc.
Chúng ta đều biết rằng có hai con đờng cơ bản để có công nghệ là tự

Xét một cách tổng thể thì không một hoạt động đầu t nào mà không cần
phải có các tài sản cố định. Để có đợc tài sản cố định, chủ đầu t có thể thực hiện
bằng nhiều cách: xây dựng mới, mua sắm, đi thuê
Đầu t xây dựng cơ bản là hoạt động thực hiện đầu t bằng cách tiến hành
xây dựng mới tài sản cố định.
Xây dựng cơ bản là một khâu trong đầu t xây dựng cơ bản. Kết quả của
hoạt động xây dựng cơ bản ( khảo sát, thiết kế, xây dựng lắp đặt ) là tạo ra các
tài sản cố định có một năng lực sản xuất và phục vụ nhất định. Cũng có thể nói
xây dựng là quá trình đổi mới và tái sản xuất có kế hoạch các tài sản cố định
của nền kinh tế quốc dân trong các ngành sản xuất vật chất cũng nh không sản
xuất vật chất. Nó là quá trình xây dựng cơ bản vật chất và kỹ thuật cho chủ
9
nghĩa xã hội. Nó thực hiện phơng thức xây dựng mới, xây dựng lại, khôi phục
và mở rộng các tài sản cố định.
Quá trình xây dựng cơ bản là quá trình hoạt động để chuyển vốn đầu t d-
ới dạng tiền tệ sang tài sản phục vụ cho mục đích đầu t.
4.2. Sự cần thiết phải đầu t xây dựng cơ bản.
Xây dựng là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt, tạo ra cơ sở vật chất và
kỹ thuật ban đầu cho xã hội, nó giữ một vai trò hết sức quan trọng trong nền
kinh tế quốc dân vì nhiệm vụ chủ yếu của ngành công nghiệp xây dựng đảm
bảo nâng cao nhanh chóng năng lực sản xuất của các nhành, các khu vực kinh
tế có kế hoạch, đảm bảo mối quan hệ tỷ lệ cân đối giữa các ngành, các khu vực
và phân bố hợp lý sức sản xuất.
Đại hội Đảng lần thứ VII nêu rõ: Trớc mắt ngành công nghiệp xây dựng
phải ra sức phục vụ cho các ngành nông, lâm, ng nghiệp và công nghiệp chế
biến, một số ngành công nghiệp nặng nh: Dầu khí, điện lực, vật liệu xây dựng,
xây dựng cơ sở hạ tầng nh mạng lới giao thông vận tải, mạng lới thông tin liên
lạc . Thực tế cho thấy, tất cả các ngành kinh tế khác chỉ có thể tăng nhanh đ -
ợc nhờ có xây dựng cơ bản, bằng việc xây dựng mới, nâng cấp các công trình về
mặt quy mô, đổi mới kỹ thuật và công nghệ để nâng cao năng suất và hiệu quả

chất kỹ thuật cho các cơ sở sản xuất và dịch vụ, từ đó nâng cao năng lực sản
xuất cho từng ngành và toàn bộ nền kinh tế quốc dân, tạo điều kiện phát triển
sản xuất xã hội, tăng nhanh giá trị sản xuất.
II. Doanh nghiệp - doanh nghiệp ngành xây dựng.
1. Khái niệm chung về doanh nghiệp.
1.1. Khái niệm:
Nhìn bề ngoài doanh nghiệp đợc biểu hiện nh là một toà nhà, những máy
móc, một tấm biển, nhãn mác sản phẩm tóm lại là tập hợp những yếu tố rời
rạc.
Doanh nghiệp đợc hiểu nh là một đơn vị kinh doanh đợc thành lập để thực
hiện các hoạt động kinh doanh trong đo kinh doanh là việc thực hiện một, một số
11
hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu t từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm
hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trờng nhằm mục đích sinh lời.
Theo cách tiếp cận vi mô có nhà kinh tế đa ra quan niệm về doanh nghiệp
nh sau: Doanh nghiệp là một hình thức sản xuất theo đó trong cùng một sản
nghiệp ngời ta phối hợp giá của nhiều yếu tố khác nhau do các tác nhân khác
cùng với chủ sở hữu doanh nghiệp đem lại nhằm bán ra trên thị trờng hàng hoá
hay dịch vụ và đạt đợc một khoản thu nhập tiền tệ từ mức chênh lệch giữa hai
giá.
Theo Điều 3 Luật Doanh nghiệp do Quốc hội thông qua ngày 12/6/1999,
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, đợc
đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các
hoạt động kinh doanh. Theo khái niệm này, trừ loại hình kinh doanh cá thể,
các tổ chức kinh tế đảm bảo các điều kiện về tài sản, tên riêng, trụ sở giao dịch
và có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đều đợc gọi là doanh nghiệp.
1.2. Phân loại doanh nghiệp:
Tuỳ mục đích khác nhau, căn cứ vào tiêu thức khác nhau để phân loại, sẽ
có các loại hình doanh nghiệp khác nhau, chẳng hạn nh:
Phân loại doanh nghiệp theo chủ sở hữu có:

mệnh lệnh, dịch vụ xây dựng do các doanh nghiệp của Nhà nớc độc quyền cung
ứng theo kế hoạch của Nhà nớc. Đến nay, mặc dù các doanh nghiệp thuộc sở
hữu Nhà nớc vẫn còn chiếm tỷ lệ cao trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ xây dựng,
nhng cũng có khá nhiều doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế t nhân đợc thành
lập. Đặc biệt là có sự tham gia của các nhà cung ứng dịch vụ nớc ngoài.
2.2. Đặc điểm và nội dung hoạt động của doanh nghiệp ngành xây dựng.
* Tình hình và điều kiện sản xuất trong các doanh nghiệp ngành xây
dựng luôn thiếu tính ổn định, luôn biến đổi theo địa điểm xây dựng và giai đoạn
xây dựng. Cụ thể là trong xây dựng, con ngời và công cụ lao động luôn phải di
chuyển từ công trình này đến công trình khác, còn sản phẩm xây dựng (công
13
trình xây dựng) thì hình thành và đứng yên tại chỗ, một đặc điểm hiếm thấy ở
các ngành sản xuất khác.
* Các phơng án xây dựng về kỹ thuật và tổ chức sản xuất luôn phải thay
đổi theo từng địa điểm và giai đoạn xây dựng. Đặc điểm này làm khó khăn cho
việc tổ chức sản xuất, khó cải thiện điều kiện làm việc cho ngời lao động, làm
nảy sinh nhiều chi phí cho khâu di chuyển lực lợng sản xuất và cho công trình
tạm phục vụ sản xuất. Muốn khắc phục những khó khăn đó, các doanh nghiệp
xây dựng phải chú ý tăng cờng tính cơ động, linh hoạt, gọn nhẹ về mặt trang bị
tài sản cố định sản xuất, lựa chọn các hình thức tổ chức sản xuất linh hoạt, phấn
đấu giảm chi phí có liên quan đến vận chuyển, lựa chọn vùng hoạt động thích
hợp, lợi dụng tối đa lực lợng xây dựng tại chỗ và liên kết tại chỗ để có thể trúng
thầu xây dựng.
Đặc điểm này cũng đòi hỏi phải phát triển rộng khắp trên lãnh thổ các
loại hình dịch vụ sản xuất phục vụ xây dựng nh: dịch vụ cho thuê máy xây
dựng, cung ứng và vận tải, sản xuất vật liệu xây dựng
* Chu kỳ sản xuất (tức thời gian xây dựng các công trình) thờng dài. Đặc
điểm này làm cho vốn đầu t xây dựng công trình và vốn sản xuất của doanh
nghiệp xây dựng thờng bị ứ đọng lâu tại công trình đang còn xây dựng. Yếu tố
bất lợi này đòi hỏi các doanh nghiệp xây dựng lựa chọn phơng án xây dựng có

thiện điều kiện làm việc của công nhân, quan tâm phát triển phơng pháp xây
dựng tron điều kiện nhiệt đới.
* Sản xuất xây dựng chịu ảnh hởng của lợi nhuận chênh lệch do điều kiện
của địa điểm xây dựng đem lại. Cùng một loại công trình xây dựng, nhng nếu nó
đợc đặt ở nơi có sẵn nguồn nguyên vật liệu xây dựng, nguồn máy móc cho thuê
và sẵn nhân công, thì doanh nghiệp nhận thầu xây dựng ở trờng hợp này có nhiều
cơ hội hạ thấp chi phí sản xuất và thu đợc lợi nhuận cao.
2.3. Vai trò của doanh nghiệp ngành xây dựng.
* Các doanh nghiệp ngành xây dựng có nhiệm vụ tái sản xuất các tài sản
cố định cho mọi lĩnh vực sản xuất và phi sản xuất của đất nớc. Có thể nói
không một ngành sản xuất nào, không một hoạt động văn hoá - xã hội nào là
không sử dụng sản phẩm của ngành xây dựng.
15
* Các công trình xây dựng của các doanh nghiệp có vai trò tăng năng lực
sản xuất kinh doanh của chính doanh nghiệp mình, đồng thời tạo sự phát triển
kinh tế xã hội của đất nớc và tạo thêm chỗ làm cho ngời lao động, nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần cho họ.
* Các doanh nghiệp ngành xây dựng phải sử dụng một lợng vốn lớn, do đó
một sai lầm trong xây dựng có thể dẫn đến lãng phí lớn lao rất khó sửa chữa
trong nhiều năm.
* Hoạt động của các doanh nghiệp ngành xây dựng đóng góp đáng kể vào
giá trị tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân.
III. Cạnh tranh.
1. Cạnh tranh.
1.1. Khái niệm.
Bớc vào thời kỳ đổi mới, quyền bình đẳng và tự do kinh doanh đợc tôn
trọng và xuất hiện cơ sở khách quan cho cạnh tranh ngày càng sâu rộng giữa
các doanh nghiệp thuộc mọi loại hình sở hữu.Cạnh tranh không chỉ là một nhu
cầu khách quan của sự tồn tại và phát triển doanh nghiệp mà còn là động lực
phát triển kinh tế.

và đầy cảm xúc để tồn tại và phát triển trong thơng trờng.
Cạnh tranh là một quy luật khách quan của nền sản xuất hàng hóa, là một
yếu tố trong cơ chế vận động của thị trờng. Sản xuất hàng hóa càng phát triển,
hàng hóa bán ra càng nhiều, số lợng ngời cung ứng càng đông thì cạnh tranh
càng gay gắt. Kết quả trong cạnh tranh là sẽ có một số doanh nghiệp bị thua
cuộc và bị gạt ra khỏi thị trờng, trong khi đó một số doanh nghiệp sẽ tồn tại và
phát triển hơn nữa. Cũng chính nhờ sự cạnh tranh không ngừng mà nền kinh tế
thị trờng vận động theo hớng ngày càng nâng cao năng suất lao động xã hội. Đó
cũng là yếu tố đảm bảo cho sự thành công của mỗi quốc gia trên con đờng phát
triển.
1.2. Các loại hình cạnh tranh.
Nhận dạng tính chất và mức độ biểu hiện của cạnh tranh trong các hình
thái thị trờng đã và đang trở thành một nội dung cấp bách trớc yêu cầu quản lý
17
của doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế trong nền kinh tế thị trờng. Và cũng chỉ
trên cơ sở nhận dạng đúng vị trí, vai trò của cạnh tranh trong các hình thái thị tr-
ờng mới cho phép mỗi doanh nghiệp hoạch định những chiến lợc, chính sách
phù hợp để ứng xử với cạnh tranh. Có nhiều cách phân loại cạnh tranh dựa trên
các tiêu thức khác nhau:
1.2.1. Căn cứ vào tính chất và mức độ can thiệp của Chính phủ vào đời
sống kinh tế:
* Cạnh tranh tự do: Là hình thái thị trờng thoát khỏi sự can thiệp của Nhà
nớc. Trong đó, giá cả tự do vận động lên xuống theo sự chi phối của quan hệ
cung cầu, của các thế lực thị trờng. T tởng tự do kinh tế dựa trên nền tảng Tự
do đợc nuôi dỡng bởi chính tự do, và trên nền tảng t tởng ấy, học thuyết Bàn
tay vô hình của Adam Smith đã chỉ ra rằng: Trong khi chạy theo t lợi thì có
một bàn tay vô hình buộc con ngời kinh tế phải thực hiện một nhiệm vụ
không nằm trong dự kiến là đáp ứng lợi ích xã hội và đôi khi họ còn đáp ứng lợi
ích xã hội tốt hơn ngay cả khi họ có ý định làm việc đó từ trớc. Bàn tay vô
hình đó chính là các quy luật khách quan tự phát chi phối hoạt động của con

sức mạnh để có thể chi phối giá cả các sản phẩm của mình trên thị trờng. Trên
thị truờng cạnh tranh không hoàn hảo phần lớn các sản phẩm là không đồng
nhất với nhau. Mỗi loại sản phẩm có thể có nhiều nhãn hiệu khác nhau, mỗi loại
nhãn hiệu lại có uy tín và hình ảnh khác nhau. Các điều kiện mua bán cũng rất
khác nhau. Trong cạnh tranh không hoàn hảo lại phân làm hai loại:
+ Độc quyền nhóm: là hình thái thị trờng mà trong đó chỉ có một số ít
các nhà sản xuất, mỗi ngời đều nhận thức đợc rằng giá cả của mình không chỉ
phụ thuộc vào năng suất của mình mà còn phụ thuộc vào hoạt động của các nhà
cạnh tranh trong ngành đó.
+ Cạnh tranh mang tính độc quyền: là hình thái thị trờng có nhiều ngời
bán sản xuất ra những sản phẩm có thể dễ dàng thay thế cho nhau. Mỗi hàng
chỉ có khả năng hạn chế ảnh hởng tới giá cả sản phẩm của mình.
19
* Độc quyền: là hình thái thị trờng trong đó một doanh nghiệp duy nhất
bán một sản phẩm mà không có sản phẩm thay thế gần giống với nó. Việc thâm
nhập vào ngành sản xuất sản phẩm này là rất khó khăn hoặc không thể đợc.
1.2.3. Căn cứ vào chủ thể tham gia trên thị trờng:
* Cạnh tranh giữa ngời bán và ngời mua: là cuộc cạnh tranh diễn ra trên
cơ sở quy luật Tối đa hoá lợi ích. Ngời bán- với mong muốn tối đa hóa lợi
nhuận- họ mong bán đợc sản phẩm của mình với gía cao nhất có thể. Ngợc lại,
ngời mua- với mong muốn tối đa hóa độ thoả dụng mong muốn mua đợc
những sản phẩm có chất lợng cao nhất với giá rẻ nhất có thể. Hoạt động mua
bán chỉ đợc thực hiện sau một quá trình thơng lợng ( mặc cả) nhằm trung hoà
lợi ích giữa ngời bán và ngời mua.
* Cạnh tranh giữa những ngời bán với nhau: là cuộc cạnh tranh dựa trên
cơ sở luật cung. Khi cung một loại hàng hóa, dịch vụ nào đó lớn hơn cầu, cuộc
cạnh tranh quyết liệt giữa những ngời bán sẽ diễn ra. Để thu hút nhiều khách
hàng đến với mình hơn, mỗi ngời bán phải tìm cho mình những cách thức trội
hơn các đối thủ khác ( kể cả việc phải bán với mức giá thấp hơn, chấp nhận một
mức lợi nhuận thấp trong ngắn hạn). kết quả là, hiệu quả sản xuất kinh doanh

đơng.
1.3. Quy luật cạnh tranh.
Trong quá trình nghiên cứu về nền sản xuất hàng hoá t bản chủ nghĩa và
cạnh tranh t bản chủ nghĩa, Carl Marx đã phát hiện ra rằng: Quy luật cạnh tranh
t bản chủ nghĩa là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân và qua đó
hình thành nên hệ thống gía cả thị trờng. Quy luật này dựa trên sự chênh lệch
giữa giá trị và giá cả của hàng hóa và khả năng có thể bán hàng hoá dới gía trị
của nó nhng vẫn thu đợc lợi nhuận.
Các học thuyết về kinh tế thị trờng hiện đại dù thuộc trờng phái chủ
nghĩa tự do hay trờng phái chủ nghĩa can thiệp đều đi đến kết luận rằng: Cạnh
tranh với tính cách là động lực phát triển nội tại của nền kinh tế chỉ xuất hiện và
tồn tại trong điều kiện của nền kinh tế thị trờng. Bất kỳ một doanh nghiệp hay
sản phẩm nào khi xuất hiện trên thị trờng cũng đều chịu những sức ép cạnh
tranh nhất định từ các doanh nghiệp và sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh
21
tranh. Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải tự đổi mới và hoàn thiện mình
tạo nên cơ chế thị trờng và trở thành quy luật kinh tế đặc thù của nền kinh tế thị
trờng. Nh vậy, cạnh tranh là một quy luật khách quan của nền kinh tế thị trờng,
là động lực cho sự phát triển của mỗi doanh nghiệp nói riêng và toàn bộ nền
kinh tế xã hội nói chung
1.4. Vai trò của cạnh tranh.
* Đối với các doanh nghiệp, cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát triển
của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh, ảnh hởng đến uy tín của doanh nghiệp trên thị trờng.
* Đối với ngời tiêu dùng, cạnh tranh giúp họ thỏa mãn nhu cầu về hàng
hóa và dịch vụ, chất lợng sản phẩm ngày càng cao cùng với mức giá cả ngày
càng phù hợp với khả năng của họ.
* Đối với nền kinh tế quốc dân thì cạnh tranh là động lực thúc đẩy sự
phát triển bình đẳng của mọi thành phần kinh tế, tạo điều kiện để phát huy lực l-
ợng sản xuất, nâng cao tiến bộ khoa học kỹ thuật, hiện đại hóa nền sản xuất xã

doanh khi có một lợi thế cạnh tranh và biết cạnh tranh với các doanh nghiệp
khác có một lợi thế cạnh tranh dài hạn mà mình không có.
Lợi thế cạnh tranh dài hạn không phải luôn dễ dàng xác định đợc. Các
hãng sản xuất bột giặt đều cố gắng xây dựng các lợi thế, nhng nó nhanh chóng
bị bắt chớc ngay sau đó. Trong thị trờng hàng điện tử có hãng đã cố gắng lợi
dụng một lợi thế hơn so với đối thủ của mình, nhng lợi thế đó lại sớm trở nên
không quan trọng với mong muốn của ngời tiêu dùng.
Nh vậy mọi nhà kinh doanh cần phải khám phá xem một lợi thế cạnh
tranh dài hạn và sự thể hiện thực sự có ý nghĩa đối với cạnh tranh và chiến lợc
kinh doanh là gì?
2.1. Các điều kiện cho lợi thế cạnh tranh dài hạn.
Mọi doanh nghiệp cần hiểu là họ cần một lợi thế cạnh tranh trớc những
khách hàng, ngời chọn hàng hóa của họ, chứ không phải trớc các đối thủ cạnh
tranh. Một lợi thế cạnh tranh có ý nghĩa chiến lợc khi nó thỏa mãn ba điều kiện
sau:
23
* Khách hàng phải nhận biết đợc sự khác biệt rõ ràng trong những đặc
điểm quan trọng giữa sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp và sản phẩm, dịch vụ
của các đối thủ cạnh tranh.
* Sự khác biệt đó là kết quả trực tiếp của sự chênh lệch về khả năng đáp
ứng nhu cầu của khách hàng giữa doanh nghiệp và các đối thủ cạnh tranh.
* Sự khác biệt trong những đặc điểm quan trọng và khoảng cách về khả
năng có thể hy vọng duy trì đợc lâu dài.
2.2. Lợi thế cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh.
Khái niệm chiến lợc cạnh tranh nh một tập hợp các hoạt động đợc thiết
kế để tạo ra một lợi thế lâu dài trớc các đối thủ cạnh tranh có thể chỉ ra rằng:
có một lợi thế cạnh tranh dài hạn đồng nghĩa với thành công. Nói cách khác,
những doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh dài hạn sẽ chắc chắn chiến thắng.
Những đối thủ cạnh tranh thiếu một lợi thế cạnh tranh dài hạn nên rút lui khỏi
thơng trờng để tránh các thảm họa tài chính...

rất cẩn thận. Các hoạt động dễ bị bắt chớc chỉ dẫn đến sự cạnh tranh mạnh mẽ
và khi ấy những lợi thế của doanh nghiệp là mục tiêu của những đòn phản công
của đối thủ.
b. Cạnh tranh với đối thủ có một lợi thế cạnh tranh dài hạn.
Không phải mọi ngời sản xuất đều có thể có một lợi thế cạnh tranh dài
hạn, có những ngời sản xuất phải đơng đầu với sự cạnh tranh trong vị trí bất lợi.
Trong một số trờng hợp họ vẫn có khả năng thành công.
Những thị trờng phát triển mạnh mẽ tạo ra tình huống nh vậy. Sự tăng tr-
ởng thị trờng thực sự trong những thời kỳ nhất định... khiến các đối thủ yếu
cũng có thể phát đạt. Ví dụ, sự bùng nổ trong thị trờng phần mềm máy vi tính
trong 5 năm gần đây đã làm cho nhiều công ty nhỏ bé trở nên giàu có. Chỉ khi
thị trờng tăng trởng chậm lại hay các đổi thủ có lợi thế tăng lên, thị trờng sẽ
điều chỉnh sự cạnh tranh và tác động của lợi thế cạnh tranh và tác động của lợi
thế cạnh tranh dài hạn mới thể hiện.
Nếu doanh nghiệp dẫn đầu thị trờng chỉ có một lợi thế hời hợt hay không
quan trọng, nhiều đối thủ bất lợi có thể có khả năng thu hẹp khoảng cách. Mỗi
đối thủ cạnh tranh đều có khả năng về một khía cạnh nào đó. Sau khi xem xét
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status