A. MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Từ thế kỷ thứ III (TCN), dưới triều đại Vua Thục An Dương Vương,
nước Âu Lạc đã là quốc gia có quy củ. Hình thức nhà nước quân chủ có tính
chất tập quyền đã ra đời. Khối thống nhất dân tộc hình thành từ đó. Dân tộc Việt
Nam là một trong những dân tộc hình thành sớm bằng con đường tự nguyện của
các bộ tộc. Và khối đoàn kết dân tộc luôn luôn được tăng cường.
Từ buổi đầu dựng nước đến nay, người Việt Nam đã liên tục chiến đấu để
giành chủ quyền dân tộc, bảo vệ Tổ quốc đấu tranh chống nạn cát cứ, chống áp
bức, bóc lột, chống lại các lực lượng phá hoại của giới tự nhiên, xây dựng cuộc
sống ấm no, công bằng hơn và đấu tranh giải quyết các mâu thuẫn giữa các
thành viên trong các cộng đồng lớn nhỏ. Trong cuộc chiến đấu trường kỳ và vô
cùng gian nan ấy người Việt Nam đã sớm hình thành những quan điểm, tư
tưởng, những tri thức chung của giới tự nhiên, xã hội, về con người và phương
pháp tư duy. Những tri thức đó đã vai trò thế giới quan, phương pháp luận chi
phối tư tưởng, hành động của hàng trăm thế hệ.
Dưới thời phong kiến, từ thời Âu Lạc đến cuối thế kỷ XIX, người Việt
Nam ít có các trước tác về triết học, về tư tưởng quy mô lớn, ít có người chuyên
bàn về triết học như những nước khác, nhưng cộng đồng người Việt Nam đã
đông, biết suy nghĩ, hành động theo những nguyên tắc nhất quán, điều đó chứng
tỏ thế giới quan của người Việt Nam đã suy nghĩ và hành động rất thống nhất
trong quan niệm về bổn phận và nghĩa vụ: bổn phận với gia đình, nghĩa vụ với
Tổ quốc. Có lẽ không có dân tộc nào mà số anh hùng hy sinh đời mình để bảo
vệ Tổ quốc, bảo vệ giống nòi đông như ở Việt Nam: “Ra ngỏ gặp anh hùng”.
Người Việt Nam coi trọng đạo lý, coi trọng cuộc sống tinh thần, dám coi
thường cuộc sống vinh hoa phú quý, coi trọng khí tiết, trọng danh dự, kiên
cường bất khuất, đúng là “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất
năng khuất” (giàu sang không thể quyến rũ, nghèo hèn không đổi chí, sức mạnh
không thể khuất phục).
Trân trọng và tiếp thu những tri thức của con người Việt Nam, dân tộc
Việt Nam từ những buổi đầu dựng nước, người viết quyết định chọn đề tài này
tưởng Việt Nam, nhưng số công trình chuyên bàn về hệ tư tưởng Nho giáo Việt
Nam thì còn rất ít ỏi.
Nghiên cứu về hệ ý thức Nho giáo Việt Nam dưới thời phong kiến, tức là
nghiên cứu những vấn đề thuộc phạm vi dân tộc, những vấn đề quá khứ, nhưng
chưa phải đã mất hẳn, do đó phải đặc biệt chú ý đến tính dân tộc, tính truyền
thống và cả tính thời sự nữa.
Tuy nhiên, với cấp độ nghiên cứu là một Tiểu luận cho học phần Triết học
dành cho học viên cao học không thuộc nghành chuyên Triết vì thế người viết
2
chỉ có thể phác họa ra những nét cơ bản nhất, cốt lõi nhất đúng với diện mạo
vốn có của hệ tư tưởng Nho giáo Việt Nam thời phong kiến và nhận định đúng
bản chất của nó.
IV.Phương pháp nghiên cứu
Căn cứ vào đối tượng nghiên cứu, do vậy người viết nhận thấy đây là hệ
tư tưởng, tức là thuộc về loại tư duy lý luận, thuộc về một bộ môn khoa học triết
học cho nên trước hết lấy lập trường, quan điểm và phương pháp triết học Mác-
Lênin làm phương pháp luận chỉ đạo quá trình nghiên cứu. Đồng thời kết hợp
với phương pháp trực quan, thể nghiệm, kết hợp với phân tích suy lý một cách
khách quan và phương pháp xây dựng mô hình cấu trúc-nội dung của các khái
niệm, các quan điểm tư tưởng.
V.Kết cấu của Tiểu luận
Chương I. Cơ sở của truyền thống văn hóa, tư tưởng Việt Nam thời phong kiến
1. Điều kiện lịch sử, địa lý, xã hội sản sinh nền Văn hóa, tư tưởng Việt
Nam thời phong kiến.
2.Tâm lý xã hội và ảnh hưởng của nó đối với tư tưởng Việt Nam
Chương II. Đặc điểm nổi bật của hệ tư tưởng Nho giáo Việt Nam thời phong
kiến.
1. Lịch sử phát triển và kinh điển Nho giáo.
2. Vài vấn đề cơ bản của Nho giáo.
B.NỘI DUNG
-Hy sinh cho tổ quốc là một vinh dự, bổn phận
-Có tinh thần “dân chủ” công xã nhân dân
-Luôn luôn cần cù và sáng tạo
-Trọng nhân luân, đạo lý.
Trọng luân lý gia đình, trọng truyền thống: “Giấy rách phải giữ lấy lề”.
Trọng tuổi tác ”kính lão đắc thọ”, trọng người có đức, có học, hiếu học “Muốn
con hay chữ phải yêu mến thầy”. Trọng dư luận hiếu khách, trọng tình bạn.
-Thích cuộc sống quân bình, hòa hợp với thiên nhiên.
-Thích lạc quan, cởi mở, độ llượng.
-Sống bình dị.
Tuy nhiên, còn một số những hạn chế trong tâm lý, trong suy nghĩ của
người Việt nam thời phong kiến, song vì điều kiện không cho phép nên người
viết xin được không nêu ra ở đây.
4
CHƯƠNG II. ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT CỦA HỆ TƯ TƯỞNG
NHO GIÁO VIỆT NAM THỜI KỲ PHONG KIẾN
Nền văn hóa Việt Nam đã từng phát triển trong sự giao lưu mật thiết với
các nền văn hóa khác: Ấn độ-Trung Hoa-Phương Tây-Đông Nam Á, trong đó
Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo ảnh hưởng rõ rệt nhất. Người Việt nam đã tiếp
thu các hệ tư tưởng ấy trong nhiều tình thế: cưỡng bức, tự nguyện, vừa cưỡng
bức vừa tự nguyện, trực tiếp, gián tiếp…Trên cơ sở vững chắc của truyền thống
văn hóa dân tộc, một số yếu tố tích cực trong các học thuyết ấy đã góp phần tạo
nên truyền thống văn hóa Việt Nam. Ba học thuyết Nho-Phât-Đạo đã truyền vào
Việt Nam từ những thế kỷ đầu của Công Nguyên bằng nhiều hình thức khác
nhau. Vai trò lịch sử của các hệ tưởng ấy thay đổi qua các thời kỳ lịch sử nhưng
nhìn chung ta thầy thế lực của Nho giáo mạnh dần và đến thế kỷ thứ XV thì
chiếm vị trí độc tôn. Đến Cách mạng tháng tám thành công đã chấm dứt vai trò
lịch sử của các hệ tư tưởng phong kiến, đặc biệt là vai trò thống trị của Nho
giáo. Nho giáo rất có ý thức về quyền uy, tỏ ra có kinh nghiệm tạo quyền uy và
các hình thức khống chế con người. Nho giáo trực tiếp phục vụ chính quyền
triết lý vững chắc hơn đủ sức mạnh cạnh tranh với các hệ tư tưởng khác. Đó là
một lần phục hưng Nho giáo. Tống Nho có ảnh hưởng đến xã hội Việt Nam và
những nước khác, đặc biệt là vai trò của Chu Hy. Sau lần canh tân ấy, Nho giáo
có thêm sức mạnh, sức sống mới, nhưng đồng thời nó cũng trở nên khắc nghiệt
hơn, phản động hơn, phi nhân bản hơn .
Kinh sách nho giáo nhiều nhưng gốc là ở Ngũ kinh-Tứ thư Ngũ kinh. Ngũ
kinh gồm:
+Kinh thi: Một hợp tuyển thơ ca dân gian và thơ ca dùng để tế lễ đời nhà
Chu.
+Kinh Thư: (Thượng thư) bộ sách nói về cách trị nước và thể chế nhà
nước Phong kiến, có thể coi là bộ sách “lịch sử-hiến pháp” của Trung Quốc cổ
đại.
+Kinh dịch: Bộ sách bói toàn và triết lý, vốn không phải là sách của Nho
gia, nhưng nhà Nho tự coi là kinh điển của mình và tương truyền Khổng Tử
soạn thập dực trong Kinh dịch.
+Kinh lễ: (Lễ ký) là bộ sách trình bày hỗn hợp nhiều vấn đề nhưng chủ
yếu là lễ nghi và các quy tắc giao tiêp ứng xữ.
+Kinh Xuân Thu: Bộ sử biên niên, chép sử nước Lỗ, thời Xuân-Thu.
Trong đó Khổng Tử trực tiếp tình bày tư tưởng “Chính danh”, quan điểm lịch sử
và các tư tưởng chính trị khác.
Tứ thư (tứ truyện) gồm:
6
+Luận ngữ: Bộ sách ghi chép lời Khổng Tử dạy cho học trò và lời học trò
trường Khổng Tử bàn luận với nhau. Đây là một bộ sách có giá trị thực lực cao
nhất của thư tịch Nho học Nguyên thủy.
+Mạnh Tử: Bộ sách ghi chép lời của Mạnh Tử biện luận với các học phái
khác nhau và với các vua chúa đương thời.
+Đại học: Bộ sách bàn về sự tu thân của người quân tử, tương truyền là
sách của Tăng Tử.
+Trung dung: Là bộ sách bàn về đạo “Trung dung”, lối sống “không thá
nên bất đắc dĩ phải đi đánh dẹp. Trong vòng gươm giáo chắc không khỏi có sự
oan uổng tới dân lành, đến nỗi làm cho Hoàng Thiên nổi giận, một mình tôi đây
dù phải chịu nạn cũng không dám ân hận gì, nhưng còn sáu quân vô tội thì sao?
Kính xin lòng Trời soi xét cho “Khấn vừa xong chưa dứt lời, sấm gió yên
ngay…”
Lời phê (của Tự Đức): “Lời Lý Thái Tổ khấn Trời, tỏ ra rất có đức độ đế
vương, thật chẳng khác Thành Thang nhà Thương đem sáu việc trách mình
trong khi gặp nạn bảy năm hạn hán, thảo nào giữa Người và Trời có sự cảm ứng
không sai“ (Sáu việc đó là: Chính sự không có chừng mực chăng? Cung thất đồ
sộ chăng? nữ sắc quá nhiều chăng? oan uổng nhiều chăng? hay nghe lời nịnh nọt
chăng? làm mất lẽ công bằng chăng?)
Người bình dân Việt Nam cũng tin ở Trời cầu mong Trời “lạy trời mưa
xuống, lấy nước tôi uống…”, có khi trách trời “Trời ơi, Trời ở không cân, Người
ăn không hết người làm không ra”, Nguyễn Du tổng hợp quan niệm Trời của
Nho gia và của bình dân:
“… Ngẫm hay muôn sự tại Trời
Trời kia đã bắc làm người có thân
Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao”
hay
“…Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đứng trách lẫn Trời gần, Trời xa”
rồi
“…Đã cho lấy chữ hồng nhan.
Làm cho, cho hại, cho tàn, cho cân…”
(Truyện Kiều)
Ông Trời của Nho gia và ông Trời của bình dân ở Việt Nam không giống
nhau hoàn toàn. Người bình dân quan niệm ông Trời là một đấng toàn năng, biết
thương người, hay bênh vực cho kẻ nghèo hèn, kẻ yếu thế bị áp bức cho người
đến Trời. Lại như mặt trời sắp mưa dầm thì người nào bị đánh hay ngã bị
thương, tất thấy đau buốt, đó là khí Trời đã động đến người. Điều đó có thể
chứng nghiệm được rõ Trời với Người có cùng một lẽ” (Vân đài loại ngữ-Lê
Quý Đôn, NXBVH tập 1 trang 59)”
Cuối thế kỷ XVIII và XIX, tư tưởng (Trời-Người cảm ứng) phát triển
mạnh ở Việt Nam: Nhiều trí thức lớn như Phạm Viên, Lê Hữu Trác, Nguyễn
Thiếp… đều có chịu ảnh hưởng. Trong văn học cũng có nhiều tác phẩm thể hiện
tư tưởng ấy: Tục truyền ký của Đoàn Thị Điểm, Vũ trung tùy, Tang thương ngẫu
9
lục của Phạm Đình Hổ; Thoái thực ký văn của Trương Quốc Dụng, kể cả truyện
Kiều của Nguyễn Du…
+ Mệnh trời:
Trời chi phối con người bằng Mệnh Trời. Mỗi người sinh ra, già, chết,
mạnh khỏe, ốm đau, nghèo hèn, sướng khổ…tất cả đều do mệnh Trời. Nhà Nho
có tư tưởng định mệnh. Họ cho rằng mọi việc lớn nhỏ đều do tiền định: “Nhất
ẩm, nhất trác giai do tiền định” (Một miếng cơm, một ngụm nước đều do tìên
đinh). Con người phải an phận thủ thường, vui với số phận đã an bài. Tuy vậy
Nhà nho cũng cho rằng con người phải cố gắng hết sức mình làm hết bổn phận
của mình thì mới biết được Mệnh trời. Như vậy lý luận của Nho gia có mâu
thuẫn, giải pháp của họ về vấn đề quan hệ giữa sức người với Mệnh Trời không
triệt để. Họ thường cho rằng do Trời nhưng cùng do Người. Kinh thư có nói:
“Lòng dân là ý Trời”. Lòng chân thành sự hối cải của con người có thể cảm
động đến Trời, sửa được mệnh Trời “xưa nay nhận định đã thắng Thiên cũng
nhiều”
Quan niệm con người đều có số phận tiền định, sự việc do Mệnh Trời,
thời vận quyết định.
-Đặng Dung khi thất thế đã tìm nguyên nhân thất bại ở thời vận :
“Thời lai đồ điếu thành công dị,
Vẫn cứ anh hùng ẩm hậu đa”
(Cảm hoài)