LỜI MỞ ĐẦU
Việt nam là quốc gia thuộc nhóm các nước đang phát triển, trong quá
trình hội nhập quốc tế. Nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng
cũng đứng trước những thời cơ và thách thức. Cũng như các quốc gia trên Thế
giới, trong quá trình thực hiện mở cửa và hội nhập quốc tế, lĩnh vực tài chính
ngân hàng thường đi trước một bước vì thế mà những hạn chế của lĩnh vực
này cũng bộc lộ sớm nhất. Việt nam cũng không nằm ngoài quy luật này. Hơn
nữa, điểm yếu nhất của hệ thống ngân hàng Việt nam là quy mô vốn nhỏ,
năng lực và khả năng cạnh tranh còn hạn chế, trong khi hội nhập kinh tế quốc
tế đòi hỏi phải đối mặt với những cạnh tranh khốc liệt, thị trường mở rộng ra
phạm vi toàn cầu. Đứng trước thách thức trên Chính phủ đã tăng cường các
biện pháp phòng ngừa rủi ro cho hệ thống ngân hàng, một trong những biện
pháp đó là Chính sách về Bảo hiểm tiền gửi. Hầu hết các nền kinh tế trên Thế
giới, đặc biệt là những nền kinh tế phát triển cao như Mỹ, Canada, Đức…và
một số nền kinh tế điển hình của Châu á như Đài Loan, Nhật Bản, Trung
Quốc… đều xây dựng cho mình một tổ chức Bảo hiểm tiền gửi hoạt động có
hiệu quả. Việt nam thời gian qua, chính sách Bảo hiểm tiền gửi đã bộc lộ một
số tồn tại, hạn chế như về cơ sở pháp lý điều chỉnh; sức ỳ, độ nhờn trong các
công cụ của chính sách, tính hiệu quả của các công cụ…
Nếu các vấn đề trên không được khắc phục, chỉnh sửa, bổ sung kịp
thời, chính sách Bảo hiểm tiền gửi không thể tiếp tục đi vào cuộc sống, khi đó
sẽ thành lực cản đối với nền kinh tế và đặc biệt là quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng, Bảo hiểm tiền gửi. Vì vậy vấn đề đặt ra cho
hướng lựa chọn đề tài là nghiên cứu chính sách Bảo hiểm tiền gửi của một
1
số nước và từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Bảo hiểm tiền gửi Việt
nam.
Khóa luận vận dụng các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mác-Lênin và các phương pháp nghiên cứu khoa học khác
như phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh… dựa trên các tài liệu thu thập
được để một mặt phân tích thực trạng hoạt động Bảo hiểm tiền gửi của Việt
người sao cho nó chỉ còn là rủi ro nhỏ đối với số đông. Hình thức phân tán rủi
ro chính là bảo hiểm” (Fredic S.Mishkin (2001)- Tiền tệ, ngân hàng và thị
trường tài chính, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà nội, tái bản lần thứ
3).
John Black định nghĩa bảo hiểm tiền gửi trong từ điển kinh tế Oxford
phát hành năm 1997, New York như sau: “ Bảo hiểm tiền gửi là dịch vụ bảo
hiểm rủi ro các ngân hàng hoặc các trung gian tài chính bị phá sản cho người
có tiền gửi tại các ngân hàng hoặc trung gian tài chính đó”. Định nghĩa này đã
phản ánh tương đối rõ ràng nội dung của bảo hiểm tiền gửi. Thực tế bảo hiểm
tiền gửi là bảo hiểm trách nhiệm dân sự của tổ chức huy động tiền gửi đối với
3
người gửi tiền.
Rủi ro trong bảo hiểm tiền gửi là trường hợp các ngân hàng hoặc tổ
chức huy động tiền gửi khác bị phá sản. Thông thường trong các trường hợp
như vậy mức đền bù cho người có tiền gửi tại tổ chức bị phá sản phụ thuộc
vào giá trị tài sản còn lại và người gửi tiền có thể mất trắng số tiền gửi của
mình. Tuy nhiên khi tồn tại cơ chế bảo hiểm tiền gửi thì tổ chức Bảo hiểm
tiền gửi sẽ thực hiện cam kết bảo hiểm đó là thanh toán một phần hoặc toàn
bộ số tiền gốc và lãi của các khoản tiền gửi cho người gửi tiền. Người hưởng
lợi từ dịch vụ bảo hiểm tiền gửi là những người có tiền gửi tại các ngân hàng
và tổ chức huy động tham gia Bảo hiểm tiền gửi.
Theo tài liệu “Xây dựng hệ thống Bảo hiểm tiền gửi hiệu quả” của
Diễn đàn ổn định tài chính (Financial Stability Forum) tháng 9 năm 2001,
“Bảo hiểm tiền gửi được hiểu là một sự đảm bảo rằng số dư gốc và lãi cộng
dồn của các tài khoản tiền gửi nhất định sẽ được thanh toán đến một giới hạn
nhất định”. Định nghĩa này của Diễn đàn ổn định tài chính có thể được hiểu
rằng có một giới hạn nhất định trong việc chi trả tiền bồi thường và chỉ những
khoản tiền gửi nhất định mới được bảo hiểm. Điều này cho thấy sự khác biệt
cơ bản giữa bảo hiểm tiền gửi và cơ chế bảo lãnh trọn gói. Trong cơ chế bảo
lãnh trọn gói, khi tổ chức huy động tiền gửi bị phá sản, Chính phủ đứng ra
bảo hiểm tiền gửi đều tự động được bảo hiểm.
- Bảo hiểm tiền gửi là loại dịch vụ (hàng hoá) mang tính xã hội cao,
5
xuất phát từ một trong các mục đích của hoạt động bảo hiểm tiền gửi là góp
phần đảm bảo tính ổn định của hệ thống tài chính quốc gia, người thụ hưởng
dịch vụ là toàn xã hội. Theo cách phân loại của nhà kinh tế học Stiglitz, bảo
hiểm tiền gửi là hàng hoá công cộng (hàng hoá công) không thuần tuý.
Xuất phát từ mục đích của chính sách bảo hiểm tiền gửi mà dịch vụ
Bảo hiểm tiền gửi được coi là hàng hoá công. Tính chất công cộng của dịch
vụ Bảo hiểm tiền gửi là ở chỗ Bảo hiểm tiền gửi đáp ứng nhu cầu chung của
toàn xã hội, tức là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền,
góp phần duy trì sự ổn định của các tổ chức tín dụng và bảo đảm sự phát triển
an toàn lành mạnh hoạt động ngân hàng. Ai cũng có quyền bình đẳng được
tiếp cận đến loại hàng hoá dịch vụ này, và việc người này sử dụng không ảnh
hưởng nhiều đến người khác sử dụng chúng.
Dù muốn hay không, ta cũng không thể loại trừ sự thụ hưởng dịch vụ
Bảo hiểm tiền gửi một cách tuyệt đối. Mặc dù người hưởng lợi trực tiếp từ
Bảo hiểm tiền gửi là người gửi tiền và các tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi
thì những đối tác khác vẫn được hưởng lợi một cách gián tiếp.
Người gửi tiền có tiền gửi thuộc đối tượng được bảo hiểm được hưởng
lợi trực tiếp khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra. Khi có rủi ro ngân hàng, tổ chức
nhận tiền gửi mất khả năng thanh toán, bị đóng cửa, người gửi tiền sẽ được tổ
chức Bảo hiểm tiền gửi thanh toán tiền bảo hiểm. Đây chính là số tiền mà tổ
chức Bảo hiểm tiền gửi cam kết với tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi khi
thực hiện bảo hiểm.
Các tổ chức huy động tiền gửi cũng được hưởng lợi. Hơn ai hết, người
sản xuất thường biết rõ hơn người tiêu dùng về sản phẩm mà họ bán. Các chủ
ngân hàng và giám đốc ngân hàng biết rõ về tình hình tài chính của họ hơn là
6
khách hàng. Do thiếu khả năng tiếp cận thông tin nên trong điều kiện vốn
hiểm khác nhau.
Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi có quyền chủ nợ thế quyền đối với các
khoản tiền gửi được bảo hiểm đã chi trả. Nói chung tất cả các quốc gia đều
không chi trả cho các khoản tiền gửi được chi trả ở nước ngoài do không kiểm
soát được mức độ rủi ro cho các khoản tiền gửi đó.
2. Mục tiêu, đối tượng của chính sách Bảo hiểm tiền gửi
2.1. Mục tiêu
Chính sách Bảo hiểm ở mỗi quốc gia khác nhau là khác nhau: phi lợi
nhuận hay vì lợi nhuận. Nhưng dù là có mục tiêu nào thì cũng hướng tới một
số nội dung cơ bản như sau:
- Bảo vệ quyền lợi người gửi tiền: thể hiện ở việc hạn chế rủi ro đến
mức thấp nhất và có một cơ chế bồi thường nhanh chóng.
- Bảo vệ các trung gian thanh toán có hoạt động ngân hàng: phòng
ngừa nguy cơ đổ vỡ, hiệu ứng dây chuyền.
- Bảo vệ tổ chức Bảo hiểm tiền gửi, góp phần làm minh bạch thị
trường tiền tệ, đảm bảo an ninh kinh tế, chính trị và trật tự an toàn xã hội.
Chính sách Bảo hiểm tiền gửi có vai trò vị trí quan trọng trong hệ
thống chính sách của Nhà nước, nó biểu hiện không chỉ trong lĩnh vực tài
chính tiền tệ mà cả trong lĩnh vực đảm bảo an ninh chính trị và xã hội, nhất là
trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Khi có một ngân hàng bị đổ vỡ sẽ
8
dẫn đến sự mất lòng tin của người gửi tiền vào hệ thống ngân hàng. Đặc biệt
khi có khủng hoảng ngân hàng, người gửi tiền sẽ đổ xô cùng lúc để rút tiền
gốc bỏ qua cả lãi. Và có thể sẽ ảnh hưởng đến chính trị an ninh xã hội. Ví dụ:
khủng hoảng ngân hàng tại Anbani năm 1987 làm sụp đổ hệ thống quỹ tiết
kiệm, dẫn đến nội chiến gây sụp đổ chính phủ và hệ thống chính trị.
2.2. Đối tượng
Bao gồm: tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi (gọi tắt là tổ chức tham
gia), tổ chức Bảo hiểm tiền gửi, người gửi tiền, loại tiền gửi được bảo hiểm
2.2.1.Tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi
+ Theo loại hình doanh nghiệp: gồm loại hình đa hình thức sở hữu,
hoạt động được điều chỉnh theo Luật Doanh nghiệp; và loại hình tổ chức tài
chính Nhà nước chỉ thuộc sở hữu Nhà nước, hoạt động theo sự điều chỉnh của
pháp luật về lĩnh vực Bảo hiểm tiền gửi.
2.2.3.Người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm
Là đối tượng có các loại tiền gửi được bảo hiểm (chỉ nội tệ hay cả
ngoại tệ) gửi tại tổ chức tham gia. Tuỳ theo mục tiêu, chính sách của quốc gia
mà đối tượng được bảo hiểm là cá nhân hay tổ chức.
Người gửi tiền được bảo hiểm nhưng không phải nộp phí.
Người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm, nhận tiền bảo hiểm khi
xảy ra sự kiện bảo hiểm tại tổ chức tham gia đến một hạn mức chi trả nhất
10
định hoặc nhận toàn bộ số tiền được bảo hiểm mà họ đã gửi các tổ chức tham
gia khi các tổ chức đó bị đổ vỡ. Số tiền bảo hiểm tuỳ thuộc chính sách Bảo
hiểm tiền gửi ở mỗi quốc gia quy định.
2.2.4.Các loại tiền gửi thuộc đối tượng được bảo hiểm
Tiền gửi được bảo hiểm là tiền gửi được pháp luật bảo vệ và chịu sự
điều chỉnh của chính sách Bảo hiểm tiền gửi, ngược lại là loại tiền gửi không
được bảo hiểm. Trong nhiều hệ thống Bảo hiểm tiền gửi đang quy định một
số hay toàn bộ các loại tiền gửi sau không thuộc diện bảo hiểm: tiền gửi ở
nước ngoài của các ngân hàng trong nước, tiền gửi bằng bản tệ của các chi
nhánh ngân hàng nước ngoài, tiền gửi là ngoại tệ, tiền gửi liên ngân hàng.Các
khoản tiền gửi trên thường là các khoản lớn, nên với cơ chế Bảo hiểm tiền gửi
có hạn chế, các loại tiền gửi trên có thuộc diện được bảo hiểm hay không
cũng không có khác biệt đáng kể. Một số nước không bảo hiểm cho các
khoản tiền gửi của người làm trong ngân hàng (lãnh đạo ngân hàng), điển
hình là hệ thống tiền gửi của Pháp.
3. Các công cụ của Bảo hiểm tiền gửi
3.1.Cấp vốn, hỗ trợ tài chính cho hệ thống Bảo hiểm tiền gửi
3.1.1.Cấp vốn hỗ trợ tài chính cho tổ chức tham gia
góp tài chính.
Để giúp tổ chức Bảo hiểm tiền gửi thực hiện tốt vai trò, chức năng của
mình, mỗi quốc gia phải xây dựng chính sách Bảo hiểm tiền gửi giải quyết
12
được hai vấn đề quan trọng đặt ra là : Xử lý các khoản tổn thất về tiền gửi; hỗ
trợ cho tổ chức Bảo hiểm tiền gửi trong trường hợp những khoản tổn thất có
tính thảm hoạ vượt quá năng lực tài chính của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi,
nhằm đảm bảo khả năng thanh toán cho hệ thống Bảo hiểm tiền gửi.
Khi xảy ra tổn thất có tính thảm họa đòi hỏi chính phủ phải có vai trò
hậu thuẫn quan trọng, trong đó có hỗ trợ tài chính cho tổ chức Bảo hiểm tiền
gửi. Hình thức hỗ trợ có thể là:
+ Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi được vay từ Ngân hàng Trung ương hoặc
Chính phủ để đảm bảo lòng tin của người gửi tiền và đẩy tỷ lệ vốn hoạt động
trở lại biên độ bình thường. Ví dụ: ngày 27 tháng 2 năm 1991, Quốc hội Mỹ
thông qua đạo luật củng cố FDIC( Federal Deposit Insurance Corporation)
cho phép FDIC được vay từ kho bạc Mỹ tối đa 30 tỷ USD, hoàn trả trong 15
năm; hoặc được Chính phủ bảo lãnh phát hành một lượng trái phiếu hợp lý.
+ Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi có thể vay các trung gian tín dụng để thực
hiện nghĩa vụ của mình. Biện pháp này ít được khuyến khích, đặc biệt khi tổ
chức Bảo hiểm tiền gửi có vai trò, chức năng giám sát đối với tổ chức tham
gia Bảo hiểm tiền gửi.
3.2.Phí Bảo hiểm tiền gửi
Phí bảo hiểm tiền gửi là một trong những công cụ quan trọng và có tính
nhạy cảm của chính sách Bảo hiểm tiền gửi đối với hệ thống Bảo hiểm tiền
gửi ở mỗi quốc gia. Tùy theo mục tiêu thiết lập hệ thống Bảo hiểm tiền gửi là
hoạt động vì lợi nhuận hay phi lợi nhuận ở mỗi nước mà định ra một chính
sách phí là cao hơn, thấp hơn hay ở điểm cân bằng giữa các khoản thu nhập
so với tổn thất mà tổ chức Bảo hiểm tiền gửi phải chi ra, nói cách khác nó chi
phối việc định ra mức phí bảo hiểm công bằng và phù hợp ở mỗi quốc gia.
13
Mô hình quyền chọn của Merton đã chứng minh được việc trả tiền với
sự bảo lãnh đáng tin cậy của bên thứ ba trong việc thanh toán nợ cho các trái
chủ của khách hàng mà không chắc chắn có xảy ra và được thực hiện hay
không, tương tự như một quyền chọn bán.
Mô hình “quyền chọn của Merton” đã giúp một số hệ thống Bảo hiểm
tiền gửi có điều kiện áp dụng có thể vận dụng phương pháp này định phí cho
các tổ chức tham gia được công bằng. Tuy nhiên mô hình cũng bộc lộ một số
hạn chế. Đó là hạn chế về tính thực tiễn và việc bỏ qua mức độ giới hạn về
nguồn vốn huy động tiền gửi theo tỷ lệ tối thiểu cho phép. Phương pháp này
chỉ áp dụng khi thông tin về giá trị tài sản của ngân hàng có sẵn trên thị
trường, còn tổ chức chưa niêm yết trên thị trường thì không áp dụng được.
Từ những hạn chế trên đòi hỏi cần có phương pháp định phí khác và
phương pháp định phí dựa trên cơ sở thông tin kế toán theo mô hình “tổn thất
dự kiến” đã khắc phục được hạn chế trên. Phương pháp này ra đời năm 1995,
ưu điểm là có thể áp dụng cho mọi loại hình ngân hàng chứ không chỉ các
ngân hàng đã niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Tính chất của phương pháp là đi xác định “tổn thất dự kiến” thông qua
ước lượng giá trị tài sản ròng của một ngân hàng dựa trên các bản báo cáo
dòng tiền chu chuyển để định phí bảo hiểm cho ngân hàng. Mô hình được xác
định:
Tổn thất dự kiến = Xác suất chi trả bảo hiểm dự kiến * Tiền gửi bảo
hiểm* Tỷ lệ chi trả bảo hiểm thực tế
Trong đó:
- Tổn thất dự kiến: là mức độ tổn thất đối với tổ chức Bảo hiểm tiền gửi
(nhà Bảo hiểm) được xác định theo tỷ lệ của tiền gửi bảo hiểm, từ đó đo
15
lường được chi phí bảo hiểm để đảm bảo bù đắp được khoản chi phí bảo hiểm
để đảm bảo bù đắp được khoản chi phí của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi đã bỏ
ra.
- Xác suất chi trả bảo hiểm dự kiến hay xác suất vỡ nợ dự kiến của
hàng phải kết các tài khoản của người gửi tiền riêng lẻ có từ hai tài khoản trở
lên tại ngân hàng. Tuy nhiên hệ thống Bảo hiểm tiền gửi không nên lựa chọn
tổng tiền gửi làm cơ sở đánh giá duy nhất.
3.2.2.Các hình thức đóng phí
+ Buộc các tổ chức tham gia gánh chịu các khoản tổn thất sau khi xảy
ra đổ vỡ ngân hàng, hình thức này ít được áp dụng.
+ Thành lập quỹ bảo hiểm và yêu cầu tổ chức tham gia định kỳ nộp một
khoản phí vào quỹ. Đây là hình thức đóng phí bảo hiểm trước- là hình thức tốt
nhất và được áp dụng chủ yếu.
Ngoài ra có thể kết hợp cả hai hình thức trên.
Xây dựng quỹ bảo hiểm đủ mạnh có thuận lợi là sẽ giúp củng cố lòng
tin của người gửi tiền vì đó là sự bảo đảm hữu hình mà người gửi tiền được
bảo hiểm mong đợi. Một thuận lợi khác là dần dần quỹ bảo hiểm này phát
triển, lớn lên đến một mức đủ mạnh sẽ có tác động quan trọng trong việc giảm
dần các khoản đóng góp phí bảo hiểm của tổ chức tham gia.
3.2.3.Các loại phí
+ Phí bảo hiểm đồng hạng: Được hiểu là tỷ lệ phí bảo hiểm theo một
mức chung, áp dụng cho mọi tổ chức tham gia hoạt động trong lãnh thổ một
quốc gia. Phí bảo hiểm đồng hạng còn gọi là phí “cố định”. Hầu hết các hệ
thống Bảo hiểm tiền gửi mới thành lập đều áp dụng loại phí này, vì dễ thực
hiện, dễ áp dụng, chi phí vận hành hệ thống thấp.
+ Phí bảo hiểm điều chỉnh theo mức độ rủi ro được bảo hiểm: Được
hiểu là tỷ lệ phí xác định trên cơ sở đánh giá mức độ rủi ro tương ứng với các
mức phí trong biên độ phí bảo hiểm (có trần và sàn) của hệ thống Bảo hiểm
18
tiền gửi, còn gọi là phí “linh hoạt”. Loại phí này hiện nay đang được nhiều quốc
gia nghiên cứu, áp dụng. Nó thể hiện tính thị trường và sự công bằng hơn. Tuy
nhiên nó đòi hỏi về công nghệ và quản trị hệ thống, cơ chế cung cấp thông tin,
chi phí cho hệ thống là tốn kém.
Chi trả tiền bảo hiểm là việc nhà bảo hiểm thực hiện trách nhiệm của
Đối với phí linh hoạt, để xác định được đúng đắn loại rủi ro và mức độ
rủi ro, vấn đề đặt ra phải đảm bảo giữa một bên là yêu cầu phải có được
những thông tin cần thiết và đủ để đánh giá mức độ rủi ro nhằm xếp hạng, xếp
loại tổ chức tham gia vào mức phí phù hợp, một bên là yêu cầu sao cho yêu
cầu của hệ thống tính phí theo mức độ rủi ro không gây ra những vướng mắc,
khó khăn quá mức cho tổ chức tham gia.
Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi có thể dựa vào một số mô hình như mô hình
CAMELS để giám sát đánh giá và xếp hạng các tổ chức tham gia. Từ đó có
những biện pháp, chính sách với từng tổ chức tham gia
3.4.Xử lý đổ vỡ hoạt động ngân hàng đối với tổ chức tham gia Bảo
hiểm tiền gửi
Xử lý đổ vỡ hoạt đông ngân hàng trong cơ chế Bảo hiểm tiền gửi là quá
trình giải quyết các mối quan hệ về lợi ích theo các quy định của pháp luật về
Bảo hiểm tiền gửi, khi một tổ chức tham gia bị mất khả năng thanh toán nợ
đến hạn và tổ chức đó bị giải thể bắt buộc hay bị phá sản phải chi trả tiền bảo
hiểm.
20
Khi xây dựng hệ thống Bảo hiểm tiền gửi, các quốc gia đề ra các quy
định trong luật Bảo hiểm tiền gửi hoặc những quy định của Chính phủ về
những vấn đề liên quan tới các phương thức giải quyết, xử lý đổ vỡ hoạt động
ngân hàng. Các quy định này cần đảm bảo rằng các phương thức được tổ chức
Bảo hiểm tiền gửi sử dụng phù hợp với đối tượng và hình thức của hệ thống
Bảo hiểm tiền gửi. Đây là một trong những chức năng quan trọng của tổ chức
Bảo hiểm tiền gửi. Thông thường tổ chức Bảo hiểm tiền gửi có thể sử dụng
một số biện pháp xử lý sau: thứ nhất là liệt kê phương thức xử lý cụ thể mà tổ
chức có thể được sử dụng. Thứ hai là sử dụng khuôn khổ chung về mặt chính
sách mà tổ chức phải sử dụng (chỉ rõ từng phương thức phù hợp với từng đối
tượng và hình thức của hệ thống Bảo hiểm tiền gửi). Biện pháp này có thể tốt
hơn vì nó cho phép tổ chức Bảo hiểm tiền gửi được quyền linh hoạt trong xử
lý đổ vỡ ngân hàng.
+ Tiền gửi được bảo hiểm sẽ được thanh toán hết: Khi ngân hàng đổ
vỡ, bị đóng cửa Bảo hiểm tiền gửi sẽ hoàn trả cho tất cả người gửi tiền được
bảo hiểm đến một hạn mức nhất định. Những người gửi tiền không được bảo
hiểm và các chủ nợ khác không nhận được bất kỳ một khoản thanh toán nào
từ tổ chức Bảo hiểm tiền gửi. Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi sau khi chi trả được
quyền đòi bồi thường khi thanh lý ngân hàng.
+ Chuyển nhượng các giao dịch bán và giao dịch đảm nhiệm: Tương tự
như trên nhưng có một số khác biệt. Với tiền gửi được bảo hiểm, tổ chức Bảo
22
hiểm tiền gửi sẽ dàn xếp việc chuyển tất cả các khoản tiền gửi được bảo hiểm
của tổ chức tham gia bị đóng cửa sang một tổ chức khác hoạt động lành mạnh
được đảm nhiệm chịu trách nhiệm thanh toán các khoản tiền gửi được bảo
hiểm. Tổ chức chịu trách nhiệm sẽ nhận được khoản thanh toán tiền mặt theo
thống nhất của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi từ quỹ bảo hiểm.
+ Hợp nhất với tổ chức tham gia lớn mạnh khác có sự hỗ trợ tài chính:
Trong quá trình dàn xếp, tổ chức Bảo hiểm tiền gửi và tổ chức nhận sáp nhập
sẽ đàm phán các điều kiện của giao dịch này, bao gồm cả giá trị, hình thức
thanh toán, điều kiện liên quan khác mà tổ chức Bảo hiểm tiền gửi sẽ phải
thực hiện nhằm khuyến khích tổ chức nhận sáp nhập với một tổ chức bị đổ
vỡ. Vấn đề chính là có thể không có một tổ chức nào hoàn toàn vững mạnh,
đủ điều kiện để thực hiện đảm nhiệm. Thậm chí nếu có nhưng có thể họ sẽ
không sẵn sàng thực hiện đảm nhiệm, ít nhất là với các điều kiện có thể chấp
nhận đối với tổ chức Bảo hiểm tiền gửi. Hơn nữa tổ chức đảm nhiệm sẽ muốn
đánh giá thận trọng tổ chức bị đổ vỡ.
+ Biện pháp này hay được sử dụng nhất khi người gửi tiền cần được
bảo vệ nhằm đảm bảo lòng tin của công chúng. Trong khi biện pháp thứ hai
và thứ ba vừa không khả thi lại vừa không được phép thực hiện theo chính
sách Bảo hiểm tiền gửi cũng như các quy định có liên quan. Trợ giúp tài chính
là biện pháp mà tổ chức Bảo hiểm tiền gửi cung cấp có thể thực hiện dưới
nhiều hình thức, tùy tình hình, mức độ cụ thể và tùy theo quy mô hoạt động
luật thị trường. Vấn đề ở đây không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề
chính trị xã hội sâu sắc, làm khủng hoảng lòng tin của người gửi tiền, của
công chúng và các chính sách của nhà nước, trong đó có chính sách ngân
hàng. Nhận thức rõ vấn đề này, nhà nước đã thông qua hệ thống các Ngân
hàng thương mại Quốc doanh đứng ra nhận trả thay các khoản tiền gửi của
người gửi tiền tại một số tổ chức bị đổ vỡ này. Khoản tổn thất này của các
Ngân hàng thương mại Quốc doanh được nhà nước khoanh nợ, xóa nợ… hoặc
nhà nước dùng biện pháp khác để can thiệp nhằm giảm bớt hậu quả của tình
trạng đổ vỡ quỹ tín dụng đối với ngân hàng được giao đứng ra nhận trả thay.
Như vậy xét trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế nhà nước đứng ra chịu toàn bộ
tổn thất này, nhưng bù lại đã giữ được lòng tin của người gửi tiền và công
chúng. Tuy nhiên những biện pháp bảo vệ này không được công khai và đã
nảy sinh các vấn đề pháp lý giải quyết các vấn đề xung đột về quyền lợi hợp
pháp của công dân, của tổ chức trong các quan hệ pháp luật. Để giải quyết căn
bản những tồn tại vướng mắc đó, đồng thời chia sẻ rủi ro, giảm thiểu hậu quả
đổ vỡ ngân hàng, nhà nước ban hành cơ chế mới về “bảo vệ tiền gửi”. Đây
chính là nền tảng để hình thành chính sách Bảo hiểm tiền gửi của nhà nước.
Chính sách Bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam là sách lược và kế hoạch cụ
thể của nhà nước về Bảo hiểm tiền gửi, để điều chỉnh các hoạt động Bảo hiểm
tiền gửi theo quy định của pháp luật. Nó được ban hành dựa vào đặc thù của
thị trường tiền tệ và đường lối chính sách chung của Việt Nam, nhằm bảo vệ
quyền lợi hợp pháp của các đối tượng tham gia hoạt động bảo hiểm tiền gửi,
góp phần giữ ổn định kinh tế chính trị trật tự xã hội. Bên cạnh đó Chính phủ
cũng xem xét để xây dựng một mô hình tổ chức Bảo hiểm tiền gửi phù hợp
25