BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
ĐỖ HOÀNG ANH
NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG CỦA CÁC
CAO CHIẾT KHÁC NHAU TỪ BẸ CÂY
MÓC THEO HƯỚNG LÀM THUỐC
CẦM MÁU
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
HÀ NỘI - 2015 BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
ĐỖ HOÀNG ANH
NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG CỦA CÁC
CAO CHIẾT KHÁC NHAU TỪ BẸ CÂY
MÓC THEO HƯỚNG LÀM THUỐC
Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới những người thân trong
gia đình, những người bạn đã luôn kịp thời động viên, ủng hộ em trong suốt quá
trình học tập tại trường cũng như trong thời gian thực hiện khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Sinh viên Đỗ Hoàng Anh
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1:TỔNG QUAN 2
1.1. Các bệnh liên quan tới chảy máu 2
1.1.1. Chảy máu do rối loạn chức năng thành mạch 2
1.1.2. Chảy máu do tiểu cầu 3
1.1.3. Chảy máu do rối loạn các yếu tố đông máu 5
1.2. Một số mô hình nghiên cứu tác dụng của thuốc lên thành mạch 8
1.2.1. Mô hình nghiên cứu tác dụng co mạch trên tai thỏ cô lập 8
1.2.2. Mô hình gây tăng tính thấm thành mạch 9
1.3. Cây Móc và các nghiên cứu về tác dụng dược lý của cây Móc 12
1.3.1. Một số đặc điểm của cây Móc 12 DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
aPTT Activated Partial Thromboplastin Time
(Thời gian thromboplastin hoạt hóa từng phần )
ITP Immune thrombocytopenic purpura
(Xuất huyết giảm tiểu cầu tự miễn)
IgG Immunoglobulin G
PCCs Prothrombin complex concentrates
(Phức hợp prothrombin)
PIVKA Protein induced by vitamine K absence
(Các tiền chất đông máu)
PT Prothrombin Time
(Thời gian prothrombin)
TT Thrombin Time
(Thời gian thrombin) DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng Tên bảng Trang
2.1 Sơ đồ chiết phân đoạn cao chiết có tác dụng tốt
nhất
18
2.2 Sơ đồ thiết kế nghiên cứu
21
1ĐẶT VẤN ĐỀ
Chảy máu là một hội chứng tương đối phổ biến, có thể xảy ra ở mọi cơ quan
trong cơ thể như chảy máu cam, chảy máu chân răng, chảy máu dưới da, chảy máu
các tạng, chảy máu não…thường do va chạm, chấn thương. Các bệnh liên quan đến
chảy máu rất đa dạng và nguy hiểm nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời.
Trong khi đó các thuốc điều trị các bệnh chảy máu hiện có trên thị trường chưa
nhiều, có nhiều tác dụng không mong muốn và ít được đầu tư để nghiên cứu tìm ra
thuốc mới. Vì vậy, việc phát triển các thuốc có tác dụng cầm máu là vấn đề rất cấp
thiết hiện nay.
Việt Nam có nền y học cổ truyền từ lâu đời với nguồn dược liệu vô cùng
phong phú và đầy tiềm năng phát triển, trong đó có rất nhiều dược liệu có tác dụng
cầm máu. Bẹ cây móc (Caryota mitis) hay còn gọi là Tông lư, là một vị thuốc cầm
máu được nhân dân ta sử dụng từ lâu và cho tác dụng tốt [11], [12]. Tuy nhiên chưa
có nghiên cứu nào về tác dụng cầm máu của bẹ móc trên thực nghiệm nên việc sử
dụng dược liệu này còn hạn chế. Trong mấy năm gần đây, nhóm nghiên cứu đã tập
trung vào đánh giá tác dụng cầm máu của bẹ móc trên chuột bình thường và chuột
gây rối loạn đông máu và kết quả cho thấy thuốc có tác dụng cầm máu và cơ chế
của tác dụng này có lẽ liên quan đến tác dụng trên thành mạch[14]. Để tiếp tục
nghiên cứu về bẹ móc, hướng tới việc xác định hoạt chất có tác dụng cầm máu và
dung môi chiết xuất tốt nhất, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tác dụng của
thường nhưng các mạch máu bị tổn thương làm thay đổi tính thấm thành mạch và
trương lực mạch máu khiến mạch máu không thực hiện trọn vẹn được vai trò của nó
[30]. Một số bệnh lý chảy máu thường gặp do nguyên nhân này là:
1.1.1.1. Hội chứng Scholein – Henoch (Xuất huyết do dị ứng)
Cơ chế bệnh sinh: Do vi khuẩn hoặc các chất gây dị ứng tạo ra phản ứng
kháng nguyên – kháng thể ở lớp niêm mạc thành mạch gây phản ứng viêm cấp tính,
dẫn đến tăng tính thấm thành mạch và gây xuất huyết. Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi
nhưng thường gặp nhất ở trẻ em và người trẻ.
3 Triệu chứng lâm sàng: Các ban xuất huyết (không có mảng xuất huyết)
thường ở các chi; viêm khớp (đầu gối, mắt cá, cổ tay); đau bụng; rối loạn thận gây
đi tiểu ra máu, albumin niệu.
Điều trị: corticoid (chỉ làm giảm triệu chứng)[27], tìm nguyên nhân để loại
bỏ, dùng vitamin C và PP [1].
1.1.1.2. Bệnh Rendu – osler
Bệnh có tính di truyền theo tính trội trên nhiễm sắc thể thường khiến mao
mạch bị giãn hoặc xuất hiện u máu xuất huyết. Bệnh hiếm gặp, xuất hiện ở cả hai
giới.
Triệu chứng lâm sàng: chảy máu thường xuyên, hay gặp chảy máu cam. Các
triệu chứng phát triển theo thời gian, hay gặp ở khoảng tuổi 12 cũng có khi muộn
hơn. U mạch máu thường xuất hiện sau 20 tuổi ở da và niêm mạc, rất kín đáo, chỉ
khám kỹ mới phát hiện được.
Các xét nghiệm đông máu, số lượng tiểu cầu đều bình thường.
Điều trị: cầm máu tại chỗ, truyền máu hoặc huyết tương khi cần, dùng
vitamin C liều cao [1],[27].
1.1.1.3. Chảy máu do thành mạch dễ vỡ do thiếu vitamin C
Vitamin C tham gia tạo colagen và một số thành phần khác tạo nên mô liên
kết ở xương, răng, mạch máu. Do đó thiếu vitamin C thành mạch máu sẽ không
1.1.2.3. Giảm tiểu cầu thứ phát
Giảm tiểu cầu được định nghĩa là số lượng tiểu cầu dưới 100.000 tế bào/mm
3
hoặc giảm trên 50% so với giá trị ban đầu.
Giảm tiểu cầu thứ phát có thể là do mất máu, nhiễm trùng hay sử dụng một
số thuốc (VD: quinidin, quinin, kháng sinh sufonamid,…) hoặc phơi nhiễm với hóa
chất kéo dài (thuốc trừ sâu, dung môi hữu cơ). Các thuốc làm giảm tiểu cầu có thể
do một số cơ chế: thuốc gây độc tính trực tiếp, ức chế tủy xương, các tác nhân hóa
học trị liệu thường theo cơ chế này; hoặc theo cơ chế miễn dịch, thuốc làm cơ thể
sinh ra kháng thể kháng tiểu cầu.
Triệu chứng lâm sàng: bầm tím, chấm xuất huyết, chảy máu cam.
Điều trị: tìm nguyên nhân gây bệnh để loại bỏ; truyền tiểu cầu hoặc huyết
tương [23].
5
1.1.2.4. Xuất huyết giảm tiểu cầu tự miễn (ITP)
Xuất huyết giảm tiểu cầu tự miễn là một bệnh tự miễn, trong đó một tự
kháng thể IgG được tạo thành và gắn vào tiểu cầu; phần Fc của tự kháng thể này bị
đại thực bào ở lách nhận diện (do chúng có thụ thể Fc). Các đại thực bào ở lách sẽ
gắn với tiểu cầu có phủ kháng thể làm tiểu cầu bị tiêu hủy. Mặc dù có sự gắn bổ thể
vào tự kháng thể nhưng quá trình này không gây tiêu hủy tiểu cầu trực tiếp [7].
Bệnh đặc trưng bởi xuất huyết da và niêm mạc như niêm mạc miệng, tiêu
hóa; rong kinh; hiếm khi chảy máu nội sọ hay xuất huyết võng mạc; số lượng tiểu
cầu rất thấp, có thể tiểu cầu lớn, hình thái khác thường.
Điều trị: corticoid, các globulin miễn dịch, khi cần thiết sử dụng các thuốc ức
chế miễn dịch, nếu xuất huyết nặng có thể truyền máu hoặc tiểu cầu [27].
1.1.3. Chảy máu do rối loạn các yếu tố đông máu
II, VII, X).
Việc sử dụng các yếu tố đã tinh chế khuyến khích được sử dụng hơn so với
việc truyền máu hay huyết thanh do hạn chế được việc lây nhiễm chéo các bệnh qua
đường máu như viêm gan B, HIV…[23].
1.1.3.2. Bệnh von Willebrand
Yếu tố von Willebrand là yếu tố quan trọng của quá trình cầm máu, nó cần
cho sự kết dính tiểu cầu và đồng thời là phân tử vận chuyển yếu tố VIII trong tuần
hoàn, giúp yếu tố này không bị phân hủy. Vì vậy von Willebrand trong quá trình
cầm máu ảnh hưởng đến cả chức năng tiểu cầu và đông máu.
Bệnh von Willebrand có tính chất gia đình, di truyền theo tính trội, gặp ở cả
2 giới, gồm có 3 loại: loại 1 và loại 3 liên quan tới các khuyết tật về số lượng yếu tố
von Willebrand; loại 1 phổ biến nhất, đặc trưng bởi sự giảm nhẹ đến trung bình yếu
tố von Willebrand và giảm tương tự yếu tố VIII; loại 3 rất hiếm gặp, yếu tố von
Willebrand và yếu tố VIII rất thấp, hầu như không thấy; loại 2 liên quan tới các đột
biến về chức năng của yếu tố von Willebrand.
Triệu chứng lâm sàng: rất thay đổi, một số bệnh nhân không có triệu chứng;
chảy máu cam, chảy máu chân răng, rong kinh, dễ bầm tím, chảy máu sau phẫu
thuật.
7 Điều trị: sử dụng desmopressin, hoặc yếu tố VIII tái tổ hợp; truyền máu,
truyền huyết tương hoặc tiểu cầu trong trường hợp chảy máu nhiều hoặc sử dụng
thuốc không hiệu quả[23],[27].
1.1.3.3. Chảy máu do bệnh gan
Gan là cơ quan tổng hợp các yếu tố đông máu và các chất ức chế đông máu
(antithrombin…). Tất cả các yếu tố đông máu (trừ yếu tố VIII) đều giảm ở người
suy gan (cấp tính hoặc mãn tính). Số lượng và chức năng tiểu cầu giảm ở người bị
bệnh gan. Do đó, ở những người mắc bệnh gan thường rất dễ chảy máu.
Điều trị (trong trường hợp có chảy máu hoặc trước thủ thuật xâm lấn):
bình thường. Để đánh giá khả năng cầm máu của thuốc trong các mô hình gây chảy
máu các mức độ khác nhau thường sử dụng các mô hình gây chảy máu bằng tổn
thương: mô hình gây tổn thương tạng, tổn thương não, tổn thương mạch máu hoặc
tổn thương da và niêm mạc. Để định hướng cơ chế tác dụng của thuốc lên các yếu
tố của quá trình cầm máu có thể sử dụng các mô hình: mô hình nghiên cứu tác dụng
co mạch, mô hình gây tăng tính thấm thành mạch (để nghiên cứu tác dụng của thuốc
lên thành mạch); mô hình giảm số lượng tiểu cầu, mô hình giảm chất lượng tiểu cầu
(để nghiên cứu tác dụng của thuốc lên tiểu cầu); mô hình gây rối loạn đông máu
bằng heparin, mô hình gây thiếu vitamin K, mô hình gây bệnh gan, mô hình gây
Hemophilia (để nghiên cứu tác dụng của thuốc lên các yếu tố đông máu) [19].
Tuy nhiên trong phạm vi của khóa luận này, chúng tôi chỉ trình bày tổng
quan về các mô hình nghiên cứu tác dụng của thuốc lên thành mạch gồm có mô
hình nghiên cứu tác dụng co mạch và mô hình gây tăng tính thấm thành mạch.
1.2.1. Mô hình nghiên cứu tác dụng co mạch trên tai thỏ cô lập
Nguyên tắc: Cho dung dịch thuốc nghiên cứu (được đặt ở độ cao thích hợp
để tạo áp suất thủy tĩnh hằng định) chảy qua hệ mạch tai thỏ cô lập. Một thuốc có
tác dụng co mạch sẽ làm giảm lượng dịch chảy qua hệ mạch và ngược lại, một chất
giãn mạch sẽ làm tăng lượng dịch chảy qua hệ mạch. Thuốc có tác dụng co mạch sẽ
làm giảm lượng máu chảy, giảm thời gian chảy máu do đó có tác dụng cầm máu.
Tiến hành:
Thỏ cả 2 giống, trọng lượng 2 – 3 kg. Cô lập tai thỏ khỏi cơ thể.
9 Luồn kim vào động mạch tai thỏ, bơm dung dịch ringer cho sạch máu rồi cố
định tai thỏ vào bàn cố định
Nối kim vào bình chứa dung dịch ringer (dung dịch này được đặt ở độ cao
thích hợp để tạo áp suất, bình nối với kim bằng dây truyền có khóa để điều chỉnh
tốc độ chảy), để dung dịch ringer chảy qua hệ mạch tai thỏ. Đếm số giọt chảy qua
phễu hứng trong thời gian 1 phút. Khi lưu lượng chảy đã ổn định (số giọt chảy/ phút
carrageenan 1% vào gan bàn chân trái sau của chuột. Đo thể tích chân chuột tại các
thời điểm: trước khi tiêm và sau khi tiêm carrageenan 1giờ, 3 giờ, 5 giờ, 7 giờ và 24
giờ.
Đánh giá:
- Tính độ phù chân chuột (tỷ lệ % tăng thể tích bàn chân của chuột so với
thời điểm trước khi tiêm carrageenan)
- Tỷ lệ % ức chế phù của lô thử so với lô chứng
1.2.2.2. Mô hình gây tăng tính thấm thành mạch bằng phenethylamin [33]
Nguyên tắc: Mô hình này gây tăng tính thấm thành mạch bằng cách tiêm
phenethylamin, sự tăng tính thấm thành mạch sẽ thể hiện qua sự thoát mạch của
dung dịch xanh Evan ra mô xung quanh. Thuốc có tác dụng giảm tính thấm thành
mạch sẽ làm giảm mức độ thoát mạch của dung dịch xanh Evan và có tác dụng cầm
máu.
Tiến hành:
Sử dụng chuột cống trắng, trọng lượng 160 –200g, chuột được chia ngẫu
nhiên thành các lô.
Cạo lông vùng bụng chuột, tiêm tĩnh mạch dung dịch xanh Evan 1% với liều
5mg/kg. Sau đó 1 giờ, cho chuột uống thuốc hoặc dung môi. Sau 30 phút, gây mê
chuột bằng ether rồi tiêm trong da 0,05mL dung dịch phenethylamin 0,01% ở cả 3
vị trí phải, trái và trên bụng. Sau 90 phút, giết chuột bằng ether rồi tiến hành đo
đường kính vùng da bị nhuộm xanh hoặc cắt vùng da bị nhuộm xanh đem ngâm vào
dung dịch natri clorid 0,09%, sau khoảng 24 giờ lọc lấy dịch rồi đem đo quang.
Đánh giá:
Đo đường kính để tính diện tích vùng da bị nhuộm màu xanh hoặc tính nồng
dung dịch xanh Evan đã thoát mạch (tính dựa vào đường chuẩn nồng độ dung dịch
11xanh Evan – mật độ quang). Tính giá trị trung bình cho từng lô. Tính tỷ lệ % ức chế
sự thoát mạch xanh Evan của lô thử so với lô chứng theo công thức:
Chiếu tia UV trong 2 phút rồi cho chuột uống nốt 1/2 lượng thuốc hoặc dung môi
còn lại. Ban đỏ được ghi lại tại thời điểm 2 giờ và 4 giờ sau khi chiếu tia UV.
Đánh giá
Dựa vào phương pháp tính điểm để đánh giá mức độ ban đỏ trên mỗi chuột
12 0 = không ban đỏ 2 = ban đỏ mạnh
1 = ban đỏ yếu 4 = ban đỏ rất mạnh
Tính điểm trung bình mỗi lô, sau đó tính tỷ lệ % ức chế ban đỏ của lô thử so
với lô chứng.
Những chuột với kết quả là 0 và 1 được xem là đã được bảo vệ. Các kết quả
thu được sau 2 và 4 giờ có thể sơ bộ cho biết khoảng thời gian tác dụng.
1.3. Cây Móc và các nghiên cứu về tác dụng dược lý của cây Móc
1.3.1. Một số đặc điểm của cây Móc
1.3.1.1. Đặc điểm thực vật
Cây Móc có tên khoa học là Caryota mitis Lour., thuộc họ Cau – Arecaceae.
Ngoài ra, cây móc còn có tên khác: đùng đình, đủng đỉnh, mạy khuông [11], [20].
Cây phân bố chủ yếu ở các nước Đông Nam Á. Tại Việt Nam, cây tập trung
ở nhiều ở vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Thường sử dụng bẹ, rễ, ngoài ra còn
dùng quả [11], [12], [20].
1.3.1.2. Thành phần hóa học
Dịch của bông mo thu hái vào lúc còn non chứa sucrose 13,6%, vết của
đường khử. Dịch đã lên men chứa đường khử 1%, alcol 3-4,5%, acid acetic 0,3%
[20].
Bông mo có chứa các nhóm chất: anthranoid, coumarin, flavonoid, tanin,
saponin, chất béo, đường khử, acid amin (acid aspartic và acid glutamic là 2 thành
phần có hàm lượng cao nhất) [10].
Quả chín có chứa tinh thể calci oxalate hình kim. Vì vậy cần tránh tiếp xúc
với vỏ quả này vì đây là thành phần gây ngứa khi tiếp xúc với quả chín [11],[31].
37,67%; 56,09% so với lô chứng (p<0,05). Trong đó liều 6g/kg chuột nhắt có làm
giảm thời gian chảy máu nhiều nhất (56,09%) trong các mức liều nghiên cứu.
So sánh tác dụng của bẹ móc và rễ móc: Bẹ móc và rễ móc mức liều 6g/kg
chuột đều làm giảm thời gian chảy máu lần lượt là 56,09% và 40,12% so với lô
chứng (p<0,05). Bẹ móc và rễ móc có tác dụng giảm thời gian chảy máu tương
14đương nhau (p>0,05). Vì vậy, các nghiên cứu về sau chọn bẹ móc làm nguyên liệu
nghiên cứu để vừa dễ thu hái vừa bảo tồn được nguồn dược liệu.
Số lượng tiểu cầu và một số chỉ số đông máu: Nghiên cứu cho thấy bẹ móc
liều 6g/kg chuột nhắt không làm thay đổi số lượng tiểu cầu, PT, aPTT, fibirinogen,
thời gian đông máu so với lô chứng (p > 0,05).
Về tác dụng cầm máu tại chỗ:
Cao nước bẹ móc với các nồng độ 2%;4%;8% đều làm giảm thời chảy máu
lần lượt 26,02%; 30,54% và 29,33% so với lô chứng (p < 0,01).
Về tác dụng chống viêm tại chỗ:
Cao nước bẹ móc (cao lỏng 4:1) làm giảm phù so với chứng (p < 0,05) tại
các thời điểm 3 giờ, 5 giờ, 7 giờ sau khi gây viêm bằng carrageenan.
Về tác dụng chống viêm đường uống:
Bẹ móc liều 3g/kg chuột cống trắng làm giảm 23,53% phù so với chứng
(p < 0,05) tại thời điểm 5 giờ sau khi gây viêm bằng carrageenan.
Về độc tính cấp:
Liều LD
50
của bẹ móc là 120g/kg chuột nhắt trắng.
Như vậy, đây là nghiên cứu đầu tiên về tác dụng theo hướng cầm máu của
cây móc trên thực nghiệm. Nghiên cứu đã xác định được liều dùng đường uống của
bẹ móc (6g/kg chuột nhắt), sự tương đương giữa tác dụng cầm máu của bẹ móc và
rễ móc. Bẹ móc có tác dụng cầm máu nhưng không ảnh hưởng đến số lượng tiểu
Kết quả nghiên cứu: bẹ móc liều 6g/kg chuột nhắt làm giảm thời gian chảy
máu 30,16% so với lô chứng bệnh (dùng heparin tiêm dưới da liều 1200IU/kg x 2
lần/ ngày) có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Trên thời gian đông máu, PT, aPTT, bẹ
móc liều 6g/kg chuột không làm thay đổi các chỉ số trên so với chứng bệnh
(p > 0,05).
Như vậy, bẹ móc liều 6g/kg chuột nhắt không chỉ có tác dụng cầm máu trên
chuột bình thường mà còn có tác dụng cầm máu trên chuột gây rối loạn đông máu
bằng aspirin, acenocoumarol và heparin. Điều này đem lại nhiều lợi ích trên lâm
sàng bởi các thuốc trên được sử dụng ngày càng nhiều để điều trị huyết khối, tuy
nhiên tác dụng phụ hay gặp nhất là chảy máu, vì vậy kết quả này gợi ý việc sử dụng
bẹ móc sẽ hạn chế được tình trạnh chảy máu trên các bệnh nhân đang sử dụng
16những thuốc trên. Bên cạnh đó, bẹ móc liều 6g/kg chuột không làm ảnh hưởng đến
số lượng tiểu cầu, các chỉ số PT, aPTT, thời gian đông máu chứng tỏ tác dụng cầm
máu của bẹ móc có lẽ không liên quan đến tiểu cầu và quá trình đông máu.
1.3.2.3. Nghiên cứu tác dụng của bẹ móc trên thành mạch[14]
Với mô hình trên hệ mạch tai thỏ cô lập: sau khi truyền cao bẹ móc với dãy
nồng độ tăng dần từ 0,05% đến 1%, bắt đầu từ nồng độ 0,08% số giọt chảy ra từ
tĩnh mạch rìa tai thỏ giảm so với khi chưa truyền dịch có ý nghĩa thống kê
(p < 0,05). Ở nồng độ cao nhất 1%, sự giảm số giọt chảy ra từ hệ mạch tai thỏ là
nhiều nhất (39,00%) so với ban đầu. Kết quả này cho thấy cao bẹ móc có tác dụng
làm co mạch.
Tóm lại: Các nghiên cứu đi trước đã cho thấy, bẹ cây móc có tác dụng cầm
máu, cơ chế của tác dụng này có lẽ không liên quan đến số lượng tiểu cầu và quá
trình đông máu mà có lẽ do ảnh hưởng lên giai đoạn thành mạch. Tuy nhiên các
nghiên cứu trên chưa xác định được thành phần hoạt chất có tác dụng cầm máu và
đều thực hiện với cao chiết nước của bẹ cây móc, đây là dung môi chiết ít tốn kém
và không độc hại nhưng dịch chiết nhiều tạp và khó bảo quản do vi khuẩn dễ phát
cồn 60
0
, cồn 80
0
, cồn tuyệt đối và methanol theo phương pháp chiết nóng được ghi
trong phụ lục 1.1, Dược điển Việt Nam IV [8]. Cân dược liệu với khối lượng thích
hợp, cho vào bình cầu, cho dung môi lượng vừa phải, chiết nóng bằng cách sử dụng
thiết bị chiết hồi lưu, với mỗi dung môi đều chiết 3 lần, đem lọc dịch chiết thu được
để loại tạp. Cô dịch chiết thành cao đặc để bảo quản. Hiệu suất chiết và hàm ẩm của
các cao được trình bày trong bảng 2.1
Bảng 2.1: Hiệu suất chiết và hàm ẩm của các cao chiết
Cao chiết Khối lượng dược
liệu khô (g)
Khối lượng
cao (g)
Hiệu suất
chiết (%)
Hàm ẩm
(%)
Cao nước 279,53 34,63 12,39 14,03
Cao cồn 30
0
277,69 52,37 18,86 15,89
Cao cồn 60
0
287,55 60,6 21,07 19,54
Cao cồn 80
0
293,74 61,61 20,97 19,93
Cao cồn tuyệt đối