Phân tích thực trạng sử dụng thuốc theo danh mục thuốc tại khoa sản bệnh lý bệnh viện phụ sản tư - Pdf 29



BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI

LẠI THỊ HỒNG TƢƠI

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG
SỬ DỤNG THUỐC THEO DANH MỤC
THUỐC TẠI KHOA SẢN BỆNH LÝ
BỆNH VIỆN PHỤ- SẢN TRUNG ƢƠNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ

HÀ NỘI – 2015 BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI LẠI THỊ HỒNG TƢƠI

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG
SỬ DỤNG THUỐC THEO DANH MỤC
THUỐC TẠI KHOA SẢN BỆNH LÝ
BỆNH VIỆN PHỤ - SẢN TRUNG ƢƠNG

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, các anh chị,
bạn bè đã luôn ở bên, chia sẻ, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
học tập và hoàn thành khóa luận.

Hà Nội, ngày 14 tháng 5 năm 2015
Sinh viên

Lại Thị Hồng Tƣơi
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ ______________________________________________________ 1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN __________________________________________ 2
1.1. Danh mục thuốc bệnh viện _______________________________________ 2
1.1.1. Khái niệm danh mục thuốc bệnh viện ___________________________ 2
1.1.2. Xây dựng DMT bệnh viện ____________________________________ 2
1.2. Các phương pháp phân tích DMT __________________________________ 3
1.2.1. Phương pháp phân tích ABC __________________________________ 4
1.2.2. Phương pháp phân tích VEN __________________________________ 6
1.2.3. Phương pháp phân tích ma trận ABC/VEN _______________________ 8
1.2.4. Tổng quan các nghiên cứu phân tích DMT _______________________ 9
1.3. Một số bệnh lý phổ biến trong sản khoa ____________________________ 16
1.3.1. Tăng huyết áp thai kì và tiền sản giật ___________________________ 16
1.3.2. Dọa đẻ non _______________________________________________ 17
1.3.3. Thai lưu _________________________________________________ 18
1.3.4. Rau tiền đạo ______________________________________________ 18
1.3.5. Rau cài răng lược __________________________________________ 18
1.3.6. Đái tháo đường ____________________________________________ 19
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU _________ 20

4.2. Phân tích VEN và ABC/VEN ____________________________________ 41
4.2.1. Kết quả phân tích __________________________________________ 41
4.2.2. Phương pháp phân tích VEN _________________________________ 45
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ________________________________________ 48
Kết luận ________________________________________________________ 48
Kiến nghị _______________________________________________________ 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT ABC
Phương pháp phân tích tương quan giữa lượng tiêu thụ và
chi phí
BV
Bệnh viện
BYT
Bộ Y tế
DMT
Danh mục thuốc
HDĐT
Hướng dẫn điều trị
HĐT&ĐT
Hội đồng thuốc và điều trị
ICD - 10
Bảng phân loại bệnh quốc tế bệnh
(The International Classification of Diseases)

Bảng 1.6. Các yếu tố nguy cơ của tiền sản giật 17
Bảng 2.1. Kết quả phân tích ma trận ABC/VEN 23
Bảng 3.1. Tỷ lệ giá trị của các nhóm thuốc trong danh mục 25
Bảng 3.2. Phân loại ABC danh mục thuốc theo tên thương mại và hoạt chất 27
Bảng 3.3. Các thuốc nhóm A, B theo tên thương mại 28
Bảng 3.4. Các thuốc nhóm A, B theo tên hoạt chất 29
Bảng 3.5. Các bệnh phổ biến của khoa Sản bệnh lý – Bệnh viện Phụ sản Trung
Ương năm 2014 30
Bảng 3.6. Đặc điểm phiếu xin ý kiến và kết quả xin ý kiến 32
Bảng 3.7. Các văn bản của BYT liên quan đến thuốc trong DMT của khoa 33
Bảng 3.8. Tỷ lệ, % giá trị các thuốc nằm trong DMT thiết yếu, DMT thuốc chủ
yếu, DMT bệnh viện 34
Bảng 3.9. Tỷ lệ các thuốc được phân loại VEN các thuốc theo từng chuyên gia 35
Bảng 3.10. Mức độ đồng thuận của chuyên gia khi phân loại VEN 35
Bảng 3.11. Kết quả phân loại V, E, N các thuốc trong DMT khoa Sản I 36
Bảng 3.12. Các thuốc chưa phân loại được V, E, N 37
Bảng 3.13. Số lượng và % giá trị các nhóm trong phân tích gộp ABC/VEN 37
Bảng 3.14. Số lượng và % giá trị các nhóm I, II, III trong phân tích ABC/VEN 38
Bảng 3.15. Kết quả phân loại các thuốc V, E, N trong nhóm A, B 38

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 3.1. Tỷ lệ các phân nhóm trong nhóm thuốc chống nhiễm khuẩn 26
Hình 3.2. Tỷ lệ giá trị các phân nhóm trong nhóm thuốc tác dụng đối với máu 26

thuốc chiếm tỷ lệ giá trị cao (nhóm A, B) trong đó docetaxel là thuốc chiếm tỷ lệ giá
trị cao nhất (43,1%), 3 thuốc không thiết yếu (N) nhưng thuộc nhóm A, B là
glutathion, acridon acetic acid + n – methylglucamin và n - methylglucamin. Tuy
nhiên, việc phân loại VEN trong nghiên cứu này chưa được thông qua Hội đồng
thuốc của BV. Trong năm 2015, BV tiếp tục thí điểm ở khoa Sản bệnh lý để hoàn
thiện phương pháp. Đây là lí do chúng tôi tiến hành đề tài: “Phân tích tình hình sử
dụng thuốc theo danh mục thuốc tại khoa Sản bệnh lý bệnh viện Phụ sản Trung
ương” với mục tiêu nghiên cứu là:
1. Phân tích ABC, VEN, ABC/VEN danh mục thuốc tại khoa Sản bệnh lý –
BV Phụ Sản Trung Ương năm 2014. 2

CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN

1.1. Danh mục thuốc bệnh viện
1.1.1. Khái niệm danh mục thuốc bệnh viện
Danh mục thuốc (DMT) là danh sách các thuốc được sử dụng trong hệ thống
chăm sóc sức khỏe, các bác sĩ sẽ kê đơn các thuốc nằm trong danh mục này [47].
DMT của BV là một danh sách các thuốc đã được lựa chọn, phê duyệt để sử dụng
trong bệnh viện [13].
1.1.2. Xây dựng DMT bệnh viện
1.1.2.1 Nguyên tắc xây dựng DMT bệnh viện
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của HĐT&ĐT là đánh giá và chọn lọc
thuốc vào DMT bệnh viện[50]. Theo hướng dẫn của Thông tư số 21/2013/TT-BYT
của Bộ y tế [10], thuốc được chọn vào DMT trong BV nên dựa trên các nguyên tắc
sau:
 Bảo đảm phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí về thuốc dùng điều trị
trong bệnh viện;

mục thuốc.
1.2. Các phƣơng pháp phân tích DMT
Theo hướng dẫn của WHO năm 2004 [50], có 4 phương pháp để giải quyết các
vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc tại BV mà HĐT&ĐT nên áp dụng thường
xuyên, đó là:
 Phƣơng pháp tổng hợp dữ liệu: Các dữ liệu tổng hợp được không liên
quan đến từng cá thể bệnh nhân, và dữ liệu có thể thu thập một cách tương
đối dễ dàng. Các phương pháp cụ thể như phân tích ABC, phân tích VEN,
4

phương pháp DDD (là phương pháp liều xác định hàng ngày) được sử dụng
để xác định những vấn đề lớn liên quan đến sử dụng thuốc.
 Phƣơng pháp thu thập thông tin ở cấp độ cá thể các bệnh nhân: dùng để
nghiên cứu các chỉ số liên quan đến thuốc, những thông tin này có thể được
thu thập từ những người không kê đơn và được sử dụng để xác định các vấn
đề sử dụng thuốc, chăm sóc bệnh nhân, đánh giá các can thiệp cải thiện các
vấn đề được xác định. Tuy nhiên phương pháp thu thập này thường không
đủ thông tin để đánh giá việc sử dụng thuốc phù hợp với chẩn đoán.
 Các phƣơng pháp định tính: tập trung thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu, xây
dựng bộ câu hỏi, là những phương pháp hữu ích để xác định vấn đề sử dụng
thuốc.
 Phân tích chi tiết các dữ liệu trên từng các thể bệnh nhân: Đánh giá sử
dụng thuốc là một hệ thống đánh giá dựa trên các tiêu chí liên tục của việc
sử dụng thuốc, đảm bảo việc sử dụng thuốc thích hợp với từng cấp độ bệnh
nhân.
Để phát hiện các vấn đề lớn liên quan đến thuốc nhằm quản lý tốt danh mục
thuốc thì phương pháp phân tích ABC, VEN là phương pháp hữu ích [50].
1.2.1. Phƣơng pháp phân tích ABC
1.2.1.1 Khái niệm phân tích ABC
Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ

cao hơn, xác định các liệu pháp điều trị thay thế, hoặc đàm phán mức giá thấp hơn
với các đơn vị cung cấp [50].
Phân tích ABC còn giúp đo lường mức độ tiêu thụ, phản ánh nhu cầu chăm sóc
sức khỏe cộng đồng, vì vậy có thể dự đoán việc sử dụng thuốc bất hợp lý thông qua
lượng thuốc tiêu thụ và mô hình bệnh tật [50].
6

Bên cạnh đó phân tích ABC có thể xác định việc mua sắm cho các thuốc
không nằm trong danh mục thuốc thiết yếu của bệnh viện ví dụ như các thuốc không
nằm trong DMT bảo hiểm chi trả [50].
Sau khi hoàn thành phân loại A, B, C cần kiểm tra lại từng thuốc, đặc biệt là
các thuốc nhóm A, thay thế các thuốc không có trong DMT bảo hiểm và các thuốc
đắt tiền bằng các thuốc rẻ hơn mà hiệu quả điều trị tương đương [50].
Tóm lại, ưu điểm của phân tích ABC là có thể xác định các thuốc chiếm chi
phí lớn, tuy nhiên nhược điểm lớn nhất của phương pháp phân tích này là không
cung cấp thông tin để có thể so sánh các thuốc về sự khác biệt hiệu quả điều trị [50].
1.2.2. Phƣơng pháp phân tích VEN
1.2.2.1 Khái niệm phân tích VEN
Phân tích VEN là phương pháp giúp xác định ưu tiên cho hoạt động mua sắm
và tồn trữ thuốc trong bệnh viện khi nguồn kinh phí không đủ để mua toàn bộ các
loại thuốc như mong muốn. Theo như thông tư 21/2013/TT-BYT của Bộ y tế thì
trong phân tích VEN, các thuốc được phân chia thành 3 hạng mục cụ thể như sau
[10]
 Thuốc V (Vital drugs) – là thuốc dùng trong các trường hợp cấp cứu hoặc
các thuốc quan trọng, nhất thiết phải có để phục vụ công tác khám bệnh,
chữa bệnh của bệnh viện.
 Thuốc E (Essential drugs) – là thuốc dùng trong các trường hợp bệnh ít
nghiêm trọng hơn nhưng vẫn là các bệnh lý quan trọng trong mô hình bệnh
tật của bệnh viện.
 Thuốc N (Non – Essential drugs) – là thuốc dùng trong các trường hợp

Về lựa chọn thuốc: Các thuốc V, E nên được ưu tiên lựa chọn, đặc biệt khi
ngân sách hạn hẹp.
8

Về mua sắm thuốc: Các thuốc V, E cần phải được kiểm soát thường xuyên khi
đặt hàng, nếu ngân sách hạn hẹp thì việc sử dụng phân tích VEN được dùng để đảm
bảo số lượng các thuốc V, E phải được mua đầy đủ trước tiên. Sau khi tiến hành
phân tích sẽ chỉ chọn những nhà cung cấp đáng tin cậy để mua các thuốc V, E; với
những nhà cung cấp mới có thể thử kí hợp đồng các thuốc N.
Về sử dụng thuốc: từ kết quả phân tích VEN giúp đưa ra kiến nghị sử dụng các
thuốc V, E, xem xét lại vấn đề nếu sử dụng quá nhiều thuốc N.
Về dự trữ thuốc: chú ý đặc biệt đối với các thuốc V, E để tránh hết kho.
Về phân công lao động: những thuốc V, E nên được giao cho những nhân viên
có nhiều kinh nghiệm quản lý [31].
1.2.3. Phƣơng pháp phân tích ma trận ABC/VEN
1.2.3.1 Khái niệm
Khi phân tích VEN đã được thực hiện thì nên kết hợp với phân tích ABC để
xác định mối quan hệ giữa các thuốc chi phí cao nhưng có mức độ ưu tiên thấp, đặc
biệt là hạn chế hoặc xóa bỏ các thuốc nhóm “N” nhưng lại có chi phí cao ở nhóm
“A” trong phân tích ABC [50]. Sự kết hợp phân tích VEN và ABC sẽ tạo thành ma
trận ABC/VEN.
1.2.3.2 Phƣơng pháp tiến hành
Kết quả phân tích VEN, ABC được đưa vào bảng ma trận ABC/VEN như bảng
1.1.
Kết quả phân tích ma trận ABC/VEN cho 3 nhóm như sau:
 Nhóm I: gồm AV, BV, CV, AE, AN
 Nhóm II: gồm BE, CE, BN
 Nhóm III: gồm CN [24] [48] [30, 41].

9

và đường cong Lorenz [39]. Trước đó, Vilfredo Pareto là người đầu tiên đưa ra học
thuyết 80/20, nghĩa là trong nhiều sự kiện, khoảng 80% kết quả là do 20% nguyên
nhân gây ra. Pareto phát hiện ra học thuyết này nhờ các quan sát thấy rằng 80% đất
ở Ý là thuộc sở hữu của 20% dân số. Đường cong Lorenz là một loại đồ thị biểu
diễn mức độ bất bình đẳng trong phân phối [39]. Nhờ học thuyết Pareto và nghiên
cứu khởi đầu này đã đưa phân tích ABC dần trở thành công cụ đơn giản, quan trọng
trong quản lý doanh nghiệp.
Trong ngành Dược phân tích ABC cũng đã được ứng dụng nhiều tại các BV
trên khắp thế giới. Một phân tích ABC đã được tiến hành tại một cửa hàng thuốc
trong năm 1989 [23]. Kết quả phân tích cho thấy nhóm A gồm 20% số lượng thuốc
10

(90 thuốc) chiếm tới 75,94% giá trị tiêu thụ, nhóm B gồm 30% số lượng thuốc (130
thuốc) chiếm 18,84% giá trị tiêu thụ, nhóm C gồm 50% số lượng thuốc (217 thuốc)
chỉ chiếm 5,22% giá trị tiêu thụ. Dựa trên kết quả nghiên cứu họ đã tiến hành các
mức độ kiểm soát khác nhau đối với từng nhóm A, B, C như bảng 1.2
Bảng 1.2. Mức độ kiểm soát đối với từng nhóm A, B, C trong nghiên cứu[23]
Nhóm A
Nhóm B
Nhóm C
Kiểm soát rất chặt chẽ
Kiểm soát trung bình
Kiểm soát lỏng
Không dự trữ an toàn
Dự trữ an toàn thấp
Dự trữ an toàn cao
Đặt hàng thường xuyên,
giao hàng hàng tuần
3 tháng 1 lần
đặt hàng -giao hàng

sách thuốc thiết yếu của Indonesia với tên gọi DOEN 2008 [32] và tham khảo ý kiến
của các chuyên gia. Kết quả phân tích 347 hoạt chất cho thấy chưa tới 10% số
11

lượng hoạt chất có giá trị tiêu thụ khoảng 80% chi phí thuốc. Nhóm phân tích đã đưa
ra số liệu phân tích VEN của các hoạt chất trong nhóm A: có 13 hoạt chất nằm trong
nhóm N, chiếm tới 39,6% chi phí, có nhiều hoạt chất nằm trong nhóm N nhưng có
thứ hạng cao trong nhóm A như paklitaksel (hạng 2), meropenem (hạng 3),
cefotaxime (hạng 7), ketorolak (hạng 8), sefoflurane (hạng 9). Cuối cùng nhóm
nghiên cứu đã đưa ra khuyến nghị với lãnh đạo bệnh viện nhằm quản lí và sử dụng
thuốc có hiệu quả là đối với 13 thuốc thuốc nhóm VN cần thực hiện phân tích sâu
hơn, BV cần xây dựng hướng dẫn điều trị chuẩn để phân tích VEN dễ dàng và chính
xác hơn [38].
Để phân tích tính sống còn, thiết yếu của các thuốc trong danh mục, chúng tôi
tìm thấy phần lớn là phân loại thuốc theo VED, chủ yếu được thực hiện trên danh
mục thuốc của nhà thuốc BV. Nhóm các tiêu chí phân loại VED có trong các nghiên
cứu là: (1) V là thuốc cần cho sự sống của bệnh nhân và phải có sẵn ở mọi thời
điểm, E là thuốc mà mức độ cần thiết ít hơn, tuy nhiên vẫn nên có sẵn trong bệnh
viện, còn thuốc D là thuốc mà nếu thiếu thì không ảnh hưởng tới sức khỏe bệnh
nhân [48] [24] [21] [37], (2) V là những thuốc phải có sẵn trong vòng 1h để cứu
sống bệnh nhân, E là những thuốc thiết yếu để điều trị cho bệnh nhân nhưng sự thiếu
hụt trong thời gian ngắn có thể được chấp nhận, D là những thuốc mà tính sẵn có
của chúng không ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe bệnh nhân [41]. Dựa trên những
tiêu chí trên, để tiến hành phân loại VED các nghiên cứu cũng có nhiều cách thức
thực hiện. (1) trong nghiên cứu năm 2003 tại cửa hàng thuốc BV Ấn Độ, danh mục
thuốc gồm 325 thuốc đã được gửi tới 10 nhân viên y tế bao gồm bác sĩ, bác sĩ phẫu
thuật, bác sĩ phụ khoa, bác sĩ gây mê, nhà bệnh lý học, bác sĩ nhi và 4 cán bộ y tế
khác để họ phân loại vào các nhóm V, E, D; nếu có trên 50% thành viên hội đồng
đồng thuận thì thuốc đó sẽ được phân hạng [24]. (2) trong nghiên cứu năm 2005
cũng tại Ấn Độ, nhóm nghiên cứu đã gửi danh sách 348 thuốc cho khoa Dược BV


13

Bảng 1.3. Kết quả một số nghiên cứu phân tích ABC/VED
Nghiên
cứu

Phân tích ABC
Phân tích VED
Phân tích ABC/VED

A
B
C
V
E
D
I (X)
II (Y)
III (Z)
Ấn Độ
2003 [24]
% SL
14
22,46
63,70
7,3
49,3
43,4
20,92

14,31
74,80
21,68
3,52
Bengal
2006 [41]
% SL
18,2
22,7
59,1
25,8
54,5
19,7
42,42
43,64
13,64
% GT
7,2
20,1
9,7
8,5
77,4
14,1
75,12
22,09
2,79
Ấn Độ
2007[37]
% SL
13,78

% GT
69,1
19,2
11,7
55,2
41,5
3,3
85,3
14,2
0,5
* Ghi chú: SL là số lượng, GT là giá trị
1.2.4.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Ở Việt Nam, phương pháp phân tích VEN/ABC hầu như chưa được áp dụng
thường qui ở các BV, nhưng đã có một số nghiên cứu để áp dụng phương pháp này.
Năm 2012, Nguyễn Quốc Toàn tiến hành phân tích danh mục thuốc đã tiêu thụ năm
2012 có sử dụng phương pháp phân tích ABC, VEN tại bệnh viện đa khoa huyện
Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc [15]. Tác giả đã tiến hành phân loại A, B, C: nhóm A chiếm
75% giá trị, nhóm B chiếm 15% giá trị tiếp theo, còn lại là nhóm C. Phân tích VEN
được tiến hành dựa trên bảng hướng dẫn phân loại VEN [15] [50], bảng 1.4 như sau:
14

Bảng 1.4. Bảng hƣớng dẫn phân loại VEN trong nghiên cứu BV Vĩnh Tƣờng
[15]
Đặc tính của thuốc và tình trạng
bệnh lý
Sống còn (V)
Thiết yếu (E)

Không
Điều trị bệnh nhẹ, triệu chứng
Không
Có thể

Hiệu quả điều trị được chứng minh
Luôn luôn
Thường có
Có thể
Không có hiệu quả điều trị rõ ràng
Không
Hiếm khi
Có thể

Năm 2012, Huỳnh Hiền Trung đã tiến hành phân tích ABC/VEN danh mục
thuốc tại bệnh viện nhân dân 115 trước và sau khi áp dụng một số biện pháp kiểm
soát danh mục thuốc. Biện pháp can thiệp là kiểm soát chặt chẽ các nhóm thuốc
theo thứ tự ưu tiên A, B, C và V, E, N cũng như I, II, III theo hướng hạn chế hay
loại bỏ thuốc không thiết yếu ra khỏi danh mục, nhất là các thuốc không thiết yếu sử
dụng nhiều ngân sách. Kết quả thu được: sau can thiệp số lượng các thuốc nhóm A
15

giảm 4,9% theo chủng loại, nhóm B giảm 3,1%, nhóm C giảm 23,8% và đã có
30,9% theo chủng loại bị loại khỏi danh mục, nhóm I giảm 5,7%, nhóm II giảm
15,7%, nhóm III giảm 16,4%. Theo kết quả của nghiên cứu, việc giảm tỷ lệ các
nhóm thuốc đã làm tăng chất lượng danh mục thuốc [16].
Tiêu chí phân loại VEN trong một số nghiên cứu ở Việt Nam được trình bày ở
bảng 1.5.
Bảng 1.5. Tiêu chí phân loại VEN trong 2 nghiên cứu của Huỳnh Hiền Trung
(2012) và Hoàng Thị Minh Hiền (2012)

tích VEN, họ đã thu thập số liệu để xác định các bệnh phổ biến tại khoa sau đó tổng
hợp phác đồ điều trị các bệnh này để xin ý kiến bác sĩ, cuối cùng họ phân tích VEN
không dựa trên đồng thuận của hội đồng mà tự phân loại dựa trên các tiêu chí: thuốc
16

nằm trong phác đồ điều trị các bệnh phổ biến đã xin ý kiến, thuốc nằm trong các
DMT thiết yếu, chủ yếu của BYT. Kết quả nghiên cứu đã phát hiện thấy trong nhóm
A, B có 3 thuốc được phân loại là thuốc không thiết yếu, nhóm N, gồm có
glutathione, acridon acetic acid + n-methylglucamin, n – methylglucamin. Các thuốc
không thiết yếu chiếm 42,2% số lượng và chiếm 12,9% giá trị [11].
1.3. Một số bệnh lý phổ biến trong sản khoa
Những bệnh lý của phụ nữ mang thai thường gặp bao gồm cả bệnh mạn tính và
các bệnh xuất hiện trong giai đoạn thai kỳ như tăng huyết áp, tiền sản giật, dọa đẻ
non, thai lưu, đái tháo đường, rau tiền đạo, rau cài răng lược [4].
1.3.1. Tăng huyết áp thai kì và tiền sản giật
Tăng huyết áp thai kỳ được chẩn đoán khi huyết áp đo được trong ít nhất 2 lần
cách nhau 4 – 6 giờ có giá trị từ 140/90 mm Hg trở lên [40]. Trong thai kì, cả chức
năng tim và chức năng cân bằng nội môi của thai phụ đều biến đổi. Những biến đổi
này có thể dẫn đến giảm huyết áp vào giai đoạn đầu thai kì nhưng trong nửa sau của
thai kì huyết áp có thể tăng lên về mức như trước khi mang thai. Vì vậy sự thay đổi
này có thể che dấu tình trạng tăng huyết áp mạn tính trong giai đoạn đầu thai kì [29].
Tăng huyết áp làm tăng nguy cơ tiền sản giật, rau bong non [42]. Tiền sản giật được
chẩn đoán khi có tăng huyết áp (tăng huyết áp thai kì hoặc tăng huyết áp mạn tính)
và lượng protein niệu ≥ 300mg/24 giờ [40]. Các yếu tố nguy cơ của tiền sản giật
được trình bày ở bảng 1.6. Các thuốc hạ áp như methyldopa, labetalol, nifedipin,
hydralazin, metoprolol thường được sử dụng để điều trị tăng huyết áp và tiền sản
giật [40]. Một số tài liệu khuyến cáo với những thai phụ có ít nhất 1 yếu tố nguy cơ
cao hoặc ít nhất 2 yếu tố nguy cơ trung bình nên điều trị dự phòng bằng aspirin bắt
đầu từ 12 tuần cho đến lúc sinh [49].
Các yếu tố nguy cơ của tiền sản giật được trình bày ở bảng 1.6

thai kỳ [44]. Magnesium sulfat là thuốc có thể được sử dụng nếu thai phụ dọa đẻ
non dưới 32 tuần tuổi và có nguy cơ sinh trong vòng 24 giờ tới. Magnesium sulfat
giúp giảm nguy cơ bại não của trẻ, nguy cơ này thường gắn liền với những trẻ sinh
non. Ngoài ra magnesium sulfat cũng có thể được coi là một thuốc giảm co bóp tử
cung [44]. Các thuốc giảm co bóp tử cung như salbutamol, terbutalin, indomethacin
hay nifedipin có tác dụng trì hoãn cuộc sinh kéo dài 48 giờ để có thời gian đưa thuốc
corticoid hoặc magnesium sulfat vào hoặc có thời gian để thai phụ được chuyển tới
bệnh viện chăm sóc đặc biệt [44].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status