LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất tới quý thầy cô, Hội đồng khoa
học, Khoa sau đại học – Học viện Hành chính Quốc Gia đã tận tình giảng dạy,
đào tạo, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại nhà trường và trong quá
trình nghiên cứu viết luận văn tốt nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn các học viên lớp cao học CH15A đã cùng tôi
học tập, trao đổi, nghiên cứu các nội dung học tập trong suốt quá trình học tập
tại nhà trường.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn Thị Thu
Vân người hướng dẫn khoa học, người đã tận tình chỉ dẫn, định hướng cho
tôi hoàn thành luận văn này. Xin chân thành cảm ơn./.
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 BXD Bộ Xây dựng
2 HĐND Hội đồng nhân dân
3 QLNN Quản lý nhà nước
4 QPPL Quy phạm pháp luật
5 UBND Ủy ban nhân dân
6 VBQPPL Văn bản quy phạm pháp luật
MỤC LỤC
1.5.1 Khái niệm kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật 24
1.5.3.Ý nghĩa của hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật 25
1.5.5. Nội dung kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật 26
2.3.3 Kết quả hoạt động tự kiểm tra, rà soát, xử lý văn bản quy phạm pháp luật của Bộ
Xây dựng giai đoạn 2001 – 2010 62
2.3.3.1 Kết quả tự kiểm tra, rà soát 62
2.3.3.2 Nhận xét, đánh giá 62
a. Những thành tựu đạt được 62
2.3.4 Kết quả hoạt động kiểm tra, rà soát văn bản theo thẩm quyền các năm 2007, 2008,
2009, 2012 64
2.4 Khảo sát thực tiễn quy trình thực hiện hoạt động kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm
pháp luật của Bộ Xây dựng 73
Thực tiễn công tác đánh giá VPQPPL của Bộ xây dựng còn nhiều bất cập
như: chưa thống nhất được về nội dung, phương pháp, quy trình đánh giá, công tác
đánh giá vẫn còn chưa thực sự sâu sát, tỉ mỉ dẫn đến chất lượng của các VBQPPL
được đánh giá còn chưa cao. Từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi các VBQPPL
của Bộ Xây dựng.
Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết cần xây dựng được một quy trình đánh giá
VBQPPL hoàn chỉnh, khoa học và thống nhất trong Bộ Xây dựng. Xuất phát từ nhu
cầu hoàn thiện hơn nữa, nâng cao hơn nữa chất lượng công tác đánh giá văn bản
quy phạm pháp luật của Bộ Xây dựng.
Do hoạt động đánh giá văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động tổng hợp
gồm rất nhiều nghiệp vụ, nội dung bên trong. Nên trong khuôn khổ luận văn thạc sỹ
của mình tôi chọn đề tài nghiên cứu “Hoàn thiện quy trình đánh giá hệ thống văn
bản quy phạm pháp luật dưới hình thức kiểm tra qua thực tiễn Bộ Xây dựng.”
Với mục đích tìm hiểu thực tiễn công tác kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm
pháp luật và hệ thống văn bản QPPL của Bộ Xây dựng trên cơ sở đó đưa ra những ý
kiến góp ý nhằm xây dựng được quy trình kiểm tra và rà soát văn bản quy phạm
pháp luật một cách hoàn chỉnh và thống nhất trong Bộ Xây dựng. Trên cơ sở đó góp
phần nâng cao hơn nữa chất lượng của hoạt động kiểm tra, rà soát hệ thống văn bản
quy phạm pháp luật của Bộ Xây dựng.
1
2. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích
Nghiên cứu cơ sở lý luận về quy trình đánh giá văn bản quy phạm pháp luật.
Gồm quy trình đánh giá chung và đi sâu tìm hiểu quy trình kiểm tra, rà soát văn bản
quy phạm pháp luật.
Nghiên cứu thực tiễn hoạt động kiểm tra và rà soát hệ thống VBQPPL của
Bộ Xây dựng trên cơ sở đó nắm bắt được thực trạng hoạt động đánh giá hệ thống
VBQPPL của bộ, từ đó đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả
hoạt động kiểm tra, rà soát hệ thống VBQPPL của Bộ Xây dựng. Từ đó góp ý xây
dựng quy trình , kiểm tra, rà soát hệ thống VBQPPL thống nhất và khoa học cho Bộ
công chức của Bộ Xây dựng.
4. Phạm vi nghiên cứu
Do tính phức tạp của vấn đề, trong khuân khổ giới hạn của luận văn cao học
tác giả chỉ giới hạn nghiên cứu những vấn đề sau:
Tìm hiểu về hoạt động đánh giá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của
Bộ Xây dựng dưới hình thức kiểm tra, rà soát đối với VBQPPL được ban hành và
thực thi giai đoạn 2001 - 2010.
5. Tình hình nghiên cứu
Hiện nay vấn đề đánh giá hệ thống văn bản QPPL của Bộ Xây dựng chưa
được đề cập nghiên cứu sâu, kỹ mà chỉ được đề cập thoáng qua trong những báo
cáo tổng kết công tác tư pháp, báo cáo kết luận…Khi xây dựng đề tài tôi có tham
khảo một số tài liệu sau:
1. Luận văn Đánh giá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đào tạo đại
học của Phan Thị Thanh Hương, mã số 60 34 82 năm 2008. Người hướng dẫn TS
Nguyễn Thị Thu Vân;
2. Quy trình và phương pháp đánh giá hệ thống văn bản quản lý hành chính
nhà nước hiện hành của Vương Thanh Thủy, mã số 60 34 82 năm 2006. người
hướng dẫn TS Lưu Kiếm Thanh;
3
3. Hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý thủy lợi ở Việt Nam của Hoàng Thị
Hạnh;
4. Hoàn thiện hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của UBND
tỉnh Kiên Giang;
5. Thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Văn hóa – Thông
tin của Lê Thị Thanh Huyền, năm 2008, người hướng dẫn TS Lưu Kiếm Thanh.
Ngoài ra tác giả cũng tham khảo nhiều bài viết trên các tạp chí chuyên ngành
pháp lý, tổ chức, quản lý,. Các giáo trình về đánh giá văn bản quy phạm pháp luật
như : Soạn thảo và xử lý văn bản quản lý nhà nước của Nguyễn Văn Thâm, Kỹ
thuật Xây dựng và ban hành văn bản - Học viện Hành chính Quốc gia….
6. Cở sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu
trong công tác kiểm tra, rà soát văn bản QPPL của Bộ Xây dựng giai đoạn 2001-
2010.
+ Đề xuất những ý kiến nâng cao chất lượng thực hiện quy trình kiểm tra, rà
soát văn bản, hệ thống VBQPPL của Bộ Xây dựng.
+ Kiến nghị hoàn thiện quy trình kiểm tra VBQPPL của bộ.
+ Đề xuất áp dụng quy trình kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật.
+ Góp phần nâng cao chất lượng công tác đánh giá VBQPPL của Bộ xây
dựng từ đó nâng cao hiệu quả QLNN của Bộ Xây dựng.
8. Cấu trúc luận văn
Bố cục luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về đánh giá hệ thống văn bản quy
phạm pháp luật hiện hành của cơ quan bộ;
Chương II: Thực tiễn công tác kiểm tra, rà soát văn bản và hệ thống văn bản
quy phạm pháp luật hiện hành của Bộ Xây dựng;
Chương III: Kiến nghị hoàn thiện quy trình kiểm tra, rà soát hệ thống văn
bản quy phạm pháp luật hiện hành qua thực tiễn Bộ Xây dựng.
5
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ ĐÁNH GIÁ
HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
CỦA CƠ QUAN BỘ
1.1. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
1.1.1. Khái niệm hệ thống
Thuật ngữ hệ thống hiện nay còn được hiểu dưới nhiều quan điểm khác
nhau, thể hiện góc độ tiếp cận nghĩa đa dạng của thuật ngữ này như: Hệ tư tưởng,
hệ thống chính trị, hệ thống xã hội, hệ thống mạng viễn thông, hệ thống thông tin,
hệ thống công trình xây dựng, hệ thống xử lý….Chính phạm vi sử dụng của thuật
ngữ này rộng như vậy nên làm cho nghĩa của thuật ngữ này chưa được hiểu một
cách hoàn toàn thống nhất. Tuy nhiên trong các quan điểm đưa ra để định nghĩa
thuật ngữ này, các học giả, các nhà nghiên cứu đều thống nhất tiếp cận quan điểm
giảm hiệu quả trong mối tương tác qua lại của cả hệ thống từ đó ảnh hưởng đến
hiệu quả hoạt động của toàn bộ hệ thống hô hấp nói riêng và hệ thống nói chung.
Ở hệ thống tự nhiên các phần tử tác động với nhau một các mặc nhiên không
có mục đích, tuy nhiên ở hệ thống xã hội thì lại có khác biệt. Trong hệ thống xã hội
tức hệ thống do cơ người tạo ra các phần tử vận hành một cách có trật tự, theo quy
trình mà con người đã xây dựng, lập trình sẵn. Ở hệ thống này các phần tử quan hệ
với nhau rất mật thiết, tính gắn kết độ chính xác rất cao. Sản phẩm đầu ra của bộ
phận này là nguyên liệu đầu vào của bộ phận kia. Ví dụ như hệ thống thông tin liên
lạc, hệ thống điện, hệ thống chính trị
Ở các hệ thống trên mối quan hệ giữa các phần tử luôn luôn ảnh hưởng tới
toàn bộ hệ thống. Vì bản thân một hệ thống được tạo lập duy trì và phát triển được
căn bản dựa trên mối quan hệ đồng bộ của các phần tử trong hệ. Tính chất của các
mối quan hệ của các phần tử trong hệ thống trong từng thời điểm, thời kỳ khác nhau
cũng khác nhau, có lúc chúng tưng hỗ nhau, tác động nhịp nhành, trơn chu. Nhưng
cũng cũng có thời điểm mối quan hệ ấy nghịch nhau, nghĩa là sự kết hợp giữa các
7
phần tử rất yếu, thậm chí đối lập nhau, gây khó khăn cho nhau cản trở sự phát triển
của nhau, hoặc làm suy yếu nhau dẫn đến sự suy thoái của toàn bộ hệ thống.
Sự thay đổi của một phần tử luôn luôn ảnh hưởng đến hệ thống và ngược lại.
Trong tự nhiên và xã hội, mọi phần tử đều chịu sự tác động của quy luật vận
động và phát triển. Trong quy luật về sự vận động và phát triển, vận động và phát
triển là tuyệt đối, đứng im chỉ là tương đối là tạm thời. Mọi phần tử của hệ thống
đều chịu sự chi phối và tác động của quy luật này. Vậy nên sự thay đổi của các phần
tử trong hệ thống là luôn luôn và tất yếu.
Sự thay đổi của một phần tử trong hệ thống diễn ra theo những chiều hướng
khác nhau như: Phát triển, tăng trưởng ví dụ trong hệ thống ngân hàng thì mỗi ngân
hàng là một phần tử, tùy thuộc vào phương thức kinh doanh mà có thể có ngân hàng
kinh doanh có lãi và họ mở rộng kinh doanh. Nên quy mô của họ lớn hơn thể hiện
sự phát triển nên. Sự thay đổi này theo hướng tích cực làm cho hệ thống ngân hàng
phát triển nên. Tùy theo từng thời kỳ kinh tế nếu tất cả các ngân hàng kinh doanh
ngân hàng quốc doanh, không có ngân hàng tư nhân. Việc để hệ thống phát triển
như vậy gây lên tình trạng độc quyền nhà nước, dẫn tới không kích thích được cạnh
tranh, do đó hệ thống ngân hàng chậm phát triển. Nắm bắt được thực trạng này năm
1990 nhà nước ta đã thực hiện chính sách cải cách hệ thống ngân hàng bằng cách
cho phép việc hình thành các ngân hàng tư nhân, cho phép các ngân hàng tư nhân
tham gia vào hệ thống. Sự cải cách như vậy đã thêm sức sống mới vào hệ thống
ngân hàng nước ta, phá vỡ thế độc quyền của các ngân hàng nhà nước, làm cho hệ
thống ngân hàng nước ta phong phú hơn, đa dạng hơn, phát triển hơn.
Trong các hệ thống khác của xã hội cũng phát triển theo quy luật như vậy.
Khi hệ thống mới được hình thành rồi nó sẽ có tính độc lập tương đối với các phần
tử trong nó. Nó có tác động định hướng, giúp đỡ, hỗ trợ phần tử thuộc hệ thống phát
triển. Ví dụ hệ thống chi bộ Đảng hình thành ở mọi cơ quan, tổ chức thì hệ thống
chi bộ đảng sẽ có những biện pháp tác động nhằm định hướng, khuyến khích, bảo
vệ các đảng viên trong chi bộ.
9
Tóm lại mối quan hệ giữa phần tử và hệ thống là mối quan hệ biện chứng,
luôn luôn tồn tại gắn bó mật thiết với nhau trong đó sự phát triển của phần tử đóng
vai trò quyết định.
Các tính chất của hệ thống do tổng hợp các đặc điểm của các phần tử của
nó tạo nên mà từng phần tử riêng rẽ không thể nào có được
Hệ thống do các phần tử tạo nên, tuy vậy trong quá trình tồn tại và phát triển
của mình, hệ thống cũng bộ lộ những tính chất nhất định so với những hệ thống
khác, hoặc so với những chủ thể không tồn tại dưới dạng hệ thống.
Các tính chất của hệ thống có được do chức năng nhiệm vụ của hệ thống và
do sự tổng hợp các đặc điểm của các phần tử trong hệ thống tao nên.
1.2. Hệ thống văn bản quản lý nhà nước
1.2.1. Khái niệm văn bản QLNN và hệ thống văn bản QLNN
Văn bản quản lý nhà nước là một bộ phận rất quan trọng của thể chế hành
chính nhà nhà nước. Văn bản quản lý nhà nước được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền từ trung ương tới địa phương, xây dựng và ban hành nhằm phục vụ cho hoạt
Hệ thống này có cấu trúc rất chặt chẽ, giữa các văn bản có mối ràng buộc lẫn
nhau, các văn bản cấp dưới không được trái văn bản cấp trên. Hệ thống VBQPPL
về lĩnh vực xây dựng có vai trò hết sức quan trọng, là cơ sở pháp lý cho các hoạt
động của các tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực xây dựng, là cơ sở cho việc hình thành
tổ chức bộ máy QLNN về lĩnh vực xây dựng từ Trung ương đến địa phương, quy
định các tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm, các thủ tục hành chính, giải quyết mối
quan hệ giữa cơ quan QLNN và tổ chức, công dân.
Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy
phạm pháp luật (2002), hệ thống cấu trúc dọc của hệ thống VBQPPL của các cơ
quan QLNN cấp trung ương bao gồm:
1. Nghị quyết, nghị định của Chính phủ.
2. Quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ.
11
3. Quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ
và thông tư liên tịch giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.
- Từ ngày 01/01/2009 đến nay, theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp
luật (2008), hệ thống cấu trúc dọc của hệ thống VBQPPL của các cơ quan QLNN
cấp trung ương bao gồm:
1. Nghị định của Chính phủ.
2. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
3. Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và thông tư liên
tịch giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.
Theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (2008)
- Nghị định Chính phủ: quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của Quốc
hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của
Chủ tịch nước; quy định các biện pháp cụ thể để thực hiện chính sách kinh tế, xã
hội, và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền quản lý, điều hành của Chính phủ; quy
định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ và các cơ quan khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ; quy định
những vấn đề cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh
1.3.1. Vị trí văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống văn bản QLNN
Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc
phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong
đó có chứa quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo
đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Trong hệ thống văn bản quản lý nhà nước văn bản quy phạm pháp luật có vị
trí quan trọng số 1, nó đứng trên các hệ thống văn bản khác và làm cơ sở, nền tảng
cho sự ra đời của các hệ thống văn bản khác đảm bảo việc thực hiện các văn bản
khác.
Thực tế biểu hiện rất rõ điều này, Hiến pháp là đạo luật cơ bản nhất mà mọi
văn bản khác đều phải dựa vào, căn cứ vào quy định của Hiến pháp mà điều chỉnh
nội dung cho đúng, cho phù hợp. Trong tất cả các hệ thống văn bản khác văn bản
13
nào có nội dung trái với hiến pháp đều được xem là vi phạm pháp luật và bị đình
chỉ hoặc hủy bỏ.
Tóm lại trong hệ thống văn bản quản lý nhà nước ở Việt Nam hiện nay văn
bản quy phạm pháp luật có vai trò và vị trí hàng đầu quyết định quá trình vận động
và phát triển của các hệ thống văn bản khác.
1.3.2. Hệ thống văn bản QPPL
Văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền từ trung ương tới địa phương ban hành nhằm thực hiện hoạt động quản lý
nhà nước được phân công. Trải qua quá trình ban hành tạo thành một hệ thống, một
chỉnh thể, liên kết với nhau rất logic và chặt chẽ, hệ thống văn bản quy phạm pháp
luật ở Việt Nam hiện nay cơ bản gồm những văn bản chủ yếu sau:
1. Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội.
2. Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
3. Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.
4. Nghị định của Chính phủ.
5. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
6. Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thông tư
nói riêng là một hoạt động có tính chuyên môn nghiệp vụ cao. Được thể hiện qua
mục tiêu của nó, được xác định một cách rõ ràng và cụ thể. Gồm có những loại mục
tiêu cơ bản sau:
Trên cơ sở về đánh giá văn bản quy phạm pháp luật các chủ thể đánh giá tiến
hành các hoạt động tương tự ấy đối với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tức
với số lượng lớn các văn bản về một lĩnh vực hoặc một chủ thể nào đó ban hành,
hoặc theo các mốc thời gian nhất định.
Việc đánh giá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật là một công việc đòi
hỏi người đánh giá phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ rất cao, đầu óc tổng hợp
nhanh nhậy và khối lượng thông tin cơ sở, căn cứ đánh giá đẩy đủ.
15
Hoạt động đánh giá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật là một hoạt động
rất cần thiết do qua việc đánh giá hệ thống này nó cho chúng ta biết được hiệu quả
của công tác quản lý nhà nước trong một thời điểm nhất định.
1.4.2. Ý nghĩa của việc đánh giá hệ thống VBQPPL của bộ
Việc đánh giá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của bộ có ý nghĩa rất to
lớn và quan trọng được thể hiện thông qua tác dụng của hoạt động đánh giá hệ
thống văn bản quy phạm pháp luật như:,
Phát hiện ra những điểm thiếu sót, những quy định chưa chặt chẽ, chưa rõ
ràng, cụ thể của văn bản quy phạm pháp luật nói riêng và hệ thống văn bản quy
phạm pháp luật nói chung.
Phát hiện ra những quy định chồng chéo, trùng lặp, lẫn lộn giữa các văn bản
và hệ thống văn bản.
Phát hiện ra những quy định sai trái, thiếu chính xác, không có tính khả thi,
tính hiệu quả của văn bản.
Đưa ra những kết luận, nhận xét về văn bản kiểm tra chủ thể kiểm tra trên cơ
sở đó làm cho các văn bản được xây dựng ngày càng cà chính xác, khoa học và
hoàn thiện hơn.
Nâng cao hơn nữa chất lượng của công tác xây dựng và ban hành văn bản.
1.4.3.Các nguyên tắc đánh giá văn bản QPPL và hệ thống văn bản
giá không được dựa trên ý chí, quan điểm cá nhân để xem xét, đánh giá mà phải dựa
trên căn cứ pháp lý, cơ sở khoa học và luận cứ rõ ràng.
Tất cả những ý kiến chỉnh sửa của người biên tập ghi trong văn bản, thể hiện
dưới các hình thức như chữ viết, con số hay kí hiệu cần phải hết sức rõ ràng, cẩn
thận để việc đánh máy lại được chính xác. Bản đánh máy lại đó được chỉnh sửa
cũng phải được đọc lại trước khi chuyển sang bước tiếp theo trong quy trình soạn
thảo hay ký ban hành chính thức.
Nguyên tắc toàn diện và tổng hợp
17
Theo nguyên tắc này, các văn bản cần được xem xét một cách toàn diện,
đánh giá đúng giá trị của chúng trên từng phương diện cụ thể: chính trị, pháp lý,
kinh tế, văn hoá -xã hội v.v Tránh nhìn văn bản một cách phiến diện và cục bộ khi
xem xét giá trị của chúng. Cần chú ý rằng nhiều văn bản có thể có ý nghĩa lâu dài
về sau, hoặc có những văn bản không có giá trị đối với đơn vị này nhưng lại có ý
nghĩa với đơn vị khác và vì vậy cần có sự quan tâm đúng mức và toàn diện. Điều
này cũng có nghĩa là giá trị của văn bản cần được xem xét trong các mối quan hệ có
tính ràng buộc đối với nhau.
Nguyên tắc lịch sử
Nguyên tắc này đòi hỏi việc đánh giá văn bản phải được đặt trong những thời
điểm và điều kiện lịch sử cụ thể. Cần lưu ý rằng các văn bản luôn luôn được hình
thành trong một điều kiện lịch sử cụ thể, phản ảnh một yêu cầu thực tế của hoạt
động quản lý. Những điều kiện cụ thể đó được phản ảnh vào các đặc điểm của văn
bản và nó đòi hỏi phải được tính đến khi xem xét giá trị văn bản.
1.4.4. Các hình thức đánh giá văn bản
Ở mỗi giai đoạn trong quá trình xây dựng, ban hành và sử dụng đều có hình
thức đánh giá nhất định, với những mục đích, chủ thể, nội dung, phương pháp, công
cụ đánh giá tương ứng.
1.4.4.1. Các hình thức đánh giá văn bản trước khi văn bản được ban hành
Biên tập nói chung là một hoạt động hướng đến rất nhiều loại đối tượng như
về nội dung và hình thức của dự thảo văn bản nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp
pháp, tính thống nhất, đồng bộ của dự thảo trong hệ thống pháp luật.
Thẩm định dự thảo văn bản là hoạt động bắt buộc đối với văn bản quy phạm
pháp luật (trừ văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban dõn dõn xó). Đối với các văn
bản khác, tùy theo tính chất, nội dung, cơ quan ban hành có thể gửi dự thảo văn bản
để thẩm định nhằm tham khảo các ý kiến, quan điểm khác nhau, giúp cho văn bản
19
đạt các yêu cầu về tính pháp lý, cũng như tính khả thi sau khi văn bản được ban
hành.
'#$%
Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, thẩm tra là điều tra, xem
xét lại xem có đúng, chính xác không. Như vậy thẩm tra được dùng trong thực tế là
hoạt động xem xét kết quả một hoạt động nào đó xem có đúng như mục tiêu đó đặt
trước.
Trong hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quản lý nhà nước, khái niệm
thẩm tra được dùng trong hai trường hợp sau:
Thứ nhất, về nội hàm và về các nội dung đánh giá văn bản quy phạm pháp
luật, thẩm tra được hiểu tương tự như thẩm định. Tuy nhiên thẩm tra khác với thẩm
định ở chủ thể xem xét, đánh giá văn bản. Chủ thể thẩm tra văn bản là cơ quan
chuyên môn của Quốc hội và Hội đồng nhân dân khi xem xét, đánh giá văn bản quy
phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Hội đồng nhân dân
cấp tỉnh, cấp huyện. Cụ thể là các Ủy ban của Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ban
của Hội đồng nhân dân tỉnh và huyện.
Thứ hai, thẩm tra được hiểu là hoạt động kiểm tra, xem xét, đánh giá về hồ
sơ dự thảo và việc tuân thủ quy trình xây dựng dự thảo Nghị định của Chính phủ và
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Về chủ chể thực hiện, đây là hoạt động thuộc
nhiệm vụ, thẩm quyền của Văn phòng Chính phủ. Như vậy, so với nghĩa ở trường
hợp thứ nhất, thẩm tra theo nghĩa này có nội hàm hẹp hơn về nội dung đánh giá.
()% "
Kiểm tra văn bản trước khi ban hành gắn với hoạt động xây dựng và ban hành
Xác định hiệu lực, tính chất pháp lý của văn bản; Xác định mức độ phổ biến;
Xác định mức độ áp dụng; Xác định mức độ phản hồi; Xác định biện pháp giải
quyết văn bản.
21
*+!"
Bên cạnh việc đánh giá tác động của văn bản trước khi văn bản được ban
hành, đánh giá tác động của văn bản sau khi văn bản được ban hành được thực hiện
để đánh giá tác động thực tế của một văn bản đang có hiệu lực sơ với tác động được
dự tính để xác định văn bản đó đạt được mục tiêu đề ra không, có cần sửa đổi không
và sửa đổi đến mức độ nào.
Điều 39 Nghị định 24/2009/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và biện
pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định:
“1. Sau 3 (ba) năm, kể từ ngày luật, pháp lệnh, nghị định có hiệu lực, bộ, cơ
quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ chủ trì soạn thảo có trách nhiệm đánh
giá tác động của văn bản trong thực tiễn, đối chiếu với kết quả đánh giá tác động
trong giai đoạn soạn thảo để xác định tính hợp lý, tính khả thi của các quy định.
Trên cơ sở đó, kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền các giải pháp nâng cao hiệu
quả của văn bản hoặc hoàn thiện văn bản.
2. Nội dung báo cáo đánh giá tác động của văn bản sau khi thi hành gồm:
phân tích các chi phí, lợi ích thực tế và các tác động khác; mức độ tuân thủ văn bản
của các nhóm đối tượng thi hành văn bản và kiến nghị các giải pháp thực thi văn
bản hoặc sửa đổi, bãi bỏ văn bản trong trường hợp cần thiết.
1.4.5. Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật và rà soát văn bản
quy phạm pháp luật
Đánh giá văn bản quy phạm pháp luật có rất nhiều hình thức khác nhau, tùy
cách thức phân loại của chủ thể. Trong các hình thức đó nhận thấy có hai hình thức có
vai trò rất quan trọng và hay được các cơ quan nhà nước sử dụng để đánh giá văn bản,
đó là kiểm tra văn bản và rà soát văn bản.
Theo quan niệm của Bộ Tư pháp thì kiểm tra văn bản được hiểu là:là hoạt động
được tiến hành nhằm phát hiện những nội dung trái pháp luật của văn bản để kịp thời