Hoàn thiện quy trình đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng do Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán thực hiện - Pdf 90

Khóa luận tốt nghiệp  Trường ĐH KT&QTKD
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Trong thời kỳ đổi mới, hội nhập kinh tế thế giới (WTO ), các doanh
nghiệp đã và đang có những bước phát triển mạnh cả về quy mô và hình thức
hoạt động sản xuất kinh doanh. Cơ chế mới mở ra như một luồng gió thức
tỉnh các doanh nghiệp quốc doanh sau bao nhiêu năm ngủ say đồng thời
khuyến khích tất cả các thành phần kinh tế, thu hút vốn trong và ngoài nước
để tạo công ăn việc làm cho người lao động, tạo đà tăng trưởng và phát triển
kinh tế. Với sự lãnh đạo và định hướng đúng đắn của Đảng, Nhà nước nền
kinh tế nước ta đang và sẽ từng bước hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế
giới. Tuy nhiên nền kinh tế thị trường với tính năng động cũng tạo ra môi
trường cạnh tranh khốc liệt và đầy thử thách cho các doanh nghiệp đặc biệt là
doanh nghiệp sản xuất. Sự thành công hay thất bại phụ thuộc rất nhiều vào
chủ thể kinh tế tham gia vào đó, vì vậy các doanh nghiệp phải có sự nhạy bén
và thích ứng nhanh chóng với tất cả các vấn đề, đặc biệt là việc tổ chức sử
dụng nguồn lực để tạo hiệu quả cao nhất.Chính vì vậy, trong quá trình sản
xuất kinh doanh các doanh không ngừng phấn đấu để tiết kiệm chi phí, hạ giá
thành sản phẩm nhằm đạt được lợi nhuận cao nhất, có như vậy mới thực hiện
được đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước, cải thiện đời sống của công nhân viên,
tích lũy tái mở rộng sản xuất tạo chỗ đứng trên thị trường. Muốn đạt được
mục đích đó các doanh nghiệp phải có phương hướng thực hiện, biện pháp
quản lý phù hợp với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Một
trong những công cụ hữu hiệu để đạt được mục tiêu đó là tổ chức tốt công tác
hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
Xuất phát từ nhận thức đó, cùng với tình hình thực tế tại công ty cổ phần
Giầy - Phúc Yên em đã chọn đề tài: “ Kế toán tập hợp chi phí và tính giá
thành sản phẩm tại công ty cổ phần Giầy - Phúc Yên” cho luận văn tốt
nghiệp của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu.
SV: Phạm Thu Trang Lớp: K2-KTTHA

* Phương pháp thu thập thông tin.
SV: Phạm Thu Trang Lớp: K2-KTTHA
2
Khóa luận tốt nghiệp  Trường ĐH KT&QTKD
Đối với tài liệu tổng quan được thu thập từ các tài liệu đã công bố sưu
tầm từ các nguồn ở thư viện trường Đại học Kinhh tế và Quản trị kinh doanh
Thái Nguên, các tài liệu của trường Đại học Kinh tế quốc dân, trường Học
viện tài chính,...
Đối với thông tin để đánh giá thực trạng công ty được thu thập bằng các
phương pháp:
- Điều tra thống kê ở phòng kế toán.
- Phỏng vấn những người có liên quan.
- Quan sát trực tiếp tại công ty.
* Phương pháp hạch toán kế toán.
- Phương pháp chứng từ: Là phương pháp phản ánh các nghiệp vụ kinh
tế phát sinh và thực tế hoàn thành bằng giấy tờ theo mẫu quy định, theo thời
gian và địa điểm phát sinh nghiệp vụ đó. Mọi sự biến động của tài sản, nguồn
vốn đều phải lập chứng từ kế toán làm căn cứ để ghi sổ kế toán.
- Phương pháp tài khoản: là phương pháp phản ánh các nghiệp vụ kinh tế
phát sinh vào tài khoản kế toán theo đúng nội dung kinh tế của nghiệp vụ và
mối quan hệ khách quan giữa các đối tượng kế toán.
- Phương pháp lập báo cáo tài chính: Là phương pháp tổng hợp số liệu từ
các sổ kế toán theo các chỉ tiêu kinh tế và tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh
tế tài chính của đơn vị trong thời gian nhất định.
* Phương pháp phân tích, so sánh.
Là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích một số chỉ tiêu
tổng hợp như: tổng chi phí, tổng giá thành, giá thành đơn vị sản phẩm...
Là phương pháp xác định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu,
so sánh kết quả qua 2 năm. Thông qua phương pháp so sánh bằng số tuyệt đối
ta biết được khối lượng, quy mô của công ty đạt được vượt hay không của các

lao động, đối tượng lao động và lao động sống. Sự tham gia của các yếu tố
vào quá trình sản xuất ( các yếu tố đầu vào ) hình thành các khoản chi phí
tương ứng.
Giá trị sản phẩm, lao vụ, dịch vụ gồm 3 bộ phận: C, V, m.
C: là toàn bộ giá trị tư liệu sản xuất đã tiêu hao trong quá trình sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm, lao vụ, dịch vụ như: khấu hao tài sản cố định, chi phí
nguyên vật liệu… Bộ phận này gọi là lao động quá khứ ( lao động vật hóa )
V: là chi phí tiền lương, tiền công phải trả cho người lao động tham gia
vào quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, lao vụ, dịch vụ. Bộ phận này gọi
là lao động sống.
m: là giá trị lao động sống tạo ra trong quá trình sản xuất các sản phẩm,
lao vụ, dịch vụ.
Ở góc độ doanh nghiệp, để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm doanh nghiệp
phải bỏ ra 2 bộ phận chi phí là C và V.
Như vậy chi phí sản xuất kinh doanh là biều hiện bằng tiền của toàn bộ
các khoản hao phí về lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí cần thiết
khác mà doanh nghiệp đã chi ra để tiến hành các hoạt động sản xuất trong
một thời kỳ nhất định ( nhằm phục vụ cho yêu cầu quản lý nên chi phí sản
xuất được tập hợp theo từng thời kỳ: tháng, quý hoặc năm Thực chất chi phí
là xự dịch chuyển vốn, dịch chuyển các yếu tố sản xuất và các đối tượng tính
SV: Phạm Thu Trang Lớp: K2-KTTHA
5
Khóa luận tốt nghiệp  Trường ĐH KT&QTKD
giá thành ( sản phẩm dich vụ,...)
Bản chất chi phí sản xuất dưới từng góc độ nghiên cứu:
- Đối với các nhà kinh tế học: chi phí sản xuất là các phí tổn phải chịu
khi sản xuất sản phẩm trong kỳ.
- Đối với các nhà quản lý tài chính, thuế, ngân hàng: chi phí sản xuất là
khoản chi liên quan tới quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Đối với nhà quản trị doanh nghiệp: chi phí sản xuất khoản phải bỏ ra để

CP
khác
bằng
tiền
Chi phí sản xuất
Khóa luận tốt nghiệp  Trường ĐH KT&QTKD
- Chi phí NVL bao gồm: các chi phí về NVL chính, vật liệu phụ, nhiên
liệu, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ... mà doanh nghiệp đã sử dụng cho
các hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ.
- Chi phí nhân công bao gồm: toàn bộ số tiền công phải trả, tiền trích
BHXH, BHYT, KPCĐ mà doanh nghiệp phải chịu.
- Chi phí về khấu hao TSCĐ gồm toàn bộ số khấu hao TSCĐ phải trích
của tất cả các tài sản sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài gồm toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp đã chi
trả cho các loại dịch vụ mua ngoài như tiền điện, nước, điện thoại... phục vụ
cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Chi phí khác bằng tiền là những khoản chi phí khác dùng vào sản xuất
ngoài bốn yếu tố trên.
Cách phân loại này có ý nghĩa quan trọng trong công tác hạch toán nói
riêng và trong quản lý nói chung. Thông qua cách phân loại này có thể biết
được kết cấu, tỷ trọng của từng loại chi phí sản xuất mà doanh nghiệp đã chi
ra để đảm bảo thuyết minh báo cáo tài chính, bên cạnh đó còn cung cấp số
liệu để lập báo cáo sản xuất theo yếu tố. Đồng thời làm căn cứ để lập kế
hoạch chi phí sản xuất và trên cơ sở đó kế toán có thể phân tích đánh giá tình
hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất từ đó phục vụ thông tin cho ban quản
lý doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có cơ sở để lập dự toán chi phí sản xuất
trong kỳ sau.
b) Phân loại chi phí sản xuất theo công dụng kinh tế chi phí (khoản
mục chi phí).
Mỗi yếu tố chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ đều có mục đích và công

CP
nhân công
trực tiếp
CP sản
xuất
chung
CP
nguyên
vật liệu
CP
CCDC
sản
xuất
CP
khấu
hao
TSCĐ
CP
dịch vụ
mua
ngoài
CP
khác
bằng
tiền
Khóa luận tốt nghiệp  Trường ĐH KT&QTKD
c) Phân loại chi phí theo mối quan hệ với sản lượng sản phẩm sản xuất.
Theo tiêu thức này, chi phí sản xuất được chia thành 3 loại:
Sơ đồ 03: Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với sản lượng
sản phẩm sản xuất

- Chi phí trực tiếp: là những chi phí sản xuất có quan hệ trực tiếp với
việc sản xuất ra một loại sản phẩm, một công việc nhất định. Những chi phí
này kế toán có thể căn cứ vào số liệu chứng từ kế toán để ghi trực tiếp cho đối
tượng chịu chi phí.
- Chi phí gián tiếp: là những chi phí sản xuất có liên quan đến sản xuất
ra nhiều loại sản phẩm, nhiều công việc.Do vậy đối với những chi phí này, kế
toán phải tiến hành phân bổ cho các đối tượng có liên quan theo những tiêu
thức phân bổ thích hợp
Cách phân loại này nhằm mục đích xác định đối tượng tập hợp chi phí và
đảm bảo tính khách quan trong quản lý chi phí sản xuất.
1.1.1.3. Ý nghĩa của công tác quản lý chi phí sản xuất trong quá
trình hoạt động sản xuất kinh doanh.
Quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh
nghiệp là vấn đề vô cùng phức tạp, tính chất phức tạp, mức độ khó khăn phụ
thuộc vào từng loại sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra.
Tại các doanh nghiệp sản xuất quản lý chi phí phải dựa vào quản lý các
khoản mục chi phí phát sinh và quản lý chi phí theo mặt hàng... Nếu quản lý
chi phí dựa trên các khoản mục chi phí phát sinh thì doanh nghiệp phải xem
xét cơ cấu chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí sản xuất chung
trên tổng chi phí sao cho hợp lý. Còn nếu doanh nghiệp quản lý chi phí sản
xuất theo từng loại sản phẩm thì doanh nghiệp cũng cần phải xem xét chi phí
cho loại sản phẩm nào là ít, loại sản phẩm là tương đối để tính toán giá thành
sao cho đúng đắn.
Doanh nghiệp muốn nâng cao được lợi nhuận thì phải quản lý chi phí
sản xuất thật tốt để tiết kiệm chi phí đồng thời hạ giá thành sản phẩm nhưng
vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm sản xuất ra. Đây chính là điều kiện cơ bản
mang tính chất quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp trên
thị trường cạnh tranh hiện nay.
SV: Phạm Thu Trang Lớp: K2-KTTHA
10

SV: Phạm Thu Trang Lớp: K2-KTTHA
11
Khóa luận tốt nghiệp  Trường ĐH KT&QTKD
phẩm. Giá thành kế hoạch là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là căn cứ
để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá thành.
- Giá thành định mức: Là giá thành sản phẩm được tính trên định mức
chi phí sản xuất hiện hành và chỉ tính cho 1 đơn vị sản phẩm. Việc tính giá
thành định mức cũng được thực hiện trước kế hoạch tiến hành sản xuất, chế
tạo sản phẩm. Giá thành định mức là thước đo để xác định kết quả sử dụng
các loại tài sản, vật tư, tiền vốn của doanh nghiệp, từ đó có cơ sở đánh giá các
giải pháp kinh tế, kỹ thuật mà doanh nghiệp đã áp dụng.
- Giá thành thực tế: Là loại giá thành được xác định trên cơ sở số liệu chi
phí sản xuất thực tế đã phát sinh và tập hợp được trong kỳ. Giá thành thực tế
chỉ có thể xác định được sau khi đã kết thúc quá trình sản xuất, chế tạo sản
phẩm. Giá thành thực tế sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết
quả phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tổ chức áp dụng các giải pháp kinh
tế kỹ thuật để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm, là cơ sở để xác định kết
quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Cách phân loại này có tác dụng trong việc quản lý và giám sát chi phí,
xác định được các nguyên nhân vượt hoặc hụt định mức chi phí trong kỳ hạch
toán từ đó điều chỉnh kế hoạch hoặc định mức chi phí cho phù hợp.
b) Phân loại giá thành sản phẩm theo phạm vi chi phí.
Theo cách phân loại này, giá thành sản xuất được chia thành 2 loại:
- Giá thành sản xuất ( giá thành công xưởng ) bao gồm các chi phí sản
xuất như: chi phí NVLTT, chi phí NCTT, chi phí SXC cho những sản phẩm,
công việc, lao vụ đã hoàn thành nhập kho hoặc giao cho khách hàng.Giá
thành sản xuất của sản phẩm cũng là căn cứ để tính toán vốn hàng bán và lãi
gộp của các doanh nghiệp sản xuất
Giá thành
sản xuất

mặt hao phí còn giá thành lại biểu hiện về mặt kết quả của quá trình sản xuất.
Tức là giá thành sản phẩm được tính toán trên cơ sở chi phí sản xuất đã tập
hợp và số lượng sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành trong kỳ. Nọi dung giá thành
chính là chi phí sản xuất tính cho sản phẩm và loại sản phẩm đó.
Về mặt kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là hai
bước công việc gắn bó mật thiết với nhau. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất là
cơ sở để tính giá thành sản phẩm. Sự chính xác đầy đủ của công tác tập hợp
chi phí sản xuất quyết định đến tính chính xác của công tác tính giá thành sản
phẩm. Giá thành sản xuất thấp hay cao đồng nghĩa với việc tiết kiệm hay lãng
phí vật tư, lao động, tiền vốn của doanh nghiệp. Vì vậy việc phân loại giá
thành phải gắn liền với việc quản lý chi phí sản xuất.Tuy nhiên giữa chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm có những sự khác nhau sau đây:
- Chi phí sản xuất luôn gắn với một thời kỳ nhất định còn giá thành sản
phẩm lại gắn liền với khối lượng sản phẩm, công việc hoàn thành
- Chi phí sản xuất liên quan tới tất cả các hoạt động khác nhau của
doanh nghiệp nhưng giá thành sản phẩm chỉ liên quan đến hoạt động sản
xuất sản phẩm.
- Chi phí sản xuất bao gồm những chi phí thực tế đã phát sinh hay một
phần chi phí phát sinh ở kỳ sau nhưng đã ghi nhận vào chi phí kỳ này ( chi phí
SV: Phạm Thu Trang Lớp: K2-KTTHA
13
=
+ +
Khóa luận tốt nghiệp  Trường ĐH KT&QTKD
phải trả ). Còn giá thành sản phẩm chỉ liên quan đến chi phí phải trả kỳ này và
chi phí phải trả trước được phân bổ trong kỳ.
- Chi phí sản xuất trong kỳ liên quan đến cả sản phẩm dở dang cuối kỳ
và sản phẩm hỏng. Còn giá thành sản phẩm không liên quan đến sản phẩm
dở dang cuối kỳ và sản phẩm hỏng mà liên quan đến chi phí sản xuất của sản
phẩm dở dang kỳ trước chuyển sang và sản phẩm hoàn thành trong kỳ.

thuộc vào đặc điểm sản xuất của từng nghành, nghề, từng doanh nghiệp, vào
mối quan hệ giữa các hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp, vào
trình độ công tác quản lý và hạch toán... mà trình tự hạch toán chi phí ở các
doanh nghiệp khác nhau thì không giống nhau. Tuy nhiên có thể khái quát
chung việc tập hợp chi phí sản xuất qua các bước sau:
Bước 1: Tập hợp các chi phí cơ bản có liên quan trực tiếp cho từng đối
tượng sử dụng.
Bước 2: Tính toán và phân bổ lao vụ của các nghành sản xuất kinh
doanh phụ có liên quan trực tiếp cho từng đối tượng sử dụng trên cơ sở lao vụ
phục vụ và giá thành đơn vị lao vụ.
Bước 3: Tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung cho các đối tượng
có liên quan.
Bước 4: Xác định chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ.
Tuỳ theo phương pháp hạch toán hàng tồn kho áp dụng cho doanh
nghiệp mà nội dung, cách thức hạch toán chi phí sản xuất có những đặc điểm
khác nhau.
1.2.2. Đối tượng và phương pháp hạch toán chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm.
1.2.2.1. Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất.
Xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất là công việc đâu tiên và
quan trọng của công tác hạch toán quá trình sản xuất. Có xác định đúng đắn
đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất phù hợp với tình hình sản xuất, đặc
điểm quy trình sản xuất sản phẩm mới đáp ứng được yêu cầu quản lý chi phí
sản xuất, mới tổ chức tốt công việc tập hợp chi phí sản xuất, từ khâu ghi chép
ban đầu, tổng hợp số liệu, tổ chức các tài khoản và ghi sổ kế toán đều phải
SV: Phạm Thu Trang Lớp: K2-KTTHA
15
Khóa luận tốt nghiệp  Trường ĐH KT&QTKD
theo đúng đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất đã xác định.
Đối tượng kế toán tập hợp chi phí là phạm vi giới hạn để tập hợp chi phí

theo hệ số, theo trọng lượng, số lượng sản phẩm...
Để theo dõi các khoản chi phí NVLTT, kế toán sử dụng TK 621“ chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp” để hạch toán. Kết cấu của TK 621 như sau:
Bên nợ: Giá trị NVL xuất dùng trực tiếp cho hoạt động sản xuất sản
phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trong kỳ hạch toán.
Bên có: - Giá trị NVLTT xuất dùng không hết hoặc phế liệu thu hồi.
- Kết chuyển chi phí NVLTT
- Kết chuyển chi phí NVLTT vượt trên mức bình thường vào
TK 632
TK 621 không có số dư cuối kỳ và được mở chi tiết theo đối tượng tập
hợp chi phí sản xuất.
Việc hạch toán chi phí NVL trực tiếp được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 05: Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
SV: Phạm Thu Trang Lớp: K2-KTTHA
17
TK 152 TK 621
TK 154
TK 331, 111, 112
TK 611
TK 152
TK 631
Mua ngoài xuất thẳng
cho sản xuất
TK 1331
Thuế GTGT
(nếu có)
Trị giá NVL xuất kho sử
dụng trong kỳ cho sản
xuất sản phẩm
( theo pp KKĐK)

18
TK 334 TK 622
TK 631
TK 338
TK 335
TK 154
Trích trước tiền lương
nghỉ phép của CNTT sản
xuất
Tiền lương và phụ cấp
lương phải trả cho công
nhân trực tiếp sản xuất
Cuối kỳ tính, phân bổ
Kết chuyển CP NCTT
theo đối tượng tập hợp CP
( theo pp KKTX)
Cuối kỳ tính, phân bổ
Kết chuyển CP NCTT
theo đối tượng tập hợp CP
( theo pp KKĐK)
Các khoản đóng góp theo
tỷ lệ với tiền lương của
CNTT sản xuất thực tế
phát sinh
Khóa luận tốt nghiệp  Trường ĐH KT&QTKD
c) Kế toán tập hợp và phân bổ chi phí SXC.
Chi phí SXC là những chi phí cần thiết còn lại để sản xuất sản phẩm sau
chi phí NVLTT, chi phí NCTT. Đây là những chi phí phát sinh trong phạm vi
các phân xưởng, bộ phận sản xuất của doanh nghiệp. Nó bao gồm các chi phí
về lương nhân viên phân xưởng, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí dịch vụ mua

TK 631 “ Giá thành sản xuất” để tập hợp chi phí sản xuất toàn doanh
nghiệp theo phương pháp kiểm kê định kỳ.
SV: Phạm Thu Trang Lớp: K2-KTTHA
20
TK 331, 111, 112
TK 334, 338 TK 627
TK 154
TK 152
TK 153, 142
TK 111, 112, 152
TK 631
Chi phí công cụ dụng cụ
Chi phí nhân viên
phân xưởng
Các khoản thu giảm chi
Cuối kỳ tính, phân bổ
Kết chuyển CP SXC
theo đối tượng tập hợp CP
( theo pp KKTX)
Cuối kỳ tính, phân bổ
Kết chuyển SXC
theo đối tượng tập hợp CP
( theo pp KKĐK)
Chi phí vật liệu
TK 214
CP khấu hao TSCĐ
TK 632
CP SXC cố định không được tính
vào giá thành sp mà tính vào giá
vốn hàng bán (do mức sản xuất

Nhập kho vật tư
Gửi bán
Tiêu thụ thẳng
TK 154 TK 154TK 154
K/c cp sxkdd đầu kỳ
TK 621
Chi phí NVL trực tiếp
TK 622
Chi phí NC trực tiếp
TK 632
Giá thành sản xuất sp hoàn
thành nhập kho
K/c cp sxkdd cuối kỳ
TK 622
Chi phí sản xuất chung
Khóa luận tốt nghiệp  Trường ĐH KT&QTKD
1.2.3. Đối tượng tính giá thành và kỳ tính giá thành sản phẩm.
* Đối tượng tính giá thành.
Việc xác định đối tượng tính giá thành là công việc cần thiết đầu tiên
trong toàn bộ công việc tính giá thành sản phẩm của kế toán. Chi phí sản xuất
được tập hợp là cơ sở để tính giá thành và đối tượng tính giá thành là sản
phẩm sản xuất. Xác định đối tượng tính giá thành căn cứ vào đặc điểm hoạt
động sản xuất kinh doanh, quy trình sản xuất của doanh nghiệp. Đồng thời
phải xác định được đơn vị tính của sản phẩm, dịch vụ đã được xã hội thừa
nhận, phù hợp với đơn vị tính sản lượng ghi trong kế hoạch sản xuất kinh
doanh của đơn vị.
Với quy trình sản xuất giản đơn thì sản phẩm hoàn thành ở cuối quy
trình sản xuất là đối tượng tính giá thành.
Với quy trình sản xuất phức tạp, kiểu liên tục thì đối tượng tính giá
thành là thành phẩm ở giai đoạn chế biến cuối cùng hoặc bán thành phẩm ở

- Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo sản lượng hoàn thành tương đương.
- Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo chi phí sản xuất định mức.
1.2.4.1. Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo chi phí NVLTT.
Theo phương pháp này chỉ tính vào chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ
phần chi phí NVLTT, các chi phí còn lại được tính vào chi phí của sản phẩm
hoàn thành.
Nếu tất cả NVLTT được sử dụng ngay từ đầu của quy trình sản xuất, chi
phí tham gia trong sản phẩm dở dang và thành phẩm cung một mức độ thì chi
phí sản xuất dở dang cuối kỳ được tính theo công thức sau:
Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo chi phí NVLTT thường được áp
dụng cho những sản phẩm có chi phí NVLTT chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng
chi phí sản xuất đồng thời số lượng sản phẩm dở dang các kỳ ít biến động.
SV: Phạm Thu Trang Lớp: K2-KTTHA
23
CP
sản xuất
dở dang
CK
CP NVLTT
dở dang ĐK
CP NVLTT
phát sinh trong kỳ
Số lượng SP
hoàn thành trong kỳ
Số lượng SP
dở dang CK
=
Số lượng
SPDD
cuối kỳ

CP
sản xuất
dở dang
CK
CP sản xuất
dở dang ĐK
CP phát sinh trong kỳ
Số lượng
SP
dở dang
CK
Số lượng SP
hoàn thành
trong kỳ
Số lượng SP dở dang
CK quy đổi thành SP
hoàn thành tương
đương
+
+
=
x
Số lượng SP dở dang cuối
kỳ quy đổi thành SP hoàn
thành tương đương
Mức độ hoàn
thành của SP
dở dang
Số lượng
SPdở dang

25
Tổng
giá thành
thực tế
SP
CP
sản xuất
dở dang
ĐK
CP
sản xuất
phát sinh
trong kỳ
CP
sản xuất
dở dang
CK
Giá trị khoản
điều chỉnh
giảm giá
thành
=
+
--

Trích đoạn Khái quát chung về công ty cổ phần Giầy-Phúc Yên. Phân xưởng sản xuất: thực hiện việc sản xuất sản phẩm, quản lý, sửa chữa và bảo dưỡng máy móc thiết bị sản xuất. Công tác tổ chức bộ máy kế toán tại công ty. Đặc điểm và phân loại chi phí sản xuất. Các chế độ và nguyên tắc về lương trong công ty * Chế độ trả lương của công ty.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status