Chuyên đề tốt nghiệp ĐHKTQD
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của Đề tài
Kiểm toán là một ngành nghề được xem là “thiết yếu” trong nền kinh tế hiện
đại ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế Thế giới nói chung và của Việt
Nam nói riêng, nghề “kiểm toán” đã có những sự phát triển vượt bậc cả về số lượng
và chất lượng. Trong kiểm toán báo cáo tài chính, đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ
là một khâu công việc hết sức quan trọng, việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội và rủi
ro kiểm soát không chỉ để xác minh tính hữu hiệu của HTKSNB mà còn làm cơ sở
cho việc xác định phạm vi thực hiện các thử nghiệm cơ bản trên số dư và nghiệp vụ
của đơn vị. Do đó, KTV cần thiết phải tìm hiểu về HTKSNB để có thể định hướng
công tác kiểm toán một cách đúng đắn, góp phần nâng cao chất lượng cuộc kiểm
toán.
2. Mục đích nghiên cứu
Do nhận biết được tính quan trọng của Đề tài này, Em đã đi sâu tìm hiểu về cơ
sở lý luận và thực tiễn công tác đánh giá HTKSNB của khách hàng do Công ty thực
hiện nhằm có được sự nghiên cứu một cách khoa học về công tác đánh giá HTKSNB
và hiểu biết về thực trạng công tác này tại Công ty để đưa ra những đóng góp hữu ích
cho Công ty, góp phần tạo nên sự hoàn thiện công tác này tại Công ty.
3. Nội dung của Đề tài
Đề tài tìm hiểu về sự hình thành và phát triển của Công ty, đồng thời đi sâu
tìm hiểu về công tác đánh giá HTKSNB của khách hàng do Công ty thực hiện, từ đó
đưa ra nhận xét về công tác này tại Công ty và đưa ra những kiến nghị để ngày càng
hoàn thiện công tác đánh giá HTKSNB của khách hàng.
Ngoài Lời Mở đầu và Kết luận, Chuyên đề gồm 3 chương:
Chương I: Đặc điểm Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và
Kiểm toán với đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng;
Tô Thị Huyền Kiểm toán 47A
1
Chuyên đề tốt nghiệp ĐHKTQD
Chương II: Thực trạng quy trình đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ do Công
ĐẶC ĐIỂM CỦA CÔNG TY TNHH DỊCH VỤ TƯ VẤN
TÀI CHÍNH KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN VỚI ĐÁNH GIÁ
HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ CỦA KHÁCH HÀNG
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển Công ty TNHH Tư vấn Tài chính Kế toán
và Kiểm toán với đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng
1.1.1. Lịch sử hình thành Công ty
Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán là một trong
những công ty kiểm toán Việt Nam được thành lập sớm tại Việt Nam với tên giao
dịch quốc tế là Auditing and Accounting Financial Consultancy Service Company
(AASC). Sự hình thành Công ty được chia thành ba giai đoạn:
Giai đoạn I : từ năm 1991 - 1993
Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC)
được thành lập ngày 13/05/1991 theo Quyết định Số 164 TC/TCCB của Bộ trưởng
Bộ Tài chính với tên gọi “Công ty Dịch vụ Tư vấn Kế toán” (ASC) trực thuộc Bộ
Tài chính. Tại thời điểm này Công ty có số vốn là 229.107.173VND trong đó có vốn
Ngân sách Nhà Nước là 137.040.000VND (Nhà nước cấp vốn cho Công ty bằng tiền
và hiện vật). Khi mới thành lập Công ty chỉ thực hiện dịch vụ tư vấn kế toán áp dụng
đúng chế độ do đó lĩnh vực hoạt động của Công ty có nhiều hạn chế.
Giai đoạn II: từ năm 1993 - 2007
Năm 1993, theo Quyết định Số 238 TC/TCCB ngày 27 tháng 04 năm 1993
của Bộ Trưởng Bộ Tài chính về việc thành lập lại Công ty Dịch vụ Kế toán trực
thuộc Bộ Tài chính, sau đó theo Quyết định Số 639 TC/TCCB ngày 14 tháng 09 năm
1993 của Bộ Trưởng Bộ Tài chính về việc thành lập bổ sung nhiệm vụ Kiểm toán và
Tô Thị Huyền Kiểm toán 47A
3
Chuyên đề tốt nghiệp ĐHKTQD
đổi tên Công ty thành Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán.
Tháng 7 năm 2005, AASC chính thức trở thành Hội viên Hội KTV hành nghề
Việt Nam (VACPA) và trở thành thành viên của Hãng Kế toán Kiểm toán INPACT
Quốc tế.
lĩnh vực kiểm toán và các dịch vụ chuyên ngành khác (theo thống kê của Hội Kiểm
toán viên hành nghề Việt Nam). AASC là một trong các công ty kiểm toán đầu tiên
tại Việt Nam được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (SSC) chấp thuận cho kiểm toán
các tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết và các tổ chức kinh doanh chứng khoán.
Để đáp ứng quá trình hội nhập, tháng 7 năm 2005, AASC chính thức trở thành
thành viên của mạng lưới kế toán quốc tế (INPACT), một tổ chức gồm các công ty
kiểm toán, kế toán độc lập trên toàn Thế giới. Cũng như các thành viên khác của
INPACT trên toàn thế giới, AASC cam kết cung cấp các dịch vụ chuyên ngành tốt
nhất cho các khách hàng của mình. Tháng 12/2007, AASC được Bộ Công thương
Việt Nam trao giải thưởng “Top Trade services” cho các doanh nghiệp có chất lượng
dịch vụ đáp ứng các cam kết của Tổ chức Thương mại Thế giới.
Sự lớn mạnh của AASC phần lớn là nhờ năng lực của các KTV trong công tác
kiểm toán, đặc biệt là sự thận trọng thích đáng trong công tác đánh giá HTKSNB của
khách hàng.
1.2. Đặc điểm dịch vụ và tổ chức kinh doanh của Công ty
Về đặc điểm dịch vụ của Công ty, trong giai đoạn mới thành lập Công ty năm
1991, Công ty chỉ thực hiện dịch vụ kế toán và tư vấn tài chính cho khách hàng, sau
một thời gian hoạt động, ban quản lý và các nhân sự trong Công ty nhận ra rằng việc
thực hiện công tác kế toán và tư vấn kế toán có quan hệ chặt chẽ với công tác kiểm
toán do đó Bộ Tài chính đã ra Quyết định về việc thành lập bổ sung nhiệm vụ kiểm
toán cho Công ty, từ đó Công ty có thêm dịch vụ “kiểm toán”. Từ đó, loại hình dịch
vụ kiểm toán ngày càng thể hiện sự phát triển nhanh chóng của mình và trở thành loại
Tô Thị Huyền Kiểm toán 47A
5
Chuyên đề tốt nghiệp ĐHKTQD
hình dịch vụ chính của Công ty. Mặc dù đã chuyển đổi thành công ty trách nhiệm
hữu hạn nhưng vì xuất phát từ công ty Nhà Nước nên nhiều tổ chức, công ty có vốn
của Nhà Nước vẫn là khách hàng quen thuộc của Công ty, đây là một ưu thế khác
biệt so với các công ty kiểm toán khác. Do đó, trên thị trường kiểm toán Việt Nam
hiện nay, AASC được xem là công ty kiểm toán có nhiều khách hàng là các công ty
Dịch vụ
Kiểm toán
Dịch vụ hướng
dẫn cung cấp
các thông tin về
pháp luật, quản
lý kinh tế, tài
chính, kế toán
và kiểm toán
6
Chuyên đề tốt nghiệp ĐHKTQD
Dịch vụ kiểm toán Báo cáo tài chính là một trong những yếu tố cơ bản tạo nên
thương hiệu của AASC và là một trong những thế mạnh của Công ty. Hoạt động này
đã có sự phát triển không ngừng về cả số lượng và chất lượng. Hiện nay trong lĩnh
vực kiểm toán Báo cáo tài chính, AASC có hơn 200 chuyên gia với kinh nghiệm
chuyên sâu về tài chính, kế toán, kiểm toán, thuế,… Hàng năm, đội ngũ này đã thực
hiện kiểm toán rất nhiều hợp đồng kiểm toán cho các doanh nghiệp, các dự án tài trợ,
các công trình xây dựng cơ bản,… trong đó có nhiều doanh nghiệp Nhà nước, hầu hết
là các tập đoàn kinh tế lớn, các tổng công ty, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài, các ngân hàng thương mại, các tổ chức đơn vị sự nghiệp và các doanh nghiệp
khác trong cả nước. Qua hoạt động kiểm toán, Công ty đã giúp khách hàng phát hiện
các sai sót trong quá trình thực hiện công tác quản lý và công tác kế toán, khắc phục
nhược điểm đồng thời các KTV tư vấn cho khách hàng về việc hoàn thiện hệ thống
kế toán, hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ và hoàn thiện công tác quản lý của
khách hàng từ đó nâng cao chất lượng công tác quản lý và điều hành tài chính của
đơn vị.
Dịch vụ kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư được cung cấp từ năm 1993
khi Đảng và Nhà nước đề ra chủ trương tiết kiệm, chống lãng phí trong lĩnh vực đầu
tư XDCB. Để đáp ứng được nhu cầu này, AASC đã tuyển chọn và đào tạo được đội
ngũ cán bộ, KTV có phẩm chất đạo đức tốt, có kinh nghiệm bản lĩnh vững vàng, có
định về quản trị - kinh doanh, phân cấp quản lý; tư vấn thuế, dịch vụ này của Công ty
luôn mang lại hiệu quả cao cho khách hàng bởi Công ty có một đội ngũ nhân viên
giàu kinh nghiệm và am hiểu pháp luật thuế Việt Nam và các quy định của các cơ
quan thuế ở Trung Ương cũng như địa phương; tư vấn sáp nhập và giải thể doanh
nghiệp.
Thứ tư: Dịch vụ xác định giá trị doanh nghiệp và tư vấn cổ phần hóa
Năm 2003, Đảng và Nhà nước đưa ra chủ trương về việc chuyển đổi hình thức
sở hữu các doanh nghiệp Nhà nước sang các công ty cổ phần, từ đó nhu cầu thị
trường về việc xác định giá trị doanh nghiệp và tư vấn cổ phần hoá tăng lên nhanh
chóng, với điều kiện thuận lợi như trên đã tạo nên những bước phát triển vượt bậc
Tô Thị Huyền Kiểm toán 47A
8
Chuyên đề tốt nghiệp ĐHKTQD
trong hoạt động cung cấp dịch vụ này của Công ty. Đến nay, AASC đã thực hiện và
hoàn thành dịch vụ xác định giá trị doanh nghiệp và tư vấn cổ phần hóa cho hàng
trăm công ty Nhà nước và trở thành một trong số ít công ty kiểm toán, kế toán hàng
đầu trong hoạt động cung cấp dịch vụ xác định giá trị doanh nghiệp và tư vấn cổ
phần hóa.
Có thể khẳng định, trước những yêu cầu, thách thức của hội nhập, AASC đã
tổ chức thực hiện, hoàn thành tốt các dịch vụ xác định giá trị doanh nghiệp, tư vấn cổ
phần hóa doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước và kiểm toán các tổ chức phát hành, tổ
chức niêm yết và tổ chức kinh doanh chứng khoán.
Thứ năm: Dịch vụ đào tạo, hỗ trợ tuyển dụng
AASC đã trực tiếp tổ chức thực hiện hoặc hợp tác với các trường đại học, các
ngành, các địa phương ở trong nước và các tổ chức quốc tế, mở các khoá bồi dưỡng,
đào tạo và nâng cao kiến thức về quản trị kinh doanh, về tài chính kế toán và kiểm
toán, về phân tích đầu tư, chứng khoán, về thuế và bảo hiểm... cho hàng vạn kế toán
viên, kế toán trưởng và các KTV nội bộ, qua đó góp phần nâng cao chất lượng công
tác kế toán, kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp. AASC đã trực tiếp hỗ trợ các
doanh nghiệp và các tổ chức trong lĩnh vực tuyển dụng nhân lực chuyên ngành tư vấn
Về tổ chức kinh doanh của Công ty, AASC đặt trụ sở chính tại Hà Nội và hai
văn phòng đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh và Quảng Ninh với số lượng khách
hàng lớn trong cả nước, dù vậy Công ty luôn có chiến lược mở rộng thị trường, tìm
kiếm những khách hàng tiềm năng để mở rộng hơn nữa thị phần của Công ty. Công
tác tổ chức kinh doanh của Công ty cũng được tổ chức một cách hợp lý về trình độ và
số lượng nhân lực trong các phòng ban, đặc biệt là sự phối hợp một cách hiệu quả
của Ban Lãnh đạo của Công ty để tìm kiếm những khách hàng mới, tạo mối quan hệ
tốt với khách hàng hiện tại nhằm mở rộng thị trường cho Công ty.
1.3. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của Công ty
Tô Thị Huyền Kiểm toán 47A
10
Chuyên đề tốt nghiệp ĐHKTQD
Về tổ chức quản lý của Công ty, với đặc thù ngành kiểm toán nên bộ máy
quản lý của Công ty được tổ chức khá đơn giản theo mô hình chức năng, bộ phận
quản lý chủ chốt được đặt tại trụ sở chính ở Hà Nội. Đứng đầu là Tổng Giám đốc
phụ trách quản lý chung và các Phó Tổng Giám đốc phụ trách các lĩnh vực khác
nhau. Hàng năm Công ty tiến hành phân công lại Ban Giám đốc nhằm đảm bảo sự
chỉ đạo tập trung, thống nhất phát huy sức mạnh của tập thể lãnh đạo trong tổ chức
điều hành công việc. Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty được mô tả như sau:
Sơ đồ 1.2. Tổ chức bộ máy quả lý của Công ty
(Nguồn tài liệu nội bộ)
Về tổ chức nhân sự, để đảm bảo công tác kiểm toán được diễn ra một cách
hiệu quả, Công ty luôn chú trọng đến việc tổ chức nhân sự sao cho có thể phân bổ
nguồn nhân lực một cách khoa học, đảm bảo đúng người, đủ người trong một cuộc
Tô Thị Huyền Kiểm toán 47A
HỘI ĐỒNG
THÀNH VIÊN
BAN THƯỜNG
TRỰC HỘI ĐỒNG
THÀNH VIÊN
TP
HCM
Văn
phòng
Đại
diện
Quảng
Ninh
Phòng
Kiểm
toán 1
11
Chuyên đề tốt nghiệp ĐHKTQD
kiểm toán để luôn đạt được chất lượng kiểm toán tốt. Vào thời điểm chưa chuyển đổi
Công ty vào tháng 7 năm 2007, Công ty có hơn 300 cán bộ, KTV, kỹ thuật viên được
đào tạo đại học và trên đại học các chuyên ngành tài chính, ngân hàng, kế toán, kiểm
toán, kỹ thuật xây dựng và công nghệ thông tin ở trong nước và nước ngoài, trong đó
có 120 KTV được cấp chứng chỉ KTV cấp Nhà nước, 04 kiểm định viên về giá được
cấp chứng chỉ Quốc gia và 31 Tiến sỹ, Thạc sỹ đang theo học cao học, ACCA cùng
hàng trăm cộng tác viên là Giáo sư, Tiến sỹ, chuyên gia đầu ngành.
Sau khi chuyển đổi, lực lượng cán bộ nhân viên của Công ty đã thay đổi ít
nhiều nhưng vẫn đảm bảo một nền tảng vững chắc cho sự phát triển trong tương lai.
Bảng 1.1. Bảng số lượng nhân viên của Công ty
STT Chỉ tiêu
Năm
2003
Năm
2004
Năm
2005
văn bản sửa đổi, bổ sung, hướng dẫn thực hiện kèm theo. Niên độ kế toán bắt đầu từ
ngày 01/01 đến 31/12 năm dương lịch hàng năm, trừ năm bắt đầu thành lập thì niên
độ bắt đầu từ ngày 14/09 đến ngày 31/12/1991. Công ty áp dụng hình thức sổ Nhật
ký chứng từ, đây là hình thức ghi sổ chính, Công ty thống nhất sử dụng ghi chép hạch
toán nhằm thống nhất hệ thống chứng từ, sổ sách, đảm bảo nguyên tắc hạch toán
trong kỳ kế toán, chế độ kế toán hiện hành. Hàng năm, Báo cáo tài chính của Công ty
đều được nộp theo quy định cho các cơ quan chức năng Nhà nước có liên quan.
1.4. Đặc điểm tổ chức kiểm toán và tổ chức kiểm soát chất lượng của Công ty
1.4.1. Đặc điểm tổ chức kiểm toán của Công ty
Một cuộc kiểm toán được bắt đầu khi KTV và công ty kiểm toán thu nhận một
khách hàng, để thu nhận một khách hàng phải thông qua cuộc khảo sát và đánh giá
khách hàng, KTV phải đánh giá xem việc chấp nhận hay tiếp tục một khách hàng có
làm tăng rủi ro cho hoạt động của KTV hay làm tổn hại đến uy tín và hình ảnh của
Công ty hay không. Để làm được điều đó, KTV phải thực hiện các bước sau:
Bước 1: Khảo sát và đánh giá khách hàng
Đầu tiên, KTV xem xét hệ thống kiểm soát chất lượng của khách hàng, AASC
đã thiết lập các chính sách và thủ tục tục về khả năng chấp nhận hoặc tiếp tục quan
hệ với khách hàng cũng như chấp nhận và tiếp tục hợp đồng kiểm toán. Ngoài ra
KTV còn xem xét đến tính độc lập, tính liêm chính của Ban quản trị doanh nghiệp
khách hàng và khả năng phục vụ tốt khách hàng của Công ty. Trong quá trình thu
thập thông tin về tính liêm chính của Ban quản trị công ty khách hàng, Công ty cũng
thu thập thông tin về hệ thống kế toán của khách hàng, đây cũng là những thông tin
Tô Thị Huyền Kiểm toán 47A
13
Chuyên đề tốt nghiệp ĐHKTQD
cần thiết để đưa ra ý kiến chấp nhận kiểm toán hay không.
Để có thêm được những thông tin hữu ích về khách hàng, KTV mới có thể
liên lạc với KTV tiền nhiệm, trong trường hợp không thể khai thác thông tin từ KTV
tiền nhiệm thì KTV có thể tìm hiểu trên báo chí chuyên ngành, tìm hiểu thông qua
các bên có mối quan hệ tài chính với khách hàng. Sau đó, KTV cần nhận diện các lý
Bước 3: Lập kế hoạch kiểm toán và công tác kiểm toán
Trong giai đoạn này, các KTV thực hiện các công việc sau:
Trước hết, KTV đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng, đây là
một công việc hết sức quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc kiểm toán mà trực
tiếp là ảnh hưởng đến việc lập kế hoạch kiểm toán, thông qua công việc này KTV thu
thập thông tin về HTKSNB của khách hàng và mô tả chi tiết hệ thống kiểm soát nội
bộ trên giấy làm việc của mình, từ đó đánh giá xem hệ thống này hoạt động có hiệu
quả không và đánh giá rủi ro kiểm soát. Sau khi đánh giá HTKSNB, KTV tiến hành
lập kế hoạch kiểm toán. Với các cuộc kiểm toán lớn về quy mô, tính chất phức tạp,
địa bàn rộng hoặc kiểm toán BCTC cho nhiều năm, KTV lập kế hoạch kiểm toán
chiến lược, sau đó thiết kế công tác kiểm toán. Với các khách hàng nhỏ, KTV tiến
hành thiết kế công tác kiểm toán mà có thể không cần lập kế hoạch kiểm toán chiến
lược.
Bước 4: Thực hiện kế hoạch kiểm toán
Khi thực hiện kế hoạch kiểm toán, KTV thực hiện các thử nghiệm kiểm soát,
các thủ tục phân tích, sau đó lựa chọn các khoản mục để kiểm tra chi tiết, đánh giá
kết quả kiểm tra chi tiết, xử lý chênh lệch. Trong quá trình thực hiện, KTV ghi chép
lại kết quả làm việc trên giấy làm việc và lưu vào hồ sơ kiểm toán.
Bước 5: Hoàn tất công việc kiểm toán, phát hành Báo cáo kiểm toán và
Thư quản lý
Kiểm toán viên tổng kết lại kết quả đã thực hiện, lập tài liệu sắp xếp theo 3
cấp và tổng hợp các sai sót, đề nghị điều chỉnh dự thảo phục vụ cho mục đích kiểm
Tô Thị Huyền Kiểm toán 47A
15
Chuyên đề tốt nghiệp ĐHKTQD
soát chất lượng. Sau đó, KTV gửi các bản thảo Báo cáo kiểm toán và họp thông báo
kết quả kiểm toán, sau khi đã xem xét kỹ Báo cáo kiểm toán dự thảo, KTV chính
thức phát hành Báo cáo kiểm toán.
1.4.2. Đặc điểm tổ chức kiểm soát chất lượng của Công ty
Hoạt động kiểm soát chất lượng của Công ty được thực hiện ở 3 giai đoạn:
Công ty sẽ phát hành báo cáo kiểm toán.
Ngoài ra, vào tháng 6 hàng năm Công ty còn có một đợt kiểm tra chất lượng
dịch vụ kiểm toán của Công ty. Công việc này được thực hiện bởi Ban kiểm soát của
Công ty và thường kéo dài khoảng hai tuần do khối lượng cuộc kiểm toán cần phải
kiểm tra lớn, bắt đầu bằng việc chọn mẫu các khách hàng để kiểm tra, sau đó kiểm tra
đến các giấy tờ làm việc của các KTV xem công việc kiểm toán được diễn ra như thế
nào, có đúng với chế độ hay không. Với những kết quả thu thập được, Ban kiểm soát
sẽ đưa ra đánh giá về công tác kiểm toán của các phòng kiểm toán, của các KTV để
đưa ra khen thưởng hay kỷ luật. Việc kiểm soát chất lượng của Công ty đã giúp nâng
cao chất lượng các cuộc kiểm toán, không còn trường hợp vi phạm các chế độ, chuẩn
mực kế toán kiểm toán, đặc biệt là vấn đề đạo đức KTV, từ đó nâng cao uy tín của
Công ty trên thị trường.
Tô Thị Huyền Kiểm toán 47A
17
Chuyên đề tốt nghiệp ĐHKTQD
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG
KIỂM SOÁT NỘI BỘ DO CÔNG TY TNHH DỊCH VỤ TƯ
VẤN TÀI CHÍNH KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN THỰC HIỆN
2.1. Khái quát chung tình hình đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của khách
hàng do Công ty thực hiện
Đánh giá HTKSNB của khách hàng là một công việc rất quan trọng do đó bất
kỳ KTV nào cũng phải cẩn trọng khi đánh giá. Các KTV tại AASC luôn ý thức được
sự quan trọng này do đó họ luôn cẩn thận trong công tác đánh giá HTKSNB của
khách hàng. Quy trình đánh giá HTKSNB được các KTV của Công ty thực hiện theo
bốn bước.
Ở bước thứ nhất, khi KTV tìm hiểu, thu thập thông tin về HTKSNB của khách
hàng KTV luôn thận trọng để đảm bảo thu thập đầy đủ thông tin chung về khách
hàng như khách hàng có thiết kế các thủ tục và quy chế kiểm soát hay không và hoạt
động của khách hàng có tuân thủ theo thiết kế không? Có bốn phương pháp để thu
phỏng vấn các đối tượng liên quan để đưa ra đánh giá của mình về HTKSNB.
Ở bước thứ tư, KTV tiến hành lập bảng tổng hợp đánh giá HTKSNB, đây là
bước cuối cùng của công tác đánh giá HTKSNB, KTV tổng hợp thông tin đánh giá
HTKSNB với các thông tin về mục tiêu và quá trình kiểm toán đặc thù, mô tả thông
tin về thực trạng HTKSNB, đánh giá các rủi ro tương ứng, đánh giá về HTKSNB
trong từng khoản mục, chu trình. Sau đó KTV thực hiện đánh giá lại rủi ro kiểm soát,
trong trường hợp rủi ro kiểm soát đánh giá ban đầu là không đúng thì khi đó KTV
phải thiết kế lại và thực hiện lại các thử nghiệm kiểm toán.
Nhìn chung qua các bước trên ta nhận thấy, quy trình đánh giá HTKSNB của
khách hàng do AASC thực hiện tuân theo quy trình chung nhất và trong các bước
đánh giá KTV luôn thận trọng thích đáng để đảm bảo thu thập được đầy đủ thông tin
cần thiết, nhờ đó KTV của AASC luôn định hướng đúng đắn cuộc kiểm toán một
Tô Thị Huyền Kiểm toán 47A
19
Chuyên đề tốt nghiệp ĐHKTQD
cách đúng đắn.
2.2. Quy trình đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ do AASC thực hiện
Quy trình đánh giá HTKSNB do Công ty thực hiện về quy trình chung giống
như các công ty kiểm toán khác, tuy nhiên ở AASC vẫn có những đặc trưng riêng.
Sau đây là quy trình đánh giá HTKSNB của hai khách hàng do Công ty thực hiện.
Khách hàng C: là khách hàng thường niên của Công ty, đây là năm thứ năm
AASC kiểm toán công ty này. Công ty C là một Tổng công ty Nhà nước với nhiều
chi nhánh trong cả nước. Lĩnh vực kinh doanh của công ty là sản xuất, nhập khẩu,
kinh doanh các sản phẩm gang thép và các sản phẩm khác phục vụ sản xuất thép.
Khách hàng M: là khách hàng năm đầu của Công ty, công ty M là một công
ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản.
Để đánh giá HTKSNB của hai khách hàng, KTV thực hiện bốn bước sau:
2.2.1. Tìm hiểu, thu thập thông tin và mô tả hệ thống kiểm soát nội bộ của
khách hàng
Ở AASC, công việc thu thập thông tin chung về khách hàng thường được
Quyết đinh bổ
sung
số 267/2006/QĐ-TTg ngày
23/11/2006
Giấy phép đăng
ký kinh doanh
số 0106000848 ngày 06/02/2007
(sau khi chuyển đổi thành mô
hình công ty mẹ - công ty con)
Số 4103001420 ngày
20/6/2004
Chủ sở hữu Nhà nước Cổ đông góp vốn
Trụ sở chính Quận Ba Đình, Hà Nội TP Đà Nẵng
Chi nhánh Chi nhánh TPHCM, chi nhánh
Miền Trung.
Chi nhánh TPHCM, Chi nhánh
Hà Nội.
Lĩnh vực hoạt
động kinh doanh
Sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh
các sản phẩm gang thép và các
sản phẩm khác phục vụ sản xuất
thép.
Chế biến xuất khẩu thủy sản,
kinh doanh vật tư nhập khẩu,
kinh doanh dịch vụ kho vận,
sản xuất thức ăn nuôi thủy sản.
Tô Thị Huyền Kiểm toán 47A
21
Chuyên đề tốt nghiệp ĐHKTQD
Ban Giám đốc
Tổng Giám đốc Ông Đ.V.Hùng Ông T.T.Tâm
Phó Tổng Giám đốc Ông L.P.Hưng Ông N.H.Dũng
Phó Tổng Giám đốc Ông N.T.Khôi Ông L.H.Sơn
Trưởng ban kiểm soát Ông Đ.T.Kháng Ông M.T.Hùng
Sau khi thu thập các thông tin chung về khách hàng, KTV tiến hành thu thập
các thông tin về HTKSNB của khách hàng. HTKSNB của một doanh nghiệp được
cấu thành từ bốn yếu tố: môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán, thủ tục kiểm soát và
kiểm toán nội bộ, do đó khi thu thập thông tin về HTKSNB khách hàng thì KTV cần
thu thập những thông tin trong mối liên hệ với các yếu tố cấu thành HTKSNB của
khách hàng.
Tô Thị Huyền Kiểm toán 47A
22
Chuyên đề tốt nghiệp ĐHKTQD
Thứ nhất: KTV tìm hiểu về môi trường kiểm soát sau khi đã có những thông
tin chung nhất về khách hàng. Môi trường kiểm soát là một yếu tố quan trọng ảnh
hưởng đến việc thiết kế, vận hành và xử lý các dữ liệu của các loại hình kiểm soát nội
bộ. Các nhân tố thuộc môi trường kiểm soát chung chủ yếu liên quan đến quan điểm,
thái độ cũng như nhận thức và hành động của các nhà quản trị trong doanh nghiệp.
Trên thực tế tính hiệu quả của hoạt động kiểm tra kiểm soát trong các doanh nghiệp
phụ thuộc chủ yếu vào các nhà quản lý tại doanh nghiệp đó, nếu nhà quản lý cho rằng
công tác kiểm tra kiểm soát là quan trọng và không thể thiếu được đối với mọi hoạt
động trong đơn vị thì mọi thành viên trong đơn vị sẽ có nhận thức đúng đắn về hoạt
động kiểm tra kiểm soát và tuân thủ mọi quy định cũng như chế độ đặt ra. Ngược lại,
nếu hoạt động kiểm tra kiểm soát bị coi nhẹ bởi các nhà quản lý thì chắc chắn các
quy chế mà chính các nhà quản lý đó đặt ra sẽ không được tuân thủ. Do đó tìm hiểu
môi trường kiểm soát là công việc quan trọng không thể thiếu khi đánh giá HTKSNB
của một doanh nghiệp. Khi tìm hiểu về môi trường kiểm soát, KTV thường thu thập
những thông tin sau:
Về đặc thù quản lý, KTV thu thập các quyết định, chính sách và thủ tục kiểm
không?
√ √
2 Tình hình tài chính của các nhà
quản lý có thuận lợi hay không?
√ √
3 Nhà quản lý có ý thức được trách
nhiệm trong việc lập và trình bày
BCTC cũng như xây dựng và vận
hành các hoạt động kiểm soát hay
không?
√ √
4 Nhà quản lý có sẵn sàng điều
chỉnh theo các đề xuất của KTV
không?
√ √
5 Nhà quản lý có hiểu biết về các
chính sách kế toán áp dụng không?
√ √
6 Nhà quản lý có trong sạch, không
có hành vi vi phạm pháp luật
không?
√ √
7 Ban giám đốc có ít thay đổi hoặc
không thay đổi ngân hàng giao
dịch, công ty tư vấn pháp luật và
KTV không?
√ √
Về cơ cấu tổ chức, KTV tìm hiểu về cơ cấu tổ chức các phòng ban, xem xét về
việc phân chia các chức năng có tách bạch hay không, có đảm bảo sự độc lập tương
đối giữa các bộ phận hay không, có tạo được khả năng kiểm tra kiểm soát lẫn nhau
giữa các phòng ban hay không?
√ √
3 Các bộ phận, phòng ban có đảm
bảo tính độc lập tương đối với
nhau không?
√ √
4 Đơn vị có thiết lập được sự điều
hành và sự kiểm soát trên toàn bộ
hoạt động của đơn vị không?
√ √
5 Đơn vị có thực hiện rành mạch ba
chức năng: xử lý nghiệp vụ, ghi
chép sổ sách và bảo quản tài sản
không?
√ √
Sau đó, KTV vẽ sơ đồ tổ chức của hai công ty.
Tô Thị Huyền Kiểm toán 47A
25