Phát triển đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp - Bộ Công Thương - Pdf 29

MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Khi nói về tầm quan trọng của nhà giáo trong sự nghiệp phát triển giáo dục,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Không có thầy giáo thì không có giáo
dục”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII
cũng khẳng định: “Xây dựng đội ngũ giáo viên, tạo ra động lực cho người dạy,
người học, bởi lẽ giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục”.
Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 đã xác định mục
tiêu: "Ưu tiên nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, đặc biệt chú trọng nhân
lực khoa học - công nghệ trình độ cao, cán bộ quản lý kinh doanh giỏi và công
nhân kỹ thuật lành nghề trực tiếp góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền
kinh tế".
Lực lượng giáo dục, trong đó chủ yếu là đội ngũ giảng viên (ĐNGV) và
giáo viên, là môt trong những thành tố cơ bản của quá trình giáo dục và đào tạo
(GD&ĐT). Thành tố đó có vai trò quyết định trong việc thực hiện nội dung và
chương trình, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục theo nguyên lý và
phương châm giáo dục để đạt tới mục tiêu giáo dục.
Trong giai đoạn hiện nay, đứng trước những yêu cầu ngày càng cao về phát
triển kinh tế - xã hội (KT-XH) của đất nước, thì sự nghiệp phát triển GD&ĐT
nước ta không thể không thực hiện đổi mới một cách đồng bộ về mục tiêu, nội
dung và chương trình, phương pháp và hình thức tổ chức, huy động và đầu tư cơ
sở vật chất và thiết bị dạy học (CSVC&TBDH), phương thức đánh giá kết quả
giáo dục, đổi mới tư duy và phương thức quản lý, đặc biệt là nâng cao chất
lượng nhà giáo và cán bộ quản lý (CBQL) giáo dục.
Đối với giáo dục nghề nghiệp, ĐNGV lại có vị trí, vai trò quan trọng hơn,
bởi vì họ là những người trực tiếp thực hiện chương trình và nội dung đào tạo
nhằm đào tạo được những công nhân kỹ thuật, những lao động có trình độ kỹ
thuật và tay nghề cao đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
1
hóa đất nước. Tuy nhiên "Đội ngũ nhà giáo thiếu về số lượng và nhình chung
thấp về chất lượng". Do đó, phát triển ĐNGV trong các trường cao đẳng nghề

hiệu quả đào tạo của Nhà trường.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề xuất một số biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên của Trường Cao
đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp nhằm đảm bảo chuẩn nghề nghiệp của
giảng viên dạy nghề.
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc phát triển đội ngũ giảng viên các
trường cao đẳng nghề.
3.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng phát triển đội ngũ giảng viên của
Trường Cao đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp nhằm đảm bảo Chuẩn nghề
nghiệp của giảng viên dạy nghề.
3.3. Đề xuất một số biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên của Trường
Cao đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp nhằm đạt được chuẩn nghề nghiệp
của giảng viên dạy nghề.
4. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
4.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý đội ngũ giảng viên của Trường Cao đẳng nghề Thương
mại và Công nghiệp.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên của Trường Cao đẳng nghề
Thương mại và Công nghiệp nhằm đạt được Chuẩn nghề nghiệp của giảng viên
dạy nghề.
5. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Đội ngũ giảng viên dạy nghề hệ cao đẳng của Trường Cao đẳng nghề
Thương mại và Công nghiệp còn có những mặt hạn chế và bất cập từ các
nguyên nhân khách quan và chủ quan đưa lại. Nếu đề xuất được các biện pháp
phát triển đội ngũ giảng viên theo hướng đạt chuẩn nghề nghiệp giáo viên và
3
giảng viên dạy nghề theo Thông tư số 30/2010/TT-BLĐTBXH ra ngày
29/9/2010 thì sẽ nâng cao được chất lượng đội ngũ giảng viên dạy nghề của

CỦA CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ
1.1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X đã
đề ra mục tiêu tổng quát của chiến lược phát triển KT-XH của nước ta từ 2001-
2010 là: “Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời
sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân; tạo nền tảng đến năm 2020
nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại” [9, tr
105]. Sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH chỉ có thể thành công khi chúng ta có
được một nguồn lực người có chất lượng. Nếu trước đây, thiếu vốn và sự nghèo
nàn về cơ sở vật chất là cái chủ yếu cản trở tốc độ tăng trưởng kinh tế; thì ngày
nay, sự cản trở chủ yếu đối với tăng trưởng kinh tế được xác định là ở chất
lượng của nguồn nhân lực xã hội như trình độ học vấn, tình trạng sức khỏe và
chất lượng sống. Phát triển nguồn nhân lực là mục tiêu hàng đầu, là động lực
quyết định của sự phát triển KT-XH của mọi quốc gia. Cho nên, đầu tư cho việc
phát triển nguồn nhân lực có chất lượng được coi là đầu tư cho phát triển KT-
XH. Chính vì vậy, việc nghiên cứu để có được cơ sở lý luận và thực tiền phát
triển nguồn nhân lực nói chung và phát triển ĐNGV trong các trường đại học
nói riêng được nhiều nhà khoa học ở trong và ngoài nước rất quan tâm.
1.1.1. Một số công trình nghiên cứu về phát triển đội ngũ ở nước ngoài
- Trước hết phải nói tới Chiến lược phát triển nguồn nhân lực bền vững của
Tổ chức SEAMEO.
Tổ chức Bộ trưởng Giáo dục các nước Đông Nam Á (SEAMEO)
thành lập năm 1965 với sứ mạng tăng cường sự hiểu biết, hợp tác và thống nhất
giữa các nước thành viên với mục đích tối cao là nâng cao chất lượng cuộc sống
cho người dân trong khu vực. Hiện nay SEAMEO có 10 nước thành viên
5
(Brunây, Cămpuchia, Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, Inđônêxia, Malaixia,
Mianma, Philippin, Xingapo, Thái lan và Việt nam); có 6 nước là các thành viên
liên kết như Oxtrâylia, Canađa, Cộng hoà Pháp, Cộng hoà liên bang Đức, Hà
Lan, NiuDilân; đồng thời có Hội đồng quốc tế về giáo dục mở và giáo dục từ xa

tiếp thị quốc tế cũng như việc tuyển mộ các sinh viên quốc tế là nhằm đáp ứng
các nhu cầu về nguồn nhân lực hiện tại và tương lai của Canađa. Tiến sĩ Lyle
Oberg, Bộ trưởng Bộ Học tập Alberta đã khẳng định: “Việc chuẩn bị cho người
dân Alberta nền kinh tế toàn cầu là phần quan trọng trong phát triển kinh tế.
Alberta cung cấp các định hướng cho giáo dục có thể đạt tới được thành công
hơn và mang tính tổng thể hơn, để đảm bảo tất cả người dân Alberta có khả
năng chiếm lĩnh được các kỹ năng và kiến thức trong suốt cuộc đời của họ để
đáp ứng các nhu cầu của vị trí làm việc luôn thay đổi”. Từ đó các nghiên cứu
cũng đưa ra các biện pháp về quan điểm, nội dung, phương pháp và đầu tư cho
phát triển nguồn nhân lực quốc gia.
- Ba là Chính sách hiện đại hoá giáo dục của Liên bang Nga giai đoạn
đến năm 2010. Ngày 29 tháng 12 năm 2001, Thủ tướng Chính phủ Liên bang
Nga M.Kaxianov ký đã Quyết định số 1756 phê duyệt và cho công bố văn bản
do Bộ trưởng Bộ Giáo dục Liên bang Nga trình về: “Nội dung hiện đại hoá giáo
dục Nga giai đoạn đến 2010”.
Mục tiêu và nhiệm vụ chính của chính sách hiện đại hoá giáo dục của
Liên bang Nga là đảm bảo chất lượng hiện đại của giáo dục trên cơ sở đảm bảo
tính cơ bản của nó phù hợp với những đòi hỏi trước mắt và tương lai của cá
nhân, xã hội và quốc gia. Hiện đại hoá giáo dục là nhiệm vụ của nhà nước và
của toàn dân, không phải và không thể thực hiện như là một dự án cấp Bộ Giáo
dục Nga. Quyền lợi của xã hội, quốc gia trong giáo dục không luôn luôn trùng
khớp với quyền lợi của mọi cấp, mọi ngành và mọi cá nhân trong chính hệ thống
giáo dục. Do vậy việc xác định nhưng phương hướng hiện đại hoá và phát triển
7
giáo dục không thể đóng khung trong phạm vi cộng đồng giáo dục và Bộ Giáo
dục. Mọi công dân, mọi gia đình và cả xã hội, các hệ thống chính quyền nhà nước
cấp liên bang và các vùng miền, các cơ quan tự quản địa phương, hội nghề nghiệp
– sư phạm, các tổ chức khoa học, văn hoá, thương mại và xã hội phải trở thành
chủ thể tích cực của chính sách giáo dục. Để đạt được mục tiêu trên, nhà nước đã
giải quyết hàng loạt các nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu liên quan với nhau. Cụ thể là :

trình độ sư phạm hạn chế; thiếu hiểu biết thực tế sản xuất và công nghệ mới;
trình độ ngoại ngữ và tin học yếu. Như vậy là phần lớn ĐNGV không đủ khả
năng thích ứng kịp với nhu cầu phát triển KT-XH, phát triển KH&CN, những
biến đổi xã hội và hoạt động sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trường.
Đề tài đã nêu lên các giải pháp để bồi dưỡng để phát triển ĐNGV,
trong đó có việc xây dựng mô hình đào tạo bồi dưỡng ĐNGV, giáo viên có trình
độ đạt chuẩn, cơ cấu chuyên ngành hợp lý và nghiệp vụ sư phạm tinh thông.
- Đề tài KH&CN cấp Bộ, mã số B96. 52 – 11 về “Xây dựng mô hình
công tác phát triển bồi dưỡng cán bộ giảng dạy phục vụ yêu cầu đổi mới
GD&ĐT ở Việt Nam” do Trần Thị Bạch Mai làm chủ nhiệm đề tài (bảo vệ năm
1997).
Đề tài nêu lên thực trạng ĐNGV chưa đáp ứng được mục tiêu phát
triển giáo dục của nước ta; các giải pháp để tăng cường năng lực thích ứng của
ĐNGV với sự phát triển ngày càng cao của xã hội. Đề tài cũng đề cập đến các
giải pháp về đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp và chương trình giảng
dạy và xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo hướng chuẩn hoá, hiện
đại với những hình thức đào tạo bồi dưỡng linh hoạt. Đề tài đặc biệt chú ý tới
phát triển đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu vừa tăng quy mô, vừa nâng cao chất
lượng, hiệu quả và đổi mới phương pháp dạy và học.
9
- Đề án “Tăng cường năng lực đào tạo giáo viên” do Ngân hàng phát
triển Châu Á tài trợ (2002).
Đề án đã nêu lên những thành tựu ấn tượng, đặc biệt là từ khi đổi mới,
giáo dục đại học nước nhà đã đạt được những thành tựu đáng kể:
+ Hệ thống các cơ sở giáo dục cao đẳng, đại học tăng lên mạnh
và phân bổ hầu như khắp các vùng trong cả nước; các cơ sở giáo dục trên được
đa dạng các loại hình; tăng về số lượng và được quy mô từ 102 trường (năm
1990) lên 178 trường (năm 2001).
+ Số lượng sing viên (SV) tăng đáng kể: từ 160,2 ngàn (năm
1991) lên 918,2 ngàn (năm 2000), trong đó số SV ngoài công lập chiếm khoảng

mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên; ở cơ sở
giáo dục đại học gọi là GV.
Như vậy, ĐNGV là tập hợp các nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục
trong các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng.
1.2.1.2. Phát triển đội ngũ
Phát triển đội ngũ trong một tổ chức được hiểu là hoạt động nhằm có một
lực lượng lao động người đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đạt chuẩn về trình
độ đào tạo và đảm bảo chất lượng (năng lực và phẩm chất) đáp ứng được nhiệm
vụ và chức năng của tổ chức đó; đồng thời đáp ứng được yêu cầu phát triển KT -
XH cộng đồng và xã hội. [4, Tr 66]. Đội ngũ của một tổ chức cũng chính là
nguồn nhân lực của tổ chức đó, cho nên để nhận biết khái niệm phát triển đội
ngũ, chúng ta phải xuất phát từ khái niệm phát triển nguồn nhân lực.
“Phát triển nguồn nhân lực là quá trình tạo ra sự biến đổi, chuyển biến số
lượng, cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực phù hợp với từng giai đoạn phát
11
trin kinh t - xó hi cỏc cp khỏc nhau, ỏp ng nhu cu nhõn lc cn
thit cho cỏc lnh vc hot ng lao ng v i sng xó hi[10, Tr 10]
T tng ch o v phỏt trin ngun nhõn lc l ly phỏt trin bn vng
lm trung tõm; mi con ngi l mt cỏ nhõn c lp lm ch quỏ trỡnh lao ng
ca mỡnh; ly li ớch ca ngi lao ng l nguyờn tc c bn ca qun lý lao
ng; bo m mụi trng dõn ch thun li cho tin hnh giao lu ng thun;
cú chớnh sỏch gii phúng v phỏt huy tim nng ca ngi lao ng, bo m
hiu qu cụng vic; phỏt trin ngun nhõn lc bỏm sỏt th trng lao ng, õy
l mt vn phc tp m mu cht l phi xõy dng cỏc chớnh sỏch qun lý
phỏt trin GD&T ỳng n; chớnh sỏch s dng ngun nhõn lc, bao gm
tuyn dng, chớnh sỏch lao ng, phõn cụng lao ng, phõn b nhõn lc, chớnh
sỏch cỏn b, tin lng, khen thng; to ra ng lc kớch thớch mi ngi
chm hc, chm lm, ng viờn tớch cc ngi lao ng giỳp h nng ng,
thin chớ, cu tin t ú i n sỏng to l mt vn cc k quan trng trong t
chc qun lý v mụ cng nh vi mụ ngun lc con ngi.

quả chung của tổ chức gắn liền với việc tăng lên về mặt số lượng của đội ngũ,
cũng như chất lượng của nhân lực.
Theo Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP) thì có 5
nhân tố của sự phát triển nguồn nhân lực là GD&ĐT, sức khỏe dinh dưỡng, môi
trường làm việc, tự do chính trị và kinh tế; trong đó GD&ĐT là nhân tố tiền đề
và có tầm quan trọng nhất.
Từ các lập luận trên, có thể hiểu phát triển đội ngũ của một tổ chức
cũng được hiểu là phát triển nguồn nhân lực trong một tổ chức. Cho nên:
- Phát triển đội ngũ là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách
và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho đội ngũ nhằm đạt
được mục đích đủ số lượng, phù hợp về cơ cấu, đạt chuẩn về trình độ đào tạo, có
đủ phẩm chất và năng lực chuyên môn cũng như nghiệp vụ.
1.2.1.3. Phát triển đội ngũ giảng viên
Phát triển ĐNGV trong các trường đại học là tổng thể các hình thức,
phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng
cho đội ngũ đó nhằm đạt được mục đích đủ số lượng theo tỷ lệ quy định, phù
hợp về cơ cấu, đạt chuẩn về trình độ đào tạo, có đủ phẩm chất và năng lực
chuyên môn cũng như nghiệp vụ sư phạm
1.2.2. Quản lý, quản lý nhà trường và quản lý đội ngũ giảng viên
1.2.2.1. Quản lý
Quản lý là một hoạt động phổ biến không thể thiếu trong mọi lĩnh vực, ở
mọi cấp độ và có tác động, liên quan đến mọi người. Harold Koontz đã viết:
13
“Việc quản lý là thiết yếu trong mọi sự hợp tác có tổ chức, cũng như ở mọi cấp
độ của tổ chức trong một cơ sở” [13, Tr 21]. Như vậy, có thể khẳng định rằng
mọi quá trình hoạt động không thể thiếu được quản lý.
Có nhiều cách trình bày khái niệm quản lý. Ví dụ:
- Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định
hướng của chủ thể quản lý về các mặt văn hoá, chính trị, kinh tế, xã hội bằng một hệ
thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ

qu¶n lý
Sơ đồ 1.2. Các mối quan hệ của hoạt động quản lý
Từ những điểm chung của các định nghĩa và sự phân tích các mối quan hệ
của hoạt động quản lý, có thể hiểu:
Quản lý một tổ chức được hiểu là sự tác động có tổ chức, có định
hướng của chủ thể quản lý lên các khách thể nhằm đạt được mục tiêu quản lý đã
định.
1.2.2.2. Quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường là quản lý giáo dục ở tầm vi mô (hoạt động quản lý
trong phạm vi một đơn vị, một cơ sở giáo dục).
“Quản lý nhà trường là hệ thống những tác động có mục đích, có kế
hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (các cấp quản lý của hệ thống giáo
dục) nhằm làm cho nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để đạt tới
mục tiêu giáo dục đặt ra cho từng thời kỳ phát triển của đất nước” [15, Tr 7]
Quản lý nhà trường thực chất là quản lý giáo dục trên tất cả các mặt, liên
quan đến hoạt động giáo dục và đào tạo trong phạm vi một nhà trường.
Như vậy, quản lý nhà trường được xem là công việc của CTQL các cấp
trong nhà trường mà đứng đầu là Hiệu trưởng, cho nên có thể hiểu: “Quản lý
nhà trường là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có
hệ thống và hợp quy luật) của chủ thế quản lý nhà trường (hiệu trưởng) đến
khách thể quản lý nhà trường (giáo viên, giảng viên, nhân viên và người học,…)
nhằm đưa các hoạt động giáo dục và dạy học của nhà trường đạt tới mục tiêu
giáo dục” [4, Tr 20].
15
Chú ý: Từ các khái niệm trên cho thấy quản lý giáo dục và quản lý nhà
trường có nội dung quản lý đội ngũ nhân lực.
1.2.2.3. Quản lý đội ngũ giảng viên
Quản lý đội ngũ giảng viên là một trong những nội dung chủ yếu nhất của
quá trình quản lý nguồn nhân lực trong ngành Giáo dục và Đào tạo nói chung và
đối với mỗi trường đại học, cao đẳng nói riêng.

có thể học tập dưới nhiều hình thức theo khả năng và điều kiện cho phép, đã phá
vỡ tính duy nhất và độc tôn về nguồn tri thức của người thầy giáo, tuy nhiên
giáo dục trong nhà trường dưới sự chỉ đạo của giảng viên vẫn là con đường có
hiệu quả nhất để thế hệ trẻ tiếp thu có mục đích, có chọn lọc, có hệ thống các di
sản văn hoá, khoa học, công nghệ của loài người và dân tộc.
Sự thay đổi cơ bản về vị trí, vai trò, chức năng của người giảng viên trong
quá trình đào tạo đã làm thay đổi cơ bản những quan niệm về người giảng viên
trong nền giáo dục hiện đại. Người giảng viên không chỉ có nhiệm vụ truyền thụ
kiến thức đơn thuần mà còn có nhiệm vụ dạy cho người học cách học, cách thu
nhận và xử lý các kiến thức, các tình huống trong thực tiễn đời sống đa dạng.
Trên cơ sở đó, chức năng của người giảng viên là tổ chức và điều khiển các
hoạt động giáo dục và dạy học, để hướng tới mục đích hình thành nhân cách
con người đáp ứng yêu cầu của xã hội trong từng giai đoạn phát triển của lịch
sử. Nói cách khác, người giảng viên trong nền giáo dục hiện đại không chỉ
được coi là người truyền thụ những kiến thức được coi là chính thống có sẵn
mà phải là người đề xướng, thiết kế nội dung và phương pháp dạy nhằm làm
thay đổi thị hiếu, hứng thú người học, là người giúp cho người học biết cách
học cách tự rèn luyện.
Những thay đổi này đòi hỏi phải nâng cao chất lượng đào tạo giảng viên,
đặc biệt phải coi trọng hơn việc bồi dưỡng thường xuyên cho giảng viên với
nhiều hình thức đa dạng và có hệ thống tri thức, kỹ năng cần thiết cho hoạt
17
động nghề nghiệp của họ. Khuyến cáo 21 điểm của UNESCO cũng chỉ rõ: "
thầy giáo phải được đào tạo để trở thành những nhà giáo dục nhiều hơn là
những chuyên gia truyền đạt kiến thức" (điểm 18) và đặc biệt là " các chương
trình đào tạo giáo viên cần triệt để sử dụng các thiết bị và phương pháp dạy
học mới nhất" (điểm 16).
Có thể nói, trong bất cứ giai đoạn nào của quá trình phát triển giáo dục nói
riêng và xã hội nói chung, vai trò, vị trí của người thầy giáo luôn luôn được coi
trọng. Những thay đổi trong nhiệm vụ và chức năng của người thầy giáo trong

Điều lệ trường Cao đẳng và Quy chế tổ chức, hoạt động của trường;
b. Giảng dạy theo đúng nội dung, chương trình đã được Bộ Giáo dục và
Đào tạo và nhà trường quy định; viết giáo trình, phát triển tài liệu phục vụ
giảng dạy, học tập theo sự phân công của trường, khoa, bộ môn;
c. Chịu trách nhiệm giám sát của các cấp quản lý về chất lượng, nội dung,
phương pháp đào tạo và nghiên cứu khoa học;
d. Tham gia hoặc chủ trì các đề tài nghiên cứu khoa học, ứng dụng
chuyenr giao công nghệ theo sự phân công của trường, khoa, bộ môn;
đ. Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách
của người học, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người học, rèn luyện tư
tưởng, đạo đức, tác phong, lối sống;
e. Không ngừng tự bồi dưỡng nghiệp vụ, cải tiến phương pháp giảng dạy
để nâng cao chất lượng đào tạo;
g. Hoàn thành tốt công tác khác được trường, khoa, bộ môn giao".
Ngoài hai nhiệm vụ chính là giảng dạy và nghiên cứu khoa học, người
giảng viên trường cao đẳng nghề phải không ngừng rèn luyện, tu dưỡng đạo đức
để thực sự trở thành những nhà giáo mẫu mực, là tấm gương cho sinh viên noi
theo. Đồng thời người giảng viên ở các trường này còn phải giáo dục cho sinh
viên lòng yêu người, yêu nghề và lý tưởng nghề nghiệp, từ đó giúp cho sinh viên
19
nhận thức đúng đắn về nghề nghiệp, về vị trí, vai trò của mình trong sự nghiệp
xây dựng và phát triển đất nước.
1.3.3. Yêu cầu đối với giáo viên, giảng viên dạy nghề theo chuẩn
Nội dung về yêu cầu đối với giáo viên, giảng viên dạy nghề theo chuẩn
được đề cập trong Thông tư Số 30/2010/TT-BLĐTBXH ra ngày 29 tháng 9 năm
2010 bao gồm 4 tiêu chuẩn và 16 tiêu chí. Ngoài các tiêu chí chung cho cả giáo
viên dạy nghề và giảng viên dạy nghề (như phẩm chất chính chính trị và đạo đức
nghề nghiệp, lối sống và tác phong , quản lý hồ sơ dạy học, quản lý người học,
xây dựng môi trường giáo dục và học tập); thì riêng đội ngũ GVDN trình độ cao
đẳng nghề phải đáp ứng được 10 yêu cầu chủ yếu:

chương trình môn học, mô-đun thuộc nghề được phân công giảng dạy;
- Chuẩn bị đầy đủ các phương tiện dạy học, trang thiết bị dạy nghề,
nguyên, nhiên, vật liệu thực hành cần thiết; tự làm được các loại phương tiện
dạy học thông thường.
- Chủ trì hoặc tham gia thiết kế và bố trí trang thiết bị dạy học của phòng học
chuyên môn phù hợp với chương trình của nghề phân công giảng dạy.
5) Về thực hiện hoạt động giảng dạy; GVDN trình độ cao đẳng nghề phải:
- Tổ chức dạy học phù hợp với nghề đào tạo và với từng đối tượng người
học; thực hiện đầy đủ kế hoạch giảng dạy, đúng chương trình, nội dung;
- Thực hiện các giờ dạy lý thuyết/thực hành/tích hợp theo đúng giáo án,
đảm bảo chuẩn kiến thức, kỹ năng và thái độ theo quy định;
- Biết vận dụng, phối hợp các phương pháp dạy học nhằm phát huy tính
tích cực, sáng tạo, phát triển năng lực tự học của người học;
21
- Sử dụng thành thạo các phương tiện dạy học, trang thiết bị dạy nghề để
nâng cao hiệu quả giảng dạy, đảm bảo chất lượng dạy nghề; ứng dụng được
công nghệ thông tin trong giảng dạy.
6) Về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học; GVDN trình độ
cao đẳng nghề phải:
- Lựa chọn và thiết kế được các công cụ kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
của người học về kiến thức, kỹ năng và thái độ phù hợp với môn học, môđun
được phân công giảng dạy;
- Thực hiện việc kiểm tra, đánh giá toàn diện, chính xác, mang tính giáo
dục và đúng quy định.
7) Về xây dựng chương trình, biên soạn giáo trình, tài liệu giảng dạy;
GVDN trình độ cao đẳng nghề phải:
- Nắm được căn cứ, nguyên tắc, yêu cầu và quy trình xây dựng chương
trình dạy nghề trình độ cao đẳng;
- Có khả năng chủ trì hoặc tham gia biên soạn, chỉnh lý chương trình dạy
nghề trình độ cao đẳng, chương trình bồi dưỡng nghề phù hợp với nguyên tắc

1.4.1. Thiết lập quy hoạch phát triển đội ngũ giảng viên
Lập kế hoạch trong QLGD là một quá trình tiếp diễn phản ánh nhưng
biến động diễn ra trong môi trường đối với hệ thống giáo dục và ấn định
những phương án hoạt động giúp hệ thống giáo dục thích ứng với môi trường
của nó. Quá trình lập kế hoạch sẽ cho chủ thể QLGD những loại kế hoạch
giáo dục khác nhau.
Căn cứ vào kế hoạch phát triển tổng thể, để dự báo triển vọng theo kế
hoạch 5 năm, 10 năm, trong đó bao gồm dự báo ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Dự báo được xu hướng diễn biến của nhân lực nhà trường về số lượng, chất
lượng, cơ cấu đội ngũ giảng viên, chỉ ra được nhu cầu, điều kiện khả năng phát
triển đội ngũ giảng viên của nhà trường.
23
Nhờ có kế hoạch mà hướng vận động và phát triển của hệ thống phát triển
giáo dục được xác định rõ, tạo điều kiện và cơ hội thuận lợi cho việc thực hiện
mục tiêu của hệ thống giáo dục.
- Nguyên tắc xây dựng quy hoạch phát triển ĐNGV trong các trường cao
đẳng nghề:
+ Phải đảm bảo tính kế thừa, vừa phải đảm bảo nhiệm vụ giảng dạy
trước mắt và lâu dài vì GV là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục.
+ Phải đảm bảo về cơ cấu chuyên môn giữa các bộ môn, nhưng có sự ưu
tiên cần thiết đối với những nghề đang là thế mạnh trong tuyển sinh và dạy nghề.
- Quy trình quản lý xây dựng quy hoạch phát triển ĐNGV gồm:
+ Đánh giá cơ hội, thách thức, khó khăn, thuận lợi có ảnh hưởng
đến phát triển đội ngũ.
+ Trên cơ sở dự báo quy mô phát triển nhà trường, đề ra mục tiêu về số
lượng, cơ cấu, trình độ đào tạo, chất lượng ĐNGV.
+ So sánh nhu cầu và yêu cầu từ mục tiêu với thực trạng của Trường
để biết được việc thừa, thiếu hay chưa đạt của ĐNGV.
+ Xác định lộ trình, thời gian để thực hiện được mục tiêu về số lượng,
cơ cấu, trình độ đào tạo, chất lượng ĐNGV.

1.4.3. Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn
và nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giảng viên
Con đường đi cơ bản và chủ yếu để duy trì và không ngừng nâng cao năng
lực, phẩm chất nguồn nhân lực trong bất kỳ tổ chức nào là tổ chức hoạt động
đào tạo và bồi dưỡng.
Quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cho ĐNGV của các trường cao đẳng
nghề gồm các nội dung chủ yếu sau:
- Xây dựng mục tiêu bồi dưỡng theo các chuẩn nghề nghiệp.
25

Trích đoạn NHẬN XẫT CHUNG NHỮNG NGUYấN TẮC ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP KHẢO NGHIỆM VỀ MỨC ĐỘ CẦN THIẾT VÀ KHẢ THI CỦA CÁC BIỆN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status