Luận văn: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT THUỘC ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN pot - Pdf 15

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐẶNG VĂN DOANH BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT
THUỘC ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60.14.05


LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60.14.05
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS TRẦN QUỐC THÀNH
THÁI NGUYÊN - 2008 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Lời cảm ơn
Với tình cảm chân thành, tác giả luận văn xin được bày tỏ lòng biết ơn tới:
- Các thầy cô giáo khoa Tâm lý - Giáo dục, phòng Đào tạo và Quản lý
khoa học, khoa sau Đại học, trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã tận
tình giảng dạy và giúp đỡ em trong thời gian học tập và nghiên cứu.
- Ban giám hiệu, các phòng ban chức năng và các khoa của trường Cao
đẳng Kinh tế - Kỹ thuật thuộc Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện để
tôi được tham gia khóa học này.
- Gia đình, bạn bè và đồng nghiệp, những người luôn sát cánh động
viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận
văn.
- Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của PGS-TS Trần Quốc Thành -
trưởng khoa Tâm lý - Giáo dục, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, người đã

NNL
- Nguồn nhân lực
ĐNGV
- Đội ngũ giảng viên
BCH-TW
- Ban chấp hành Trung ương
KT-XH
- Kinh tế, xã hội
TCCN
-Trung cấp chuyên nghiệp
UBND
- Ủy ban nhân dân
GV
- Giảng viên
NCKH
- Nghiên cứu khoa học
HSSV
- Học sinh sinh viên
CBGV
- Cán bộ giảng viên
BGH
- Ban giám hiệu
NCS
- Nghiên cứu sinh
ĐHTN
- Đại học Thái Nguyên Lời cảm ơn
Với tình cảm chân thành, tác giả luận văn xin được bày tỏ lòng biết ơn tới:

ương Đảng về việc xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và
quản lý giáo dục đã chỉ rõ: "Mục tiêu xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lý giáo dục được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ số lượng, đồng bộ
về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối
sống, lương tâm, tay nghề nhà giáo. Thông qua việc quản lý, phát triển đúng
định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng đào
tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước". Đồng thời chỉ thị cũng chỉ rõ: "Tuy
nhiên, trước những yêu cầu mới của sự phát triển giáo dục trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, đội ngũ nhà giáo có những hạn chế, bất cập, số
lượng giảng viên còn thiếu nhiều, cơ cấu giảng viên đang mất cân đối giữa
các môn học, bậc học…Chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ của các nhà giáo
có mặt chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và phát triển kinh tế - xã hội,
tình hình trên đòi hỏi phải tăng cường xây dựng đội ngũ nhà giáo một cách
toàn diện". Sự nghiệp đào tạo những thế hệ người Việt Nam có bản lĩnh, có lý
tưởng, có khả năng sáng tạo làm chủ được tri thức hiện đại, quyết tâm đưa đất
nước lên trình độ phát triển sánh kịp các nước trong khu vực và trên thế giới.
Gắn liền với sự chăm lo phát triển một nền giáo dục - đào tạo vững
mạnh, trong đó xây dựng đội ngũ nhà giáo một cách toàn diện là hết sức quan

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
trọng. Luật giáo dục khẳng định: "Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc
đảm bảo chất lượng giáo dục".
Chất lượng đội ngũ nhà giáo phản ánh chất lượng của giáo dục.
UNESCO đã nhấn mạnh rằng: "Vai trò của giảng viên vẫn là chủ yếu mặc dù
cải cách giáo dục đang xảy ra". Quyết định số 09/2005/QĐ-TTr ngày
11/1/2005 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt đề án: "Xây dựng đội
ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo hướng chuẩn hóa, nâng cao
chất lượng, bảo đảm đủ về số lượng, đồng bộ cơ cấu đặc biệt chú trọng nâng

năng nghiên cứu khoa học, khả năng tự học, tự bồi dưỡng của đội ngũ giảng
viên mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng vẫn còn ở mức độ thấp.
- Cơ cấu đội ngũ giảng viên chưa đồng bộ, nhiều khoa, bộ môn lực
lượng giảng viên còn quá mỏng. Do vậy, nhiệm vụ sắp tới nhất thiết cần
xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên nhà trường cả về số lượng, chất
lượng và cơ cấu.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài:
"Biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ
thuật thuộc Đại học Thái Nguyên".
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm phát triển đội ngũ giảng viên
của trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật thuộc Đại học Thái Nguyên đáp ứng
yêu cầu xây dựng và phát triển nhà trường trong giai đoạn tới.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động phát triển đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng kinh tế-kỹ
thuật thuộc Đại học Thái Nguyên.
3.2. Đối tượng nghiên cứu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
Các biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên của Trường Cao đẳng Kinh
tế - Kỹ thuật thuộc Đại học Thái Nguyên.
4. Giả thuyết khoa học
Đội ngũ giảng viên của trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật thuộc Đại
học Thái Nguyên đã được quan tâm xây dựng và phát triển. Song đứng trước
yêu cầu phát triển nhà trường, đội ngũ giảng viên vẫn còn nhiều bất cập. Nếu
phân tích rõ được nguyên nhân những bất cập của đội ngũ giảng viên thì có
thể đề ra được các biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên phù hợp với đặc
điểm của trường Cao đẳng kinh tế-kỹ thuật với tư cách là một trường Cao

lý luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
7.2. Phương pháp quan sát các hoạt động quản lý, giảng dạy học tập trong
nhà trường. Từ đó rút ra một số kết luật liên quan đến vấn đề nghiên
cứu như sau:
Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi, sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến
để thu thập thông tin cần thiết về thực trạng đội ngũ giảng viên hiện nay.
Các phương pháp dự báo về công tác phát triển. Trường Cao đẳng Kinh
tế - Kỹ thuật thuộc ĐHTN và đội ngũ giảng viên của nhà trường.
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm, khảo sát các báo cáo thực tiễn.
Phương pháp khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi các biện pháp đề xuất,
phương pháp mô hình hóa.
7.3. Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến chuyên gia về biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên. Trao
đổi phỏng vấn với các cán bộ quản lý có kinh nghiệm, đội ngũ giảng viên lâu
năm có uy tín, thế hệ giảng viên trẻ mới vào nghề…
7.4. Phương pháp toán thống kê

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
Phương pháp này dùng để thống kê số lượng, chất lượng đội ngũ
giảng viên, HSSV. Sử lý các số liệu đã thống kê, kiểm định độ tin cậy của
các biện pháp kiểm định thống kê, kiểm định độ tin cậy của biện pháp phát
triển đội ngũ giảng viên, từ đó đề xuất nhằm đưa ra kết luận phục vụ cho
công tác nghiên cứu.
8. Cấu trúc của luận văn
Bao gồm phần mở đầu và 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giảng viên trường cao đẳng.
Chương 2: Thực trạng đội ngũ và công tác phát triển đội ngũ giảng viên
trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật thuộc Đại học Thái Nguyên.
Chương 3: Một số biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng

nhân lực, mã số VIE/89/022 (gọi tắt là Dự án tổng thể về giáo dục).
- Bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới (Đề tài
khoa học mã số KX-07, năm 1996).

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
- Dự án hỗ trợ Bộ GD&ĐT do Ủy ban châu Âu tài trợ.
Năm 1993, nhóm tác giả nghiên cứu do Phạm Thành Nghị, chủ nhiệm
đề tài đã hoàn thành công trình: "Nghiên cứu việc bồi dưỡng cán bộ giảng dạy
đại học và giáo viên dạy nghề". Riêng đối với giảng viên các trường đại học,
cao đẳng, đề tài đã phân tích được thực trạng về tình hình đội ngũ và đào tạo,
bồi dưỡng giảng viên trong những năm vừa qua. Đồng thời đề tài cũng đã đưa
ra một số phương án, giải pháp bồi dưỡng cho đội ngũ giảng viên đại học,
cao đẳng nhằm nâng cao trình độ cho đội ngũ này.
Tuy nhiên đề tài chỉ giới hạn tập trung nghiên cứu về các giải pháp bồi
dưỡng cho đội ngũ giảng viên hiện có, chưa đáp ứng được các yêu cầu của
nội dung xây dựng và phát triển đội ngũ nhằm chuẩn hóa không chỉ về chất
lượng mà còn phát triển về số lượng và cơ cấu hợp lý.
Những năm gần đây, sự tăng nhanh về số lượng các trường đại học và
cao đẳng trong cả nước dẫn đến sự thiếu hụt và mất cân đối của đội ngũ giảng
viên. Vì thế, nhiều đề tài ở các cấp độ khác nhau trong đó có các luận văn
thuộc chuyên ngành QLGD đã đề cập đến vấn đề này:
- Các giải pháp tổ chức nhằm ổn định đội ngũ cán bộ dạy ở trường Đại
học Sư phạm (Luận văn thạc sỹ QLGD của Nguyễn Thị Thanh, Đại học Sư
phạm Hà Nội, năm 1999).
- Những giải pháp cơ bản xây dựng đội ngũ giáo viên trường chuẩn
quốc gia Trung học phổ thông Xuân Đỉnh, Hà Nội (Luận văn thạc sỹ QLGD
của Nguyễn Viết Cẩn, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2004).
- Một số giải pháp quản lý nhằm phát triển đội ngũ giảng viên trường
Đại học Hải Phòng đến năm 2010 (Luận văn thạc sỹ QLGD của Nguyễn Sơn

viên đảm bảo đủ về số lượng, chuẩn hóa về chất lượng và đồng bộ về cơ cấu.
Đề án của Chính phủ tạo cơ sở, tiền đề quan trọng để các nhà trường, các cơ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
quan quản lý giáo dục làm căn cứ để xây dựng các chương trình, kế hoạch
phát triển đội ngũ cán bộ, giảng viên cho đơn vị địa phương của mình.
Tuy nhiên, đề án chỉ đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý ở tầm
vĩ mô, để thực hiện nhiệm vụ phát triển đội ngũ giảng viên của từng địa
phương, từng trường đại học, cao đẳng thì cần có những giải pháp cụ thể, phù
hợp với những đặc điểm tình hình từng trường và đội ngũ giảng viên hiện có,
vấn đề này nội dung đề án chưa thể giải quyết được.
Nhìn chung, đã có nhiều công trình đề cập đến vấn đề phát triển đội
ngũ giáo viên ở các trường phổ thống, đội ngũ giảng viên ở các trường đại
học và cao đẳng nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới sự nghiệp giáo dục đào tạo.
Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách đầy đủ về biện pháp phát
triển đội ngũ giảng viên của trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật thuộc Đại
học Thái Nguyên .
Do đó, đề tài này sẽ cố gắng đề cập đến những vấn đề mà các đề tài
khác chưa có điều kiện làm rõ. Đó là những vấn đề của đội ngũ giảng viên
trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật thuộc Đại học Thái Nguyên với tư cách là
một trường Cao đẳng trong đại học đa ngành. Trên cơ sở đó, đề xuất những
biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên của một trường cao đẳng mới thành
lập đang trong quá trình xây dựng và phát triển.
1.2. Những khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề phát triển đội ngũ
giảng viên
1.2.1. Khái niệm quản lý giáo dục, quản lý nguồn nhân lực trong giáo dục
1.2.1.1. Quản lý
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động. Chính
sự phân công, hợp tác lao động nhằm đạt hiệu quả, năng suất cao hơn trong

đích đảm bảo việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự
phát triển toàn diện và hài hòa của họ. Trên cơ sở nhận thức và sử dụng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
những quy luật khách quan của quá trình dạy học, giáo dục, của sự phát triển
về thể chất và tâm lý của trẻ em, thiếu niên cũng như thanh niên".
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: "QLGD là hệ thống những tác
động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm
cho hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực
hiện được tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm
hội tụ là quá trình dạy học-giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu
dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất" [12, tr.35].
Còn theo Đỗ Hoàng Toàn thì: "QLGD là tập hợp những biện pháp tổ
chức, phương pháp giáo dục, kế hoạch hóa, tài chính, …nhằm đảm bảo sự
vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, bảo đảm sự
tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất
lượng" [18, tr.29].
Từ những quan điểm trên, ta thấy, bản chất của hoạt động QLGD là
quản lý hệ thống giáo dục, là sự tác động có mục đích, có hệ thống, có kế
hoạch, có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý theo các quy luật
khách quan nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết
quả mong muốn.
1.2.1.3. Quản lý nguồn nhân lực trong giáo dục
Quản lý nguồn nhân lực là một quá trình bao gồm thu nhận, sử dụng và
phát triển lực lượng lao động của một tổ chức nhằm đạt được mục tiêu tổ
chức có hiệu quả. Các hoạt động chủ yếu quản lý nguồn nhân lực gồm: Kế
hoạch hóa nguồn nhân lực, tuyển chon-sử dụng-bồi dưỡng-phát triển nguồn
nhân lực, kiểm tra hoạt động, điều chỉnh: đề bạt, luân chuyển hoặc thải hồi.
Theo Leonard Nadlerd (Mỹ), nhiệm vụ của quản lý nguồn nhân lực


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
Chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc, lúc đầu nhân dân ta cũng gọi
người làm nghề dạy học là "Sư". Ông bà ta có câu: "Nhất tự vi sư, bán tự vi
sư" để khuyên răn người học thái độ kính trọng đối với nhà giáo. Khi chữ
Nôm ra đời, nhân dân ta không gọi nhà giáo bằng "Sư" mà gọi là "Thầy". Sự
đa dạng của danh từ "Thầy" trong tục ngữ, ca dao Việt Nam khẳng định điều
này. Ông bà ta từng dạy "Không thầy đố mày làm nên", "Muốn sang thì bắc
cầu Kiều; Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy",… Theo đó, "Thầy" là "người
có trình độ hướng dẫn, dạy bảo".
Khi tiếp thu văn minh phương Tây, "thầy giáo" được nhân dân ta gọi
để "chỉ người làm nghề dạy học nói chung". Có thể "thầy giáo" là phiên âm
Tiếng Việt của thuật ngữ "giáo sư" vốn có nguồn gốc từ danh từ "professor"
của người châu Âu. Sau này, "thầy giáo" đôi khi được hiểu theo nghĩa hẹp chỉ
người dạy học là nam giới, còn nữ giới làm nghề này được gọi là "cô giáo".
Ngày nay, chúng ta gọi thống nhất những người làm nghề dạy học là "nhà
giáo". Theo Điều 70, Luật Giáo dục của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam: "Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường
hoặc cơ sở giáo dục khác". "Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non,
giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên; ở cơ sở giáo dục
đại học gọi là giảng viên".
1.2.2.2. Đội ngũ nhà giáo
* Đội ngũ
Theo Từ điển tiếng Việt, đội ngũ là "khối đông người cùng chức năng
nghề nghiệp được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng" [24, 328].
Các khái niệm về đội ngũ dùng cho các thành phần trong xã hội như
đội ngũ trí thức, đội ngũ công nhân viên chức đều có gốc xuất phát từ đội ngũ
theo thuật ngữ quân sự. Đó là một khối đông người, được tổ chức thành một
lực lượng để chiến đấu hoặc để bảo vệ.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
thêm tiếng Việt. Một số thiền sư nổi tiếng như: Sư Đỗ Pháp Thuận bằng tài
ứng đối, xướng họa đã góp phần làm tăng vị thế của nước ta trong bang giao
với nhà Tống (Trung Quốc); Thiền sư Đa Bảo và Vạn Hạnh vừa là thầy dạy
vừa có công trong việc đưa Lý Công Uẩn lên ngôi, thiết lập triều Lý, mở đầu
thời kỳ hưng thịnh trong lịch sử phong kiến Việt Nam.
Thời Lý - Trần - Hồ (1010-1497), nhà giáo đóng vai trò chủ yếu trong
đào tạo quan lại cho chính quyền. Chu Văn An là nhà giáo dục tiêu biểu nhất
thời kỳ này.
Ông là người nêu gương mẫu mực về tư cách nhà giáo, trở thành tôn sư
của nền giáo dục Việt Nam. Mặc dù không trực tiếp giảng dạy nhưng tư
tưởng cải cách giáo dục của Hồ Quy Ly cũng có giá trị to lớn không chỉ cho
nền giáo dục đương thời mà cho cả chúng ta ngày nay.
Thời Lê sơ (1428-1527), đội ngũ nhà giáo đóng vai trò quan trọng xây
dựng bộ máy nhà nước tập quyền đủ mạnh để giữ vững nền độc lập của đất
nước. Nhiều hiền tài được đào tạo ra trong thời kỳ này như Lê Văn Hưu, Mạc
Đĩnh Chi, Nguyễn An, Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật,
Hồ Quý Ly, Trần Nguyên Đán, Lương Thế Vinh,….góp phần thúc đẩy sự
phát triển vượt bậc nền văn hóa dân tộc, khoa học-kỹ thuật và tạo nên những
chiến công hiển hách trên mặt trận chống ngoại xâm.Nguyễn Trãi là nhà giáo
tiêu biểu nhất trong giai đoạn này. Ông đóng góp thắng lợi của cuộc khởi
nghĩa Lam Sơn dẫn đến sự ra đời nhà Hậu Lê và đề ra nhiều kế sách để trị
nước, an dân. Nguyễn Trãi cũng là vì sao sáng trong văn học giai đoạn này
với nhiều tác phẩm có giá trị, tiêu biểu là Bình Ngô đại cáo vốn được xem là
bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của đất nước ta.
Thời Lê-Mạc, Trịnh-Nguyễn (từ TK XVI đến TK XVIII), tuy giáo dục
bắt đầu xuống dốc nhưng vẫn có hai nhà giáo tiêu biểu là Lê Quý Đôn và
Nguyễn Bỉnh Khiêm. Lê Quý Đôn có những đóng góp về địa chí, văn hóa và


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
tranh chính trị chống ngụy quyền tay sai và thực dân đế quốc. Đánh giá những
đóng góp to lớn của đội ngũ nhà giáo trong giai đoạn này, Chủ tịch Hồ Chí
Minh khẳng định nhà giáo là những anh hùng vô danh.
Trong giai đoạn hiện nay, đội ngũ nhà giáo là nhân tố quyết định đào
tạo ra con người xã hội chủ nghĩa vốn được Bác xem là điều kiện tiên quyết
và then chốt để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Khi mà giáo dục đào tạo và khoa
học công nghệ là quốc sách hàng đầu của đất nước thì vai trò của đội ngũ
nhà giáo càng trở nên đặc biệt quan trọng. Nhà giáo trở thành người quyết
định tương lai của dân tộc vì sản phẩm mà họ đào tạo ra sẽ là chủ nhân
tương lai của đất nước
1.2.3. Khái niệm về xây dựng và phát triển
Theo Từ điển tiếng Việt "xây dựng" được hiểu theo các nghĩa sau: "1.
Làm nên một công trình kiến trúc theo một kế hoạch nhất định; 2. Làm cho
hình thành một tổ chức hay một chủ thể xã hội, chính trị, kinh tế, văn hóa theo
một phương hướng nhất định; Tạo ra, sáng tạo ra cái có giá trị tinh thần, có
nội dung nào đó". Trong luận văn này chúng tôi vận dụng khái niệm về xây
dựng theo nghĩa thứ 3, tức "xây dựng" là tạo ra cái có giá trị tinh thần, có nội
dung nào đó.
Cũng theo Từ điển tiếng Việt, khái niệm "phát triển" được hiểu là
"Biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao,
đơn giản đến phức tạp".
Từ những cách tiếp cận trên, theo chúng tôi, xây dựng và phát triển bao
hàm cả sự gia tăng về lượng và sự biến đổi về chất, đó là quá trình làm cho số
lượng và chất lượng vận động theo hướng đi lên trong mối quan hệ bổ sung
cho nhau tạo nên giá trị mới trong một thể thống nhất. Xây dựng và phát triển
có mối quan hệ hữu cơ với nhau, xây dựng phải luôn gắn liền với phát triển
và phát triển phải dựa trên cơ sở của thế ổn định.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status