Phân tích tình hình tài chính của công ty TNHH xây dựng vạn mĩ - Pdf 29


Đồ án tốt nghiệp GVHD:Hà Thanh Việt
LỜI MỞ ĐẦU
Tài chính doanh nghiệp là quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền
tệ phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, việc giải quyết tốt các
quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với thò trường tài
chính, giữa doanh nghiệp với nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp
đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá giá trò tài sản cho chủ sở hữu.
Xuất phát từ thực tế của Cơng ty TNHH xây dựng Vạn Mỹ, thiết nghĩ Cơng ty đã
có những phương hướng riêng cho mình trong những năm tới. Nhưng với tư cách là một
sinh viên quản trị doanh nghiệp, em đã đi sâu tìm hiểu phân tích hoạt động sản xuất kinh
doanh của Cơng ty trong những năm gần đây thấy có những bước phát triển đáng kể,
song còn nhiều hạn chế trong các hoạt sản xuất kinh doanh, mà nổi trội hơn hết là hoạt
động tài chính cần đặt ra u cầu cần khắc phục để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, bảo
đảm được nguồn tài trợ cho các hoạt động cần thiết để đẩy mạnh hơn nữa sự phát triển
của Cơng ty trong những năm tới và được sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn,
các thầy cô giáo trong khoa kinh tế và QTKD – Trường Đại Học Quy Nhơn, cán bộ
công nhân viên của Công ty TNHH xây dựng Vạn Mỹ. Do đó, em định hướng lựa
chọn đề tài phân tích tài chính để phát triển thành đồ án tốt nghiệp và đưa ra các biện pháp
khắc phục cho Cơng ty về hoạt động này. Đồ án tốt nghiệp bao gồm 3 chương.
Chương I: Cơ sở lý luận về phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.
Chương II: Phân tích tình hình tài chính của Công ty TNHH xây dựng Vạn Mỹ.
Chương III: Một số biện pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của Công ty
TNHH xây dựng Vạn Mỹ.
Qua đây em xin chân thành cảm ơn ban giám đốc, anh chò em công nhân viên
Công ty TNHH xây dựng Vạn Mỹ, các thầy cô giáo đặc biệt là thầy giáo Hà Thanh
Việt đã tận tình giúp đở, hướng dẫn em hoàn thành đồ án tốt nghiệp này.
Tuy em đã cố gắn nghiên cứu và tìm hiểu, song vốn kiến thức bản thân còn
hạn chế nên không tránh khỏi những sai xót. Kính mong quý thầy cô, bang hội
đồng góp ý để đồ án có chất lượng tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!

doanh nghiệp phải trả lãi vay và vốn vay, trả lãi cổ phần cho các nhà tài trợ. Doanh
nghiệp cũng có thể gửi tiền vào ngân hàng, đầu tư chứng khoán.
* Quan hệ giữa doanh nghiệp với các thò trường khác: Trong nền kinh tế
doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với các thò trường khác trên thò trường hàng hóa,
dòch vụ, thò trường sức lao động. Đây là thò trường mà tại đó doanh nghiệp tiến
hành mua sắm máy móc thiết bò, nhà xưởng, tìm kiếm lao động … Điều quan trọng

Sinh viên thực hiện:Hà Văn Mai Trang 2

Đồ án tốt nghiệp GVHD:Hà Thanh Việt
là thông qua thò trường doanh nghiệp có thể xác đònh nhu cầu hàng hóa và dòch vụ
cần thiết cung ứng. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp hoạch đònh ngân sách đầu tư, kế
hoạch sản xuất, tiếp thò nhằm thỏa mãn nhu cầu thò trường.
* Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp: Đây là quan hệ giữa các bộ phận sản
xuất kinh doanh, giữa cổ đông và giữa người quản lý, giữa cổ đông và chủ nợ, giữa
quyền sử dụng vốn và quyền sở hữu vốn. Các mối quan hệ này được thể hiện thông
qua hàng loạt chính sách về cơ sở vốn và chi phí …
1.1.1.2. Bản chất của tài chính doanh nghiệp.
Tài chính doanh nghiệp được đặc trưng bằng sự vận động tương đối của tiền tệ
với chức năng là phương tiện thanh toán và phương tiện cất giữ trong phương tiện
tạo lập hay sử dụng các quỹ tiền tệ.
Tài chính doanh nghiệp là những phương tiện kinh tế biểu hiện dưới hình thức
giá trò (quan hệ tiền) phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền
tệ nhằm phục vụ quá trình tái sản xuất trong mỗi doanh nghiệp và góp phần tích
lũy vốn cho Nhà nước.
Bất kỳ một doanh nghiệp nào tồn tại và phát triển thì phải thực hiện mục tiêu
của mình. Song mỗi doanh nghiệp có những mục tiêu khác nhau như: tối đa hóa lợi
nhuận, tối đa hóa hoạt động hữu ích của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp … nhưng tất
cả các mục tiêu cụ thể đó đều nhằm mục tiêu bao trùm nhất là tối đa hóa giá trò tài
sản cho chủ sở hữu.

Để đủ vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, tài chính doanh nghiệp phải
tính toán nhu cầu vốn, lựa chọn nguồn huy động vốn, tổ chức huy động và sử dụng
vốn đúng đắn nhằm duy trì và thúc đẩy sự phát triển có hiệu quả quá trình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Nhà nước phải tạo điều kiện, môi trường hoạt động
phong phú và đa dạng để tạo ra vốn và phát triển các loại hình tín dụng, thu hút tối
đa các nguồn vốn nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế xã hội và dân cư, tạo loại hình
vốn vay dồi dào đối với mọi loại hình doanh nghiệp. Tuy nhiên mọi doanh nghiệp
với các hình thức sở hữu trong mọi lónh vực sản xuất, lưu thông, dòch vụ khác nhau
đều có thể huy động từ nhiều nguồn khác nhau.
1.2.2. Chức năng phân phối bằng tiền.
Chức năng phân phối tài chính là quá trình phân phối thu nhập bằng tiền mà doanh
nghiệp đạt được do thu nhập từ bán hàng, doanh nghiệp tiến hành phân phối như sau:

Sinh viên thực hiện:Hà Văn Mai Trang 4

Đồ án tốt nghiệp GVHD:Hà Thanh Việt
Trước tiên phải bù đắp được các chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh
doanh như: hao mòn máy móc thiết bò, trả lương cho người lao động, mua sắm
nguyên vật liệu để tiếp tục cho cho chu kỳ sản xuất kinh doanh mới, thực hiện
nghóa vụ đối với nhà nước. Phần còn lại doanh nghiệp tiến hành phân phối các quỹ
của doanh nghiệp, thực hiện bảo toàn vốn hoặc trả lợi tức cổ phần (nếu có).
Chức năng phân phối tài chính của doanh nghiệp là phân phối thu nhập bằng
tiền của doanh nghiệp. Quá trình phân phối này gắn liền với đặc điểm vốn có của
hoạt động sản xuất kinh doanh và hình thức sở hữu của doanh nghiệp.
1.2.3. Chức năng kiểm tra bằng tiền đối với hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tài chính doanh nghiệp căn cứ vào tình hình thu chi tiền tệ và các khoản chỉ
tiêu phản ánh bằng tiền để kiểm soát tình hình đảm bảo nguồn vốn sản xuất kinh
doanh, tình hình sản xuất kinh doanh và hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Cụ thể qua tỷ trọng, cơ cấu nguồn vốn, việc sử dụng nguồn vốn huy động việc
tính toán các yếu tố chi phí vào giá thành, việc thanh toán công nợ với ngân sách,

- Giúp doanh nghiệp tự đánh giá mình về thế mạnh và thế yếu để cũng cố
phát huy hay khắc phục cải tiến quản lý.
- Phát huy mọi tiềm năng thò trường khái thác tối đa các nguồn lực của doanh
nghiệp nhằm đạt tới hiệu quả cao nhất trong kinh doanh.
- Hạn chế, đối phó với các rủi ro trong kinh doanh.
- Kết quả của phân tích là cơ sở đề ra các quyết đònh quản trò ngắn hạn và dài hạn.
* Đối với nhà đầu tư .
Khác với nhà quản trò các nhà đầu tư quan tâm chủ yếu là khả năng hoàn trả,
mức sinh lãi, khả năng thanh toán vốn và rủi ro. Vì vậy mà họ cần thông tin về điều
kiện tài chính, tình hình hoạt động, về kết quả kinh doanh và các tiềm năng của
doanh nghiệp. Các nhà đầu tư còn quan tâm đến việc điều hành công tác quản lý.
Những điều kiện đó tạo ra sự an toàn và hiệu quả cho các nhà đầu tư.
* Đối với người cho vay .
Mối quan tâm của họ là hướng tới khả năng trả nợ của doanh nghiệp và họ
đặc biệt chú ý đến tài sản có tính thanh khoản cao để từ đó có thể so sánh và biết
được việc thanh toán tức thời của doanh nghiệp.
Như vậy, phân tích tình hình tài chính trở nên cần thiết và đóng vai trò quan
trọng hơn bao giờ hết đối với doanh nghiệp trong nền kinh tế thò trường một thò

Sinh viên thực hiện:Hà Văn Mai Trang 6

Đồ án tốt nghiệp GVHD:Hà Thanh Việt
trường vốn như là một trận mạc thực sự, luôn chứa đựng đầy những cạnh tranh
khốc liệt và tiềm ẩn chính trong lòng nó nhiều rủi ro bất trắc.
* Đối với nhà cung ứng.
Họ quan tâm đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nếu như
sản xuất hàng hóa và dòch vụ mà sản phẩm của họ tiêu thụ kém, hiệu quả sản xuất
kinh doanh thấp thì sẽ gây ảnh hưởng về tâm lý vì vậy họ cần có một thứ gì đó để
đảm bảo cho họ khi cung ứng vật tư.
1.2. Phương pháp phân tích.

trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp .
- So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy mức độ phấn đấu của
doanh nghiệp.
- So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu của trung bình ngành, của
các xí nghiệp khác để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp mình tốt hay
xấu được hay chưa được.
- So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể,
so sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy sự biến đổi cả về số lượng tương
đối và tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp.
1.2.2. Phương pháp phân tích tỷ lệ.
Phương pháp này dựa trên ý nghóa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính
trong quan hệ tài chính. Về nguyên tắc, phương pháp tỷ lệ yêu cầu phải xác đònh
được các ngưỡng, các đònh mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh
nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với các giá trò của các tỷ lệ
tham chiếu .
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính được phân thành
nhóm tỷ lệ đặc trưng, phản ánh nội dung cơ bản theo các mục tiêu hoạt động của
doanh nghiệp. Đó là các tỷ lệ về khả năng thanh toán, nhóm tỷ lệ về cơ cấu vốn và
nguồn vốn, nhóm tỷ lệ về năng lực hoạt động kinh doanh, nhóm tỷ lệ về khả năng
sinh lời.
Mỗi nhóm tỷ lệ bao gồm nhiều tỷ lệ phán ánh riêng lẻ, từng bộ phận của hoạt
động tài chính trong mỗi trường hợp khác nhau, tuỳ theo góc độ phân tích, người
phân tích lựa chọn các nhóm chỉ tiêu khác nhau để phục vụ mục tiêu phân tích của
mình.
2.3. Nguồn số liệu để phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.
Để tiến hành phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp nào đó người ta phải
sử dụng rất nhiều tài liệu khác nhau, trong đó chủ yếu là báo cáo tài chính. Báo

Sinh viên thực hiện:Hà Văn Mai Trang 8



Sinh viên thực hiện:Hà Văn Mai Trang 9

Đồ án tốt nghiệp GVHD:Hà Thanh Việt
quả sử dụng vốn, lao động kỹ thuật và trình độ quản lý sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp trong kỳ báo cáo.
Nội dung chính của báo cáo này là chi tiếc các chỉ tiêu có liên quan đến toàn
bộ kết quả hoạt độnh kinh doanh: các loại doanh thu, các loại chi phí các loại lợi
nhuận. Kết quả này được khái quát bằng đẳng thức tổng quát:
Doanh thu – chi phí = Lãi (lỗ)
Ngoài ra theo quy đònh của Việt Nam, bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh còn có thêm kê khai tình hình thực hiện nghóa vụ của doanh nghiệp đối với
ngân sách nhà nước và tình hình thực hiện thuế GTGT. Phần này phản ánh các
khoản thuế, BHXH, BHYT, KPCĐ và các khoản khác mà doanh nghiệp phải nộp.
1.4. Nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp .
Nội dung phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp bao gồm những công
việc sau:
- Đánh giá khái quát tình hình tài chính.
- Phân tích tình hình biến động tài sản.
- Phân tích tình hình biến động nguồn vốn.
- Phân tích mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn.
- Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán.
- Phân tích khả năng hoạt động.
- Phân tích hiệu quả và khả năng sinh lời.
1.4.1. Đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp .
Đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua bảng cân đối
kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh sẽ cung cấp một cách tổng quát tình hình tài
chính trong kỳ kinh doanh là khả quan hay không khả quan. Điều đó cho phép chủ
doanh nghiệp thấy rõ thực chất của quá trình hoạt động kinh doanh và dự báo được
khả năng phát triển hay chiều hướng suy thoái của doanh nghiệp, trên cơ sở đó có

nghiệp qua các năm và hiệu quả của việc thay đổi vốn đầu tư cho tài sản đối với
việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
- Phân tích hàng ngang: Tính toán mức, tỷ lệ chênh lệch cuối kỳ so với đầu
năm, trên cơ sở đó đánh giá sự biến động về quy mô, tốc độ tăng giảm các chỉ tiêu
giữa các kỳ so sánh.

Sinh viên thực hiện:Hà Văn Mai Trang 11

Đồ án tốt nghiệp GVHD:Hà Thanh Việt
+ Đối với TSLĐ & ĐTNH: Có đặc điểm vận động liên tục từ trạng thái này
sang trạng thái khác. Do vậy, nguyên tắc quan trọng trong quản lý vốn lưu động là
phải vừa đủ nhu cầu, không dư thừa gây ứ đọng. Bên cạnh đó, đánh giá TSLĐ còn
phải xem xét sự biến động của các khoản mục cấu thành nó như vốn bằng tiền, các
khoản phải thu, hàng tồn kho và đầu tư ngắn hạn. Ở đây cần chú ý hai loại tài sản
lưu động các khoản phải thu và hàng tồn kho thường làm ứ đọng vốn lớn làm giảm
hiệu quả trong kinh doanh.
+ Đối với TSCĐ & ĐTDH: Sự biến động của khoản mục này biểu hiện sự đầu
tư thêm về cơ sở vật chất kỹ thuật cho sản xuất, thay đổi quy trình công nghệ,
thanh lý, nhượng bán tài sản cố đònh.
- Phân tích cột dọc (tỷ trọng): Cho thấy mối quan hệ giữa các khoản mục
trong tổng số tài sản và xu hướng biến động của chúng, qua đó đánh giá sự thay
đổi kết cấu so với quy mô chung để thấy được mức độâ hợp lý của việc phân bổ.
Cùng với việc phân tích kết cấu tài sản, ta có thể tính chỉ tiêu tỷ suất đầu tư
nhằm đánh giá một cách khái quát sự thay đổi kết cấu tài sản.
Tỷ suất đầu tư =
TSCĐ & ĐTDH
Tổng tài sản
Đây là tỷ suất phản ánh tình hình trang thiết bò cơ sở vật chất kỹ thuật, năng
lực sản xuất và xu hướng phát triển lâu dài của doanh nghiệp. Tỷ suất đầu tư vào
tài sản dài hạn càng lớn càng thể hiện mức độ quan trọng của tài sản cố đònh trong

Hệ số tự tài trợ =
Nguồn vốn chủ sở hữu
Tổng nguồn vốn
Hệ số tự tài trợ thể hiện khả năng tự chủ về mặc tài chính của doanh nghiệp.
Tỷ suất này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp có tính độc lập cao về mặc tài chính
và ít bò sức ép từ các chủ nợ, doanh nghiệp có nhiều cơ hội tiếp nhận các khoản tín
dụng từ bên ngoài.
1.4.3. Phân tích mối quan hệ cân đối tài sản và nguồn vốn.
Trên thực tế mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn thường xảy ra hai
trường hợp.
* Cân đối 1: Cân đối giữa NVCSH và với các loại TS
Vế trái Vế phải
B.Nguồn vốn CSH A. Tài sản [(I + II + IV + V(2,3) + VI}] + B. tài sản
Trong đó:
B.Nguồn vốn CSH: Nguồn vốn chủ sở hửu.
Tài sản gồm có: A (I. Tiền; II. Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn; IV.
Hàng tồn kho; V(2). Chi phí trã trước; V(3). Chi phí chờ kết chuyển; VI. Chi phí sự
nghiệp và tài sản cố đònh), B. tài sản cố đònh (giá trò còn lại).

Sinh viên thực hiện:Hà Văn Mai Trang 13

Đồ án tốt nghiệp GVHD:Hà Thanh Việt
+Nếu vế trái = vế phải: NVCSH đủ để trang trãi các loại tài sản cho các
hoạt động SXKD mà doanh nghiệp không phải đi chiếm dụng từ các đơn vò khác.
+Nếu vế phải < vế trái: Nguồn vốn CSH của doanh nghiệp không đủ để
trang trãi cho các loại tài sản trong trường hợp này doanh nghiệp phải đi chiếm
dụng vốn từ bên ngoài.
+Nếu vế phải > vế trái: Nguồn vốn CSH của doanh nghiệp không những đủ
để trang trãi cho các loại tài sản mà trong trường hợp này doanh nghiệp bên ngoài
chiếm dụng vốn.

hạn gây ra áp lực thanh toán cho doanh nghiệp. Cho nên khi phân tích tình hình
công nợ cụ thể tại doanh nghiệp cần phân tích áp lực từ các chủ nợ để thấy đươc
các khoản nợ nào có thể trì hoản thời gian trả, các khoản nợ nào đòi hỏi phải trả
đúng hạn. Để từ đó có thể tận dụng chiếm dụng vốn cao nhất và tháo gở khó khăn
trong việc trả nợ. Cần phải chú ý, khi các khoản phải trả chiếm tỷ trọng lớn, nhất
là khi doanh nghiệp không có khả năng trả nợ đúng hạn cho các chủ nợ gây áp lực
lớn thì các khoản nợ đó biểu hiện tình trạng suy yếu trong hoạt động tài chính tại
doanh nghiệp.
Để đánh giá mối quan hệ các khoản phải thu và phải trả ta tiến hành xem
xét tỷ lệ tổng số tiền phải thu so với tổng só tiền phải trả.
Hệ số công nợ =
Các khoản phải thu
Nợ ngắn hạn
+Nếu hệ số công nợ >1: Các khoản phải thu lớn hơn các khoản phải trả
nghóa là doanh nghiệp đang bò chiếm dụng vốn. Điều này không tốt cho doanh
nghiệp song trong một số trường hợp đặc biệt doanh nghiệp phải chấp nhận. Nhưng
trong trường hợp này đòi hỏi doanh nghiệp phải cố gắn khắc phục.
+ Nếu hệ số công nợ <1: Các khoản phải thu nhỏ hơn các khoản phải trả
nghóa là doanh nghiệp đang chiếm dụng vốn của các doanh nghiệp khác, điều này
rất tốt tuy nhiên không nên sử dụng vốn chiếm dụng đầu tư dài hạn để tránh khả năng
thanh toán các khoản nợ ngắn hạn không được đảm bảo.
4.4.2. Phân tích khả năng thanh toán.
Tài chính doanh nghiệp được đánh giá là lành mạnh trước hết phải thể hiện
ở khả năng chi trả, đây là chỉ tiêu được rất nhiều người quan tâm như: Nhà đầu tư,
người cho vay, người cung cấp nguyên vật liệu… Họ luôn đặt câu hỏi liệu doanh
nghiệp có đủ khả năng chi trả các món nợ tới hạn hay không.
Có các chỉ tiêu đánh giá sau:
* Hệ số khả năng thanh toán tổng quát (HSKNTTTQ)
HSKNTTTQ =
Tổng tài sản

hệ số này cũng phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh, từng doanh nghiệp cụ thể và
kỳ hạn thanh toán các khoản nợ.
4.5. Các tỷ số về khả năng hoạt động.
4.5.1. Vòng quay hàng tồn kho.
Vòng quay hàng tồn kho =
Doanh thu thuần

Sinh viên thực hiện:Hà Văn Mai Trang 16

Đồ án tốt nghiệp GVHD:Hà Thanh Việt
Hàng tồn kho bình quân
Vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hóa bình quân luân chuyển trong
kỳ. Đây là chỉ tiêu quan trọng của doanh nghiệp, bởi vì dự trữ có vai trò quan trọng
trong quá trình sản xuất kinh doanh. Hàng tồn kho của doanh nghiệp lớn hay nhỏ
phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố và loại hình kinh doanh. Nói chung tối thiểu dược
hàng tồn kho mà vẫn đáp ứng kòp thời nguyên vâït liệu cho sản xuất và sản phẩm
cho khách hàng là tốt.
4.5.2. Số ngày một vòng quay hàng tồn kho.
Phản ánh số ngày một vòng quay hàng tồn kho
Số ngày một vòng
quay hàng tồn kho
=
Số ngày trong kỳ
Số vòng quay hàng tồn kho trong kỳ
Số ngày một vòng quay hàng tồn kho thể hiện tốc độ luân chuyển hàng tồn
kho. Số ngày một vòng quay hàng tồn kho càng ngắn càng tốt.
1.4.5.3. Kỳ thu tiền bình quân.
Kỳ thu tiền bình quân =
Các khoản phải thu bình quân
Doanh thu thuần

Vòng quay vốn lưu động =
Doanh thu thuần
Vốn lưu động bình quân
Chỉ tiêu này cho thấy TSLĐ của doanh nghiệp được quay bao nhiêu vòng
trong kỳ. Nếu chỉ tiêu này cao cho biết doanh nghiệp sử dụng có hiệu quả TSLĐ,
điều này có nghóa là doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả.
1.4.6. Phân tích các tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp .
Lợi nhuận được coi là mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp, đồng thời cũng là
hiệu quả của các quyết đònh quản trò. Lợi nhuận đặt trong tất cả các mối quan hệ
như: doanh thu, tài sản, vốn chủ sở hữu… Các tỷ số doanh lợi đo lường lợi nhuận
ròng đối với doanh thu thuần, mỗi chỉ tiêu đều cung cấp cho nhà phân tích một ý
nghóa cụ thể để phục vụ cho quyết đònh quản trò.
1.4.6.1. Tỷ suất lợi nhuận thuần trên doanh thu (Doanh lợi tiêu thụ).
Doanh lợi tiêu thụ =
Lợi nhuận sau thuế
X 100%
Doanh thu thuần
Tỷ số này phản ánh cứ một đồng doanh thu thuần thì có bao nhiêu phần trăm lợi
nhuận sau thuế. Sự biến động của chỉ số này phản ánh sự biến động và hiệu quả hay
ảnh hưởng của chiến lược tiêu thụ, nâng cao chất lượng, giá cả sản phẩm …
1.4.6.2. Tỷ suất doanh lợi tài sản (ROA).
ROA =
Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và kết quả của
các tài sản được đầu tư. Là chỉ tiêu tổng hợp nhất để đánh giá khả năng sinh lợi
của một đồng vốn đầu tư của doanh nghiệp.

Sinh viên thực hiện:Hà Văn Mai Trang 18


quản trò cần có biện pháp điều chỉnh phù hợp hoặc đẩy mạnh tiêu thụ để tăng hiệu
suất sử dụng tài sản hay tiết kiệm chi phí để tăng doanh lợi tiêu thụ.
Tiếp theo chúng ta xem xét xác thực hơn nữa đến tỷ lệ sinh lợi trên vốn riêng
của doanh nghiệp được tạo bởi các mối quan hệ sau:
ROE =
Lợi nhuận sau thuế
Vốn CSH bình quân

Sinh viên thực hiện:Hà Văn Mai Trang 19

Đồ án tốt nghiệp GVHD:Hà Thanh Việt
=
Lợi nhuận sau thuế
X
Doanh thu thuần
X
Tổng TS bình quân
Doanh thu thuần Tổng TS bình quân Vốn CSH bình quân

ROE =
Lợi nhuận sau thuế
X
Doanh thu thuần
X
1
Doanh thu thuần Tổng TS bình quân 1 – Hệ số nợ
Khi xem xét mối quan hệ trên ta thấy có ba chỉ tiêu để quản lý doanh lợi vốn
chủ sở hữu:
- Doanh lợi tiêu thụ phản ánh tỷ trọng lợi nhuận sau thuế trong doanh thu
thuần của doanh nghiệp. Khi doanh lợi tiêu thụ tăng lên có nghóa là doanh nghiệp

quyết định số 738/CT-CB-LT đã thơng nhất thành lập Xí nghiệp sản xuất vật liệu và xây
dựng giao thơng Vạn Mỹ. Xí nghiệp sản xuất và xây dựng giao thơng Vạn Mỹ là một đơn
vị hạch tốn kinh tế nội bộ, trực thuộc Cơng ty cơng trình 504, là đơn vị có con dấu riêng
theo mẫu của ngành Cơng an qui định. Xí nghiệp được mở tài khoản tại ngân hàng được

Sinh viên thực hiện:Hà Văn Mai Trang 21

Đồ án tốt nghiệp GVHD:Hà Thanh Việt
tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động tài chính theo phân cấp và ủy quyền
của Cơng ty cơng trình giao thơng 504.
Từ khi mới thành lập, xí nghiệp gặp phải nhiều khó khăn như phần lớn tài sản của
Xí nghiệp được Cơng ty cơng trình giao thơng 504 cung cấp đã bị lạc hậu và q cũ kỹ.
Do đó, trong q trình sản xuất thường bị hư hỏng và sản xuất bị gián đoạn. Còn việc sửa
chữa gặp nhiều khò khăn. Vì vậy việc đẩy mạnh sản xuất gặp nhiều khó khăn và hiệu quả
thấp. Mặt khác Xí nghiệp là đơn vị trực thuộc nên muốn phát triển hay mở rộng quy mơ
sản xuất, cũng như tìm đối tác kinh doanh thì phải thơng qua sự cho phép của Cơng ty
cơng trình giao thơng 504. Do đó Xí nghiệp bị hạn chế trong việc chủ động nắm bắt cơ
hội trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy có sự khó khăn nhất định nhưng nhờ có sự
lãnh đạo, quản lý tốt và sự đồn kết quyết tâm của các bộ phận, tồn bộ cán bộ nhân viên
trong Xí nghiệp trong những năm qua đã giúp cho Xí nghiệp từng bước vượt qua được
những khó khăn đó. Xí nghiệp đã hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng hiệu quả và
tạo được uy tín đứng vững trên thị trường. Đồng thời Xí nghiệp đã từng bước trang bị
được máy móc, phương tiện sản xuất hiện đại đáp ứng được u cầu sản xuất của Xí
nghiệp trong những năm gần đây.
Tuy vậy đến cuối năm 2005, Ban lãnh đạo của Xí nghiệp vẫn chưa được chủ động
trong các quyết định mang tính chất chiến lược định hướng phát triển của Xí nghiệp, bởi
do sự ràng buộc của Cơng ty cấp trên cho nên Ban lãnh đạo của Xí nghiệp đã đề xuất
lên hội đồng quản trị của Cơng ty cổ phần 504 để chuyển đổi hình thức hoạt động từ Xí
nghiệp trực thuộc sang Cơng ty TNHH 1 thành viên. Đề nghị này đã được hội đồng
quản trị của Cơng ty cổ phần 504 phê duyệt vào 10/11/2005.

- Cơng nghệ : thực hiện theo qui trình khai thác đá lộ thiên,trang bị máy móc thiết bị
khai thác của Trung Quốc, Hoa Kỳ và đội xe vận chuyển, xe máy xúc của Nhật Bản.
- Tổng doanh thu(năm 2005): 10.584.611.360đồng.
- Nộp ngân sách nhà nước: 419.854.653 đồng
Qua các thơng số thống kê trên, ta nhân thấy rằng Cơng ty xây dựng TNHH Vạn
Mỹ có quy mơ Doanh nghiệp loại vừa.
Với lịch sử hình thành và phát triển của Cơng ty cho thấy trong những năm qua sự
vươn lên từ một xí nghiệp trực thuộc có quy mơ nhỏ và gặp nhiều khó khăn trong sản
xuất kinh doanh, đến nay đã trở thành Cơng ty TNHH 1 thành viên độc lập về kế tốn
và đã tạo được uy tín trên thị trường. Đây là một thuận lợi để Doanh nghiệp đẩy mạnh
phát triển mở rộng quy mơ những năm tiếp theo.
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của Công ty.
- Công ty TNHH xây dựng Vạn Mỹ có nhiệm vụ khai thác đầy đủ các loại đá
để phục vụ nhu cầu trong tỉnh. Mặt khác Công ty còn nhận thêm các dự án xây
dựng công trình ngoài trong tỉnh .

Sinh viên thực hiện:Hà Văn Mai Trang 23

Đồ án tốt nghiệp GVHD:Hà Thanh Việt
- Công ty phải xây dựng và tổ chức thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch kinh
doanh (dài, trung, ngắn hạn) do cấp trên giao.
- Thực hiện đầy đủ nghóa vụ đối với Nhà nước không ngừng nâng cao trình độ
kỹ thuật và đời sống cán bộ công nhân viên trong Công ty.
- Cải tổ thay thế các sản phẩm cũ, chất lượng, kích thước...những sản phẩm
chưa đạt yêu cầu. Bảo vệ an toàn lao động, hợp vệ sinh môi trường sinh thái và an
ninh trật tự trong sản xuất ...
-Thực hiện phân phối lao động, cân bằng xã hội trên cơ sở những nhiệm vụ
được đề ra.
2.1.3. Công nghệ sản xuất của một số hàng hóa chủ yếu.
Giới thiệu quy trình công nghệ khai thác, sản xuất đá vật liệu.Được trình bày

thuật tiến hành khảo xác xem xét kiểm tra các bước, các tầng đoạn có đúng kỹ thuật hay
khơng.
(2) Khoan nổ mìn phá đá: Sau khi nghiệm thu kỷ thuật của cơng đoạn bóc tầng phủ
thấy đạt u cầu thì các chun viên kỷ thuật, khảo sát tầng, thiết kế các bải khoan nổ.
- Khoan theo nổ thiết kế: Cơng nhân của tổ khoan nổ xem bảng thiết kế và bắt đầu
khoan theo thiết kế (cơng đoạn này đã tạo ra bán thành phẩm)
- Kiểm tra đạt kết quả thực hiện thiết kế xem có đúng kỷ thuật sau khi kiểm tra
xong thì lập hộ chiếu nổ mìn. Hộ hiếu này phải được duyệt mới được thực hiện nổ.
(3) Xúc đá lên phương tiện vân chuyển: Sau khi đã nổ mìn khai thác đá xong thì tổ
xe máy xúc đá lên xe vận chuyển về tổ máy nghiền, sàng.
(4) Nghiền, sàng và phân loại đá: đá vận chuyển từ nơi khai thác được đổ vào tổ
máy nghiền, sàng. Tại đây đá ngun liệu được nghiền hai lần thành đá thành phẩm và
bộ phận sàng lọc sẻ phân loại ra các loại đá qua nhiều lưới lọc có kích thước lỗ lưới
tưng ứng với kích thước đá sản phẩm từng loại.
(5) Xúc đá thành phẩm lên phương tiện vận chuyển: Sau khi đá đã được máy phân
loại thì đẩy ra ngồi thành đống, bây giờ xe cơ giới đến và xe máy xúc đá lên xe và xe
vận chuyển đi.
(6) Vận chuyển thành phẩm về bải chứa (kho): Xe vận chuyển thành phẩm từ bải
sản xuất về đổ bải chứa, thủ kho làm cơng tác kiểm kê và cho đổ vào bải. Ở đây xuất
bán cho các đơn vị khác hoặc giao cho Cơng ty cấp trên khi Cơng ty cổ phần xây dựng
504 cần ngun liệu thi cơng các cơng trình.
2.1.4. Hình thức tổ chức sản xuất và kết cấu sản xuất của Cơng ty.
2.1.4.1. Hình thức tổ chức sản xuất ở Cơng ty.
Cơng ty TNHH xây dựng Vạn Mỹ tổ chức sản xuất theo hình thức chun mơn hóa từng
bộ phận. Tức là mỗi một bộ phận phụ trách một cơng việc nhất định hồn thành trước khi
chuyển qua bộ phận khác. Ví dụ: Bộ phận tổ máy 1 đã sử dụng thành phẩm của bộ phân
khoan nổ mìn, cơng viêc của bộ phận này là vận chuyển đá về nghiền nhỏ và phân thành
nhiều loại đá sử dụng cho đúng với u cầu của khách hàng như: Đá 0,5x1,Đá 1x2, Đá
2X4, Đá 4X6, Đá cấp phối. Mặt khác trong mỗi cơng đoạn chia ra làm nhiều bước cơng
việc theo trình tự hợp lý. Cơng việc tại các khâu làm việc tương đối ổn định, mỗi cơng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status