giới thiệu về Hội đồng nhân dân. - Pdf 29

Môn luật Hiến pháp
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU…………………………………………………………………… 2
NỘI DUNG ………………………………………………………………… 2
I. Khái quát về Hội đồng nhân dân ………………………………………… 2
II. Tổ chức và các hình thức hoạt động của HĐND ………………………... 2
1. Cơ cấu tổ chức……………………………………………………………. 2
1.1. Thường trực HĐND ……………………………………………………. 2
1.2 Các Ban của HĐND …………………………………………………….. 4
2. Hình thức hoạt động ……………………………………………………… 5
2.1 Kỳ họp HĐND …………………………………………………………… 5
2.2 Thường trực hội đồng nhân dân ………………………………………….. 6
2.3 Các Ban của HĐND ……………………………………………………… 6
2.4 Hoạt động của các đại biểu HĐND ………………………………………. 6
III. Thực trạng và phương hướng hoàn thiện tổ chức và hoạt động của HĐND 7
1. Thực trạng …………………………………………………………………... 7
2. Biện pháp, phương hướng hoàn thiện ………………………………………. 9
KẾT LUẬN …………………………………………………………………….. 10
Bài tập học kỳ
1
Môn luật Hiến pháp
MỞ ĐẦU
Trong bộ máy nhà nước ta có hai cơ quan do nhân dân trực tiếp bầu ra đó là Quốc hội
và Hội đồng nhân dân (HĐND). Khác với Quốc hội là cơ quan thay mặt toàn thể nhân dân cả
nước, sử dụng quyền lực nhà nước trên phạm vi toàn quốc, HĐND lại thay mặt nhân dân địa
phương sử dụng quyền lực nhà nước trên phạm vi địa phương mình. Để hiểu rõ hơn về cơ
quan quyền lực nhà nước này chúng ta hãy cùng tìm hiểu về tổ chức và hoạt động của HĐND.
NỘI DUNG.
I - Khái quát về Hội đồng nhân dân.
HĐND là một tổ chức có tính chất quần chúng, bao gồm các đại biểu mọi tầng lớp

HĐND do HĐND cùng cấp bầu ra trong số các đại biểu của mình tại kì họp thứ nhất của mỗi
khóa HĐND.
Lúc đầu thường trực HĐND chỉ thành lập ở cấp tỉnh và huyện gồm chủ tịch, phó chủ
tịch và thư kí. Ở cấp xã không thành lập mà chỉ có Ban thư kí.
- Cơ sở của việc thành lập: Theo quy định của Luật tổ chức HĐND và UBND thì
thường trực HĐND là cơ quan đảm bảo việc tổ chức các hoạt động của HĐND. Trước đó,
Bài tập học kỳ
2
Môn luật Hiến pháp
UBND với tính cách là cơ quan chấp hành của HĐND, là cơ quan hành chính nhà nước ở địa
phương thì đồng thời cũng là cơ quan thường vụ, thường trực của HĐND. UBND thực hiện
tất cả các chức năng gọi là thường vụ, thường trực như: tổ chức việc chuẩn bị và triệu tập các
kì họp HĐND, điều hòa, phối hợp với các ban xây dựng các đề án trình HĐND xét và quyết
định… UBND vừa chịu trách nhiệm trước HĐND, vừa chịu trách nhiệm trước cơ quan hành
chính nhà nước cấp trên nên UBND có tính độc lập, không còn phụ thuộc vào HĐND như lí
luận nêu ra. Đây là nguyên nhân của tình trạng các nghị quyết của HĐND không được tổ chức
thực hiện tốt.
- HĐND đối với UBND chưa có cơ sở pháp lí để phát huy. Nhằm khắc phục tình
trạng này thường trực HĐND được thành lập.
- Thành phần thường trực HĐND: Hiến pháp 1992 và Luật tổ chức HĐND và
UBND năm 1994 có một số thay đổi về tổ chức thường trực HĐND chỉ còn gồm chủ tịch, phó
chủ tịch, không còn chức danh thư kí, không còn coi là cơ quan của HĐND; cấp xã bỏ Ban
thư kí mà thành lập chủ tịch HĐND (có phó chủ tịch). Ngày 26 –11- 2003, Quốc hôi khóa XI,
kì họp thứ IV đã thông qua Luật tổ chức HĐND và UBND ( sửa đổi) theo đó, thường trực
HĐND được thành lập ở tất cả các cấp và do HĐND cùng cấp bầu ra, thường trực HĐND cấp
tỉnh, huyện gồm có chủ tịch, phó chủ tịch và ủy viên thường trực, ở cấp xã vẫn chỉ có chủ tịch
và phó chủ tịch HĐND.
Thường trực HĐND được chọn bầu ra trong số đại biểu theo thể thức: Bầu chủ tịch
HĐND theo sự giới thiệu của chủ tọa kì họp (chủ tọa kì họp này là chủ tịch HĐND khóa
trước, nếu khuyết thì do phó chủ tịch, nếu vẫn khuyết cả 2 thì là triệu tập viên do thường trực

- Tiếp dân, đôn đốc, kiểm tra và xem xét tình hình giải quyết các kiến nghị, khiếu
nại, tố cáo của công dân; tổng hợp ý kiến, nguyện vọng của nhân dân để báo cáo tại kì họp của
HĐND;
- Phê chuẩn kết quả bầu chủ tịch, phó chủ tịch, ủy viên thường trực HĐND cấp
dưới trực tiếp;
- ……
1.2 Các Ban của hội đồng nhân dân
- Mục đích thành lập: Các ban của HĐND là hình thức tham gia tập thể của các
đại biểu HĐND vào việc thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn của HĐND và để giúp HĐND
theo quy định của pháp luật. Các ban được HĐND thành lập theo nhu cầu công tác.
- Vị trí các ban: là cơ quan được lập ra để giúp việc cho HĐND.
Ban của HĐND được thành lập ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc TW, huyện, quận,
thành phố trực thuộc tỉnh và thị xã. Ở cấp xã, phường, thị trấn không có các ban. Theo quy
định của pháp luật hiện hành( Điều 54 Luật tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân
2003) thì HĐND cấp tỉnh thành lập ba ban: Ban kinh tế và ngân sách, ban văn hóa- xã hội, ban
pháp chế.
Ở những tỉnh có nhiều dân tộc có thể thành lập Ban dân tộc để giúp HĐND thực hiện
và giám sát việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước.
HĐND cấp huyện thành lập hai ban: Ban kinh tế - xã hội, ban pháp chế.
Số lượng thành viên mỗi ban do HĐND cùng cấp quyết định. Thành viên của các ban
của HĐND không thể đồng thời là thành viên của UBND cùng cấp. Một điểm mới đáng lưu ý
là luật quy định trưởng ban của HĐND cấp tỉnh, cấp huyện không thể đồng thời là thủ trưởng
cuả các cơ quan chuyên môn của UBND, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, chánh án Tòa
án nhân dân cùng cấp.
Trưởng ban và các thành viên khác của các ban của HĐND do HĐND bầu ra tại kì họp
đầu tiên của mỗi khóa HĐND và được lựa chọn trong số các đại biểu có năng lực kiến thức và
chuyên môn phù hợp với nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi ban.
Nhiệm vụ, quyền hạn của các ban của HĐND:
- Tham gia chuẩn bị các kì họp của HĐND;
- Thẩm tra các báo cáo, đề án do HĐND hoặc thường trực HĐND phân công;

quyết định. Trước ngày họp 30 ngày, Thường trực HĐND họp với UBND, Trưởng phó Ban
của HĐND quyết định chương trình và các vấn đề sẽ bàn và giao cho các cơ quan chuẩn bị.
Các báo cáo, đề án và các vấn đề sẽ bàn tại kì họp do Thường trực HĐND cùng với UBND,
các Ban của HĐND (ở tỉnh, huyện), Chủ tịch UBND cùng Thường trực HĐND (ở xã,
phường, thị trấn) chuẩn bị. Tài liệu cần thiết của kì họp HĐND phải được gửi đến đại biểu
HĐND chậm nhất là 5 ngày trước ngày khai mạc kì họp.
Kì họp thứ nhất của mỗi khóa HĐND có ý nghĩa quan trọng đặc biệt vì tại kì họp này
sẽ tiến hành thẩm tra tư cách đại biểu HĐND, bầu ra Thường trực HĐND, các ban của
HĐND, UBND cùng cấp. Kì họp thứ nhất được triệu tập chậm nhất 30 ngày kể từ ngày bầu
xong đại biểu HĐND. Ở miền núi, nơi nào đi lại khó khăn thì kì họp thứ nhất của HĐND tỉnh
được triệu tập chậm nhất là 45 ngày kể từ ngày bầu cử đại biểu HĐND.
Kì họp thứ nhất của mỗi khóa HĐND do chủ tịch HĐND khóa trước triệu tập và chủ
tọa cho đến khi HĐND bầu được Chủ tịch HĐND khóa mới. Trong trường hợp khuyết Chủ
tịch HĐND thì Phó Chủ tịch HĐND triệu tập kì họp thứ nhất của HĐND khóa mới. Nếu
khuyết cả Chủ tịch và Phó Chủ tịch HĐND thì thường trực HĐND cấp trên trực tiếp chỉ định
triệu tập viên để triệu tập và chủ tọa kì họp cho đến khi HĐND bầu được Chủ tịch HĐND; ở
cấp tỉnh thì do Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ định triệu tập viên.
- Thời gian họp: HĐND họp thường lệ mỗi năm hai kỳ (trước đây ba tháng một
kỳ). Ngoài kỳ họp thường lệ, HĐND còn tổ chức kỳ họp chuyên đề hoặc kỳ họp bất thường
theo đề nghị của chủ tịch HĐND, chủ tịch UBND cùng cấp khi có ít nhất một phần ba tổng số
đại biểu HĐND cùng cấp yêu cầu. Thường trực HĐND quyết định triệu tập kỳ họp thường lệ
của HĐND chậm nhất là 20 ngày, kỳ họp chuyên đề hoặc bất thường chậm nhất là mười ngày
trước ngày khai mạc kỳ họp.
2.2 Thường trực hội đồng nhân dân.
Thường trực HĐND do HĐND cùng cấp bầu ra trong số các đại biểu của mình tại kỳ họp thứ
nhất của mỗi khóa HĐND. Thường trực HĐND được thành lập ở cả 3 cấp tỉnh, huyện, xã.
Thường trực HĐND có những nhiệm vụ, quyền hạn sau:
- Triệu tập và chủ tọa các kỳ họp của HĐND
- Đôn đốc, kiểm tra UBND cùng cấp và các cơ quan nhà nước khác ở địa phương
thực hiện các nghị quyết của HĐND.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status