Các giải pháp giảm thiểu rủi ro trong xuất nhập khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ cho các doanh nghiệp dệt may vừa và nhỏ Việt Nam - Pdf 29

1
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1
NGÀNH CÔNG NGHIỆP DỆT MAY VÀ RỦI RO XUẤT KHẨU
HÀNG DỆT MAY

01
1.1. Tình hình xuất khẩu hàng dệt may của thế giới
01
1.1.1. Vai trò và đặc điểm của ngành dệt may trong nền kinh tế và
thương mại
thế giới

01
1.1.1.1. Vai trò của dệt may trong nền kinh tế thế giới 01
1.1.1.2. Đặc điểm của buôn bán quốc tế hàng dệt may 02
a. Đặc điểm về nhu cầu và tiêu thụ 02
b. Đặc điểm về sản xuất 03
c. Đặc điểm về thò trường 04
1.1.2. Tình hình xuất khẩu hàng dệt may thế giới 04
1.2. Thò trường dệt may Hoa Kỳ và luật lệ liên quan đến hàng dệt
may
09
1.2.1.Thò hiếu thò trường Hoa Kỳ đối với hàng dệt may 09
1.2.2.Tình hình nhập khẩu hàng dệt may của thò trường Hoa Kỳ 11
1.3. Rủi ro xuất khẩu hàng dệt may
13
1.3.1. Khái niệm rủi ro 13

THỰC TRẠNG CÁC RỦI RO TRONG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT
MAY SANG HOA KỲ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
VIỆT NAM 22
2.1. Tình hình xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam
22
2.2. Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào Hoa Kỳ
26
2.3. Rủi ro từ môi trường bên ngoài
30
2.3.1. Cạnh tranh từ các nước đối thủ cạnh tranh 30
2.3.2. Các hàng rào của Hoa Kỳ đối với hàng dệt may Việt Nam 34
2.3.2.1. Chế độ hạn ngạch 34
2.3.2.2. Khai báo xuất xứ hàng dệt may 34
2.3.2.3. Tiêu chuẩn về hàng dễ cháy 35
2.3.2.4. Các quy tắc, luật đònh khác 35
2.3.3. Luật pháp và quy chế của VN lên hàng dệt may xuất khẩu 36
2.4. Rủi ro từ bản thân doanh nghiệp
40
2.4.1. Rủi ro trong đàm phán, soạn thảo, ký kết hợp đồng 40
2.4.1.1. Rủi ro trong khâu đàm phán 40
2.4.1.2. Rủi ro trong khâu soạn thảo và ký kết hợp đồng 42
2.4.2. Rủi ro trong khâu thực hiện hợp đồng 45
2.4.2.1. Rủi ro liên quan đến quota 45
2.4.2.2. Rủi ro trong khâu chuẩn bò hàng hóa xuất khẩu 47
a. Rủi ro trong khâu chuẩn bò nguyên phụ liệu 47
b. Rủi ro trong khâu may và duyệt mẫu 50
c. Rủi ro trong khâu sản xuất 50

a. Bộ phận theo dõi đơn hàng 66
b. Bộ phận xuất nhập khẩu 67
3.2.1.3. Bộ phận kho 68
3.2.1.4. Bộ phận sản xuất 68
a. Bộ phận kỹ thuật (mẫu) 68
b. Bộ phận sản xuất 69
c. Bộ phận kiểm tra chất lượng 70
3.2.1.5. Bộ nhận nhân sự 71
3.2.1.6. Bộ phận kế toán 71
3.2.2. p dụng các tiêu chuẩn quốc tế vào hoạt động sản xuất của
doanh nghiệp
72
3.2.2.1. Hệ thống quản lý chất lượng (ISO – 9001)
72
a. Trách nhiệm lãnh đạo 72
b. Xây dựng hệ thống chất lượng 73
c. Xem xét hợp đồng 73
d. Kiểm soát thiết kế 73
e. Kiểm soát các nguyên phụ liệu do khách hàng cungcấp 73
f. Kiểm soát quá trình 73
g. Kiểm doát sản phẩm không phù hợp 74
h. Hoạt động phòng ngừa và khắc phục 74
i. Xếp dỡ, lưu kho, đóng gói, bảo quản và giao hàng 74
j. Đào tạo 74
3.2.2.2. Trách nhiệm của Công ty đối với xã hội (SA – 8000)
74
a. Lao động trẻ em 75
b. Lao động cưỡng bức 75
c. Sức khoẻ và an toàn 75
4

thò trường Hoa Kỳ

82
3.3. Các kiến nghò đối với Chính phủ, cơ quan quản lý Nhà nước, Bộ,
Ngành
83
3.3.1. Kiến nghò về chức năng tổ chức của Chính phủ, Bộ, ngành 83
3.3.2. Kiến nghò về chức năng hoạch đònh của Chính phủ, Bộ, ngành 84
3.3.2.1. Chính phủ cần phải tăng cường hơn nữa công tác cải
cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa các khâu chứng từ

84
a. Về thủ tục xử lý công văn, yêu cầu, kiến nghò của thương
nhân liên quan đến hạn ngạch

84
b. Về thủ tục cấp visa, C/O hàng dệt may 84
3.3.2.2. Bộ thương mại cần cải tiến trong các tiêu chí phân bổ
hạn ngạch
85
3.3.2.3. Cần triển khai và tăng cường những công tác hỗ trợ cho
doanh nghiệp dệt may

86
a. Hỗ trợ tạo nguồn cung cấp nguyên phụ liệu cho ngành dệt
may
86
b. Các cơ quan liên kết với nhau để tạo điều kiện cho các
5
doanh nghiệp hoạt động dễ dàng hơn 87

nghiệp khác, góp phần nâng cao mức sống và ổn đònh tình hình chính trò xã hội.
Công nghiệp dệt may có liên quan chặt chẽ đến sự phát triển của các
ngành công nghiệp khác. Khi dệt may là ngành công nghiệp hàng đầu của nền
kinh tế, nó sẽ cần một khối lượng lớn nguyên liệu là sản phẩm của các lónh vực
khác và vì thế tạo điều kiện để đầu tư và phát triển các ngành kinh tế này.
Ngược lại, công nghiệp dệt may lớn mạnh sẽ là động lực để công nghiệp dệt
may và các ngành khác sử dụng sản phẩm dệt làm nguyên liệu phát triển theo.
Vai trò của ngành dệt may đặc biệt to lớn đối với kinh tế của nhiều
quốc gia trong điều kiện buôn bán hàng hóa quốc tế. Xuất khẩu hàng dệt may
đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn để mua máy móc thiết bò, hiện đại hóa sản xuất,
làm cơ sở cho nền kinh tế cất cánh. Điều này đặc biệt thể hiện rõ trong lòch sử
6
Ở các nước đang phát triển hiện nay, công nghiệp dệt may đang góp
phần phát triển nông nghiệp và nông thôn thông qua tăng trưởng sản xuất bông,
đay, tơ tằm và là phương tiện để chuyển dòch cơ cấu kinh tế từ kinh tế nông
nghiệp sang kinh tế công nghiệp. Ở các nước công nghiệp phát triển, công
nghiệp dệt may đã phát triển đến trình độ cao hơn, sản xuất những sản phẩm cao
cấp có giá trò gia tăng cao, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao, đa dạng của người
tiêu dùng.
1.1.1.2.
Đặc điểm của buôn bán quốc tế hàng dệt may
a.
Đặc điểm về nhu cầu và tiêu thụ
Trong buôn bán thế giới, sản phẩm của ngành dệt may là một trong
những hàng hóa đầu tiên tham gia vào mậu dòch quốc tế. Hàng dệt may có
những đặc trưng riêng biệt ảnh hưởng rất nhiều đến sản xuất và buôn bán.
Nghiên cứu những đặc trưng nổi bật của thương mại thế giới hàng dệt may là
một trong những yếu tố quan trọng cần thiết để tăng tính cạnh tranh của sản
phẩm, giảm thiểu các rủi ro và đảm bảo xuất khẩu thành công trên thò trường
quốc tế. Thương mại thế giới hàng dệt may có một số đặc trưng nổi bật sau:

mà cung cấp hàng hóa cho phù hợp. Điều này cũng liên quan đến vấn đề thời
hạn giao hàng, nếu như không muốn bỏ lỡ cơ hội xuất khẩu thì hơn bao giờ hết,
hàng dệt may cần được giao đúng thời hạn để cung cấp hàng hóa kòp thời vụ.
-
Thu nhập bình quân đầu người cơ cấu tỉ lệ chi tiêu cho hàng may mặc
trong tổng thu nhập dân cư và xu hướng thay đổi cơ cấu tiêu dùng trong tổng thu
nhập, v.v có tác dụng lớn đến xu hướng tiêu thụ hàng dệt may. Với các thò
trường có mức thu nhập bình quân tỉ lệ chi tiêu cho hàng may mặc cao, yêu cầu
về mẫu mã, kiểu dáng, chất lượng, v.v. sẽ trở nên quan trọng hơn các yếu tố về
giá cả.
b.
Đặc điểm về sản xuất
Công nghiệp dệt may là ngành sử dụng nhiều lao động đơn giản phát
huy được lợi thế của những nước có nguồn lao động dồi dào với giá nhân công
rẻ. Đặc biệt ngành công nghiệp may đòi hỏi vốn đầu tư ít nhưng tỷ lệ lãi khá
cao. Chính vì vậy, sản xuất hàng dệt may thường phát triển mạnh và có hiệu quả
rất lớn đối với các nước đang phát triển và đang ở giai đoạn đầu của quá trình
công nghiệp hóa. Khi một nước trở thành nước công nghiệp phát triển có trình
độ công nghệ cao, giá lao động cao, sức cạnh tranh trong sản xuất hàng dệt may
giảm thì họ lại vươn tới những ngành công nghiệp khác có hàm lượng kỹ thuật
cao hơn, tốn ít lao động và mang lại lợi nhuận cao. Công nghiệp dệt may lại phát
huy vai trò của mình ở các nước khác kém phát triển hơn. Lòch sử phát triển của
ngành dệt may thế giới cũng là lòch sử chuyển dòch của công nghiệp dệt may từ
khu vực phát triển sang khu vực khác kém phát triển hơn do có sự chuyển dòch
về lợi thế so sánh. Như vậy, không có nghóa là sản xuất dệt may không còn tồn
tại ở các nước phát triển mà thực tế ngành này đã tiến đến giai đoạn cao hơn,
sản xuất các sản phẩm có giá trò gia tăng cao.
Sự chuyển dòch lần thứ nhất vào những năm 1840 từ nước Anh sang
châu Âu sau khi ngành công nghiệp dệt may đã giữ vai trò to lớn không chỉ là
nguồn lực chính cho sự phát triển kinh tế của nước Anh mà còn cả của các khu

may Hoa Kỳ (ATMI) cho biết thò phần hàng dệt may của Trung Quốc tại Hoa Kỳ
sẽ nhanh chóng tăng lên 65% đến 75% khi chế độ hạn ngạch được dỡ bỏ vào
năm 2005. Thực tế cho thấy dù vẫn còn bò Hoa Kỳ áp hạn ngạch đối với một số
mặt hàng nhưng hàng dệt may Trung Quốc tại thò trường Hoa Kỳ tính đến tháng
7/2005 đạt tới 850 triệu sản phẩm, tăng trung bình 627% so với cùng kỳ năm
ngoái.
Sự cạnh tranh quyết liệt của hàng dệt may giá rẻ của Trung Quốc đang
là mối lo ngại cho nhiều nước xuất khẩu dệt may, nhất là những nước có ngành
dệt may là ngành then chốt như Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Philippines,
v.v. Riêng tại Hoa Kỳ, các nhà sản xuất hàng dệt may trong nước đã liên tục gây
sức ép lên Chính phủ Hoa Kỳ yêu cầu đòi hỏi phải hạn chế hàng dệt may nhập
khẩu từ Trung Quốc bởi theo họ hàng dệt may nhập khẩu với giá rẻ là một trong
những nguyên nhân làm gia tăng số người thất nghiệp tại Hoa Kỳ, cụ thể gần
400.000 việc làm trong ngành đã bò mất kể từ năm 2001 do tác động của làn
sóng hàng dệt may giá rẻ từ Trung Quốc. Một trong những nét đáng chú ý khác
của ngành dệt thế giới năm 2004 là các công ty sản xuất hàng dệt tiếp tục
chuyển nhà máy hoặc tăng đầu tư vào những thò trường có chi phí thấp hơn,
trong đó tập trung chủ yếu vào Trung Quốc.
Công cụ điều tiết cơ chế thâm nhập thò trường còn lại chỉ còn là thuế
quan. Ngoài ra, các nước thành viên WTO sẽ thảo luận về việc giảm thuế và
cách thức giảm các mức thuế quá cao, thuế cao, tăng thuế theo chương trình phát
triển của vòng đàm phán Dolha. Thò trường hiện bò chi phối với các lợi thế cạnh
tranh giả tạo và buôn bán theo hạn ngạch sẽ được điều chỉnh khi các động lực
của thò trường trở thành những tác nhân quan trọng đối với ngành dệt may. Sự
chuyển dòch căn bản của thò trường hàng dệt may sẽ có tác động đáng kể tới sản
xuất của nhiều nước đang phát triển và các nền kinh tế đang trong thời kỳ
chuyển đổi, đặc biệt là các quốc gia phụ thuộc phần lớn vào xuất khẩu hàng
10
Kể từ năm 2005, sau khi một số nước được dỡ bỏ hạn ngạch như Trung
Quốc, Campuchia khi xuất khẩu sang Hoa Kỳ hay Việt Nam khi xuất khẩu vào

phát triển mà số lượng hàng xuất khẩu hiện không đáng kể, đây sẽ là
một vấn đề khó khăn hơn khi những nước này tham gia hay giữ thò phần
của mình trên thò trường thế giới và tiêu chí sản xuất với số lượng lớn sẽ
trở thành một vấn đề quan trọng. Các nhà nhập khẩu quốc tế lớn không
thể mua hàng từ một nước mà chỉ có một vài công ty sản xuất để đáp
ứng cho thò trường quốc tế.
Những thách thức của thò trường dệt may mới: Do ngành dệt may sẽ hội
nhập hoàn toàn theo hiệp đònh thuế quan và mậu dòch của tổ chức thương mại
thế giới, những nước và công ty thích ứng ngay với thò trường mới sẽ có lợi hơn
trong việc đảm bảo vò thế trên thò trường. Hoạt động minh bạch và các lợi thế
cạnh tranh được quản lý tốt sẽ được quan tâm hơn bao giờ hết. Các nguyên tắc,
động lực và hình thái của thò trường mới được liệt kê dưới đây:
-
Phải cạnh tranh ở các thò trường tiêu thụ đang nổi lên. Thương mại sẽ
không còn bò điều chỉnh bởi các hạn chế về số lượng và do vậy một thò
trường rộng lớn và ngày một phát triển đang mở ra trước mắt các nhà
xuất khẩu. Bên cạnh các thò trường Châu Âu, Bắc Mỹ và Nhật Bản, nơi
cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt và mức tăng xuất khẩu giảm xuống
lại nổi lên các thò trường mới ở những nước Đông Nam Á có mức thu
nhập cao hơn cũng như các nhóm người tiêu dùng với mức thu nhập cao
và trung bình tại các quốc gia đang phát triển khác. Những thò trường
mới này sẽ trở thành những mục tiêu quan trọng cho các nhà sản xuất
hàng dệt may trong tương lai.
-
Khả năng bò mất các thò trường tiêu thụ: Trước mắt, Châu Âu và Bắc
Mỹ vẫn là các thò trường tiêu thụ hàng dệt may quan trọng nhất, chiếm
hai phần ba trong tổng lượng nhập khẩu hàng dệt may toàn thế giới. Tuy
nhiên, khi hệ thống hạn ngạch bò bãi bỏ, nhiều nước xuất khẩu nhỏ sẽ bò
mất các thò trường này. Nghiên cứu của Bộ thương mại Hoa Kỳ tại hội
nghò hàng dệt may tổ chức tại Caucus cho thấy các thò trường sẽ giảm

trong tương lai hàng nhập khẩu có thể sẽ phải chòu mức thuế chống phá
giá, đây là một biện pháp thường được biết đến với tên gọi “hạn chế
thương mại”. Mặc dù các nước đang phát triển đang bày tỏ mối lo ngại
về các biện pháp chống phá giá thì các ngành công nghiệp của Hoa Kỳ
và EU vẫn đang trực tiếp sử dụng các biện pháp này
-
Kiểm tra hải quan thường xuyên hơn: Các nhà sản xuất hàng dệt may
thường bò các nhân viên hải quan của nước nhập khẩu kiểm tra ngẫu
nhiên các lô hàng xuất khẩu để đảm bảo không có các hoạt động chuyển
tải. Nếu một công ty không thể cung cấp các thông tin cần thiết, hải
quan sẽ tự động cấm công ty này xuất khẩu sang thò trường Hoa Kỳ hoặc
EU. Dự kiến tới năm 2005 “số lần xác minh sản phẩm” sẽ gia tăng.
Ngoài ra, các yêu cầu về tăng cường an ninh kiểm tra hàng nhập khẩu
13
-
Các tiêu chuẩn về đạo đức đang gia tăng: Nguy cơ về việc sử dụng lao
động trẻ em tại các thò trường lớn đang ngày một lan rộng. Các tổ chức
phi chính phủ ở phương Tây, các phương tiện truyền thông và các tổ
chức công đoàn ủng hộ các nhà cung cấp không sử dụng lao động trẻ em
thông qua việc nâng cao nhận thức cho người tiêu dùng tại các thò trường
này. Điều này đang tạo ra áp lực cho các nhà nhập khẩu nước ngoài khi
mua hàng phải đảm bảo nguồn cung cấp không sử dụng lao động trẻ em.
Những quy đònh về việc nguồn cung cấp phải đảm bảo tính đạo đức được
áp dụng cho tất cả các nhà sản xuất ở các nước đang phát triển và thậm
chí áp dụng những quy tắc chặt chẽ này nếu không họ sẽ bò công chúng
tẩy chay.
-
Điều kiện môi trường, đạo đức xã hội trở thành một rào cản thương mại
mới: Các nhà sản xuất hàng dệt may từ các nước đang phát triển đang
ngày càng đối mặt với các yêu cầu về môi trường và đạo đức xã hội.

xuân là lớn nhất, do đó, các nhà phân phối phải chuẩn bò và đầu tư kỹ càng để
có đáp ứng nhu cầu tiêu thụ tăng cao của người tiêu dùng trong mùa này. Do tính
cách chung của người Hoa Kỳ là năng động và thích thoải mái nên loại vải ưa
thích của thò trường này là vải Jeans, kế đến là vải ka-ki, và một số loại vải
tương tự. Hàng dệt may đáp ứng cho đối tượng nữ từ 18 - 35 tuổi chiếm tỷ lệ rất
cao, đến khoảng 80% trong tổng số tiêu thụ của cả nước Hoa Kỳ. Tỷ lệ này ổn
đònh đối với hàng may mặc ở bất kỳ nhóm giá nào. Điều này được chứng minh
rõ nhất khi nhà phân phối hàng đầu Hoa Kỳ, Wal – Mart đã tiêu thụ được hàng
may mặc cho đối tượng nữ từ 18 – 35 tuổi với tỷ lệ 85% ở các siêu thò đại trà
cũng như trong các cửa hàng độc quyền và cao cấp của họ.
Theo phân tích của ông Akiva Zaslansky, phó tổng giám đốc công ty
Statement Inc., một người có đến hơn 20 năm kinh nghiệm trong lónh vực dệt
may ở thò trường Hoa Kỳ thì thò trường hàng dệt may Hoa Kỳ được chia thành ba
loại: “Bình dân”, “Trung”, và “Cao cấp”.
Nhóm hàng “Bình dân” gồm có nhóm hàng giá rẻ bán trong các cửa
hàng hạ giá (discounters) và nhóm hàng là sản phẩm thương hiệu riêng (không
nổi tiếng). Nhà phân phối cho nhóm sản phẩm này là Target, Wal Mart, K Mart,
v.v
Hai nhóm hàng còn lại, hàng “Trung” và “Cao cấp” chủ yếu được bán
trong các cửa hiệu sang trọng, các trung tâm thương mại, là các mặt hàng giá
cao, chất lượng cao. Ví dụ như: Colombia Sport, JC Penney, Levi’s, Gap …
Nói chung, người tiêu dùng ở thò trường Hoa Kỳ không có sự phân biệt
đối với hàng được sản xuất ở Hoa Kỳ hay ở các nước khác cũng như không có sự
phân biệt đối với hàng được nhập khẩu từ Việt Nam hay Trung Quốc mà họ chỉ
quan tâm đến chất lượng và mẫu mã. Thật ra, việc chọn lựa nhà máy sản xuất là
do các nhà phân phối và cũng tùy thuộc vào yêu cầu của loại hàng đó về thời
gian sản xuất và bày bán. Nếu loại hàng có yêu cầu thời gian sản xuất và giao
15
Việc phân phối sản phẩm chủ yếu ở thò trường này là thông qua các cửa
hàng siêu thò (chiếm 27,2%), tiếp đến là các cửa hàng quần áo chuyên dụng, các

4.2
4.5
3.9
0
1
2
3
4
5
T1 T2 T3 T4 T5 T6 T7 T8 T9 T10 T11 T12
2004
2005

(Nguồn: Thông tin thương mại số ra ngày 05/09/2005)
Tính chung, nửa đầu năm nay kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may của
Hoa Kỳ đạt 42,3 tỷ USD, tương
đương với 24,6 tỷ m
2
, tăng 10,98% về trò giá và
9,13% về khối lượng so với cùng kỳ năm ngoái. Hàng dệt may của Trung Quốc
chiếm tới 32% tổng khối lượng hàng dệt may nhập khẩu của Hoa Kỳ trong nửa
đầu năm nay.
16
Ấn Độ và Bangladesh đã là đối thủ của Trung Quốc trong nửa đầu năm
nay cùng với Sri Lanka, Jordan,
Pakistan và Cambodia, Hong Kong, Đài Loan,
Hàn Quốc và Nga là nạn nhân của việc dỡ bỏ hạn ngạch.
Bảng 1: Kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may của Hoa Kỳ từ năm
2003 - 6 tháng đầu năm 2005 (tỷ USD)


5
6
7
8
9
T1 T2 T3 T4 T5 T6 T7 T8 T9 T10 T11 T12
Năm2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm 200517
(Nguồn: Thông tin thương mại số ra ngày 05/09/2005)
Tuy nhiên,
nhập
khẩu hàng dệt may từ Trung Quốc vẫn tiếp tục tăng
trước khi Hoa Kỳ thực hiện lệnh cấm vào tháng 7. Tính riêng tháng 6, nhập khẩu
từ Trung Quốc tăng 14,5% và tính chung 6 tháng đầu năm tăng 47%. Thò phần
của Trung Quốc tại thò trường dệt may Hoa Kỳ năm 2004 là 15% nhưng đến
tháng 6/ 2005 đã lên đến 35%. Cũng trong 6 tháng đầu năm, nhập khẩu từ n
Độ tăng 24%, từ Bangladesh tăng 20%. Do Hoa Kỳ vẫn duy trì hạn ngạch đối
với các sản phẩm dệt may Việt Nam nên Bangladesh không phải chòu sự cạnh
tranh từ một nước cung cấp hàng giá rẻ. Cũng trong khoảng thời gian này, nhập
khẩu từ Pakistan và Sri Lanka tăng 6% và 13%, từ Jordan (miễn thuế tăng 28%.
Nhập khẩu từ Trung Mỹ không giảm mặc dù khu vực này đã bò mất thò phần tại
Hoa Kỳ; ngược lại, nhập khẩu từ Hong Kong giảm 24%, từ Đài Loan và Hàn
Quốc cũng giảm mạnh.
Biểu đồ 3: Thò phần hàng dệt may nhập khẩu của Mỹ
(% - tỷ trọng tính theo khối lượng)
Trung Quốc 32
Mexico 8
Canada 6.4

Inrving Perfer (Mỹ) lại cho rằng: "Rủi ro là tổng hợp những sự cố ngẫu
nhiên có thể đo lường bằng xác xuất".
Marilu Hurt McCarty thuộc viện khoa học kỹ thuật Geogia (Mỹ), trong
tác phẩm "Managerial Econom with Applications" xuất bản năm 1986 thì cho
rằng: "Rủi ro là một trạng thái trong đó các biến cố xảy ra trong tương lai có thể
xác đònh được".
Ngoài ra một số học giả trong nước cho rằng:
-
Rủi ro là sự bất trắc gây ra mất mát.
-
Rủi ro là sự biến động tiềm ẩn ở kết quả.
-
Rủi ro là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển
của doanh nghiệp.
-
Rủi ro là sự không chắc chắn về tổn thất.
Như vậy, theo các khái niệm trên thì rủi ro có thể đo lường được, có thể
xác đònh được và từ đó có thể lường trước và phòng ngừa cũng như hạn chế ở
mức tối đa.
Từ những khái niệm trên, có thể đi đến khái niệm về rủi ro như sau:
"Rủi ro xuất khẩu là những bất trắc có thể xảy ra ngoài ý muốn trong
quá trình kinh doanh xuất khẩu, gây thiệt hại cho doanh nghiệp xuất khẩu".
19
1.3.2. Phân loại rủi ro xuất khẩu
Để dễ dàng trong việc nhận biết các rủi ro, phân tích nguyên nhân cũng
như đưa ra các biện pháp phòng ngừa rủi ro, việc phân loại dựa theo các yếu tố
khách quan và chủ quan được lấy làm cơ sở cho phân tích đề tài
1.3.2.1.
Nhóm rủi ro xuất khẩu do các yếu tố khách quan mang lại

gặp các rủi ro do các biến động kinh tế. Rủi ro lạm phát là một điển hình trong
20
Trong kinh doanh xuất khẩu, thời gian kể từ khi tính toán hiệu quả của
thương vụ xuất khẩu đến khi nhận tiền hàng thanh toán từ khách hàng nước
ngoài tương đối dài, trung bình 30 đến 45 ngày. Do vậy, xác suất xảy ra lạm phát
là không phải nhỏ.
c.
Rủi ro hối đoái
Rủi ro hối đoái là sự không chắc chắn về một khoản thu nhập hay chi trả
do biến động tỷ giá gây ra, có thể làm tổn thất đến giá trò dự kiến của hợp đồng.
Trong hoạt động xuất khẩu, rủi ro xuất khẩu xảy ra khi ngoại tệ mà doanh
nghiệp xuất khẩu nhận được trong tương lai giảm giá so với đồng nội tệ. Nghóa
là tiền thu về được qui đổi ra đồng nội tệ giảm so với dự kiến.
Như vậy sự biến động của tỷ giá làm cho các hợp đồng trở nên không
chắc chắn, doanh nghiệp xuất khẩu cần có các biện pháp nghiệp vụ trên các thò
trường tiền tệ để hạn chế những rủi ro do sự biến động của tỷ giá gây nên.
d.
Rủi ro do chính sách ngoại thương thay đổi
Chính sách ngoại thương là hệ thống các nguyên tắc, biện pháp kinh tế,
hành chính, luật pháp nhằm điều tiết các hoạt động mua bán quốc tế của một
nhà nước trong một giai đoạn nhất đònh.
Hầu hết các chính sách ngoại htương của các nước thay đổi đổi theo các
giai đoạn tùy theo mục đích, đònh hướng của nhà nước đó trong từng thời kỳ
khác nhau. Sự thay đổi thường xuyên của các đònh chế này là một đe dọa lớn
cho các doanh nghiệp xuất khẩu vì các doanh nghiệp này không chỉ chòu rủi ro
do sự thay đổi chính sách ngoại thương trong nước mà còn chòu ảnh hưởng bởi
chính sách ngoại thương của các nước bạn hàng nhập khẩu.
Trong rủi ro do sự thay đổi chính sách ngoại thương, doanh nghiệp xuất
khẩu có thể gặp nhiều rủi ro khác nhau nhưng cơ bản vẫn là những rủi ro về qui
đònh hạn ngạch, thủ tục hải quan, thuế xuất nhập khẩu và các qui đònh hành

Hơn nữa, việc không nắm bắt được những biến động giá cả trên thò trường thế
giới, nhiều doanh nghiệp đã ký hợp đồng với giá thấp đến khi giá trên thò trường
thế giới tăng vọt, làm cho giá trong nước của mặt hàng đó tăng theo, khiến
doanh nghiệp bò lỗ. Chính vì thế, với sự bùng nổ thông tin như hiện nay, để nhận
biết và tránh những sai lệch thông tin không còn cách nào khác là doanh nghiệp
cần phải coi việc thiếu thông tin là một trong những yếu tố chủ yếu đem lại rủi
ro cho mình.
c. Rủi ro do năng lực quản lý kém
Đây là rủi ro được xem không có phương thuốc hữu hiệu nào chữa trò
được. Một nhà xuất khẩu có năng lực quản lý kém sẽ liên tục gặp những rủi ro
khác nhau: tưởng làm như vậy là kòp thời nhưng thực tế là quá trễ, tính toán như
vậy tưởng là lời nhưng thực tế là lỗ to, quan hệ với khách hành như vậy cứ nghó
khách hàng hài lòng nhưng thực tế khách hàng rất thất vọng,… Từ những quyết
đònh sai lầm, vội vã, không tính toán kỹ sẽ làm cho doanh nghiệp gặp phải rủi ro
gây thiệt hại tài sản hay mất uy tín với khách hàng. Nếu tình trạng này vẫn cứ
22
d.
Rủi ro do thiếu trình độ chuyên môn nghiêp vụ
Có thể nói, hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam
còn thiếu nhân viên có trình độ nghiệp vụ ngoại thương, nhất là các doanh
nghiệp vừa và nhỏ. Sự thiếu hiểu biết về luật pháp và tập quán kinh doanh quốc
tế mà biểu hiện là sự hố giá, nhầm chất lượng, thiếu số lượng, vi phạm giao kết
trong hợp đồng và L/C,… Một khi trình độ nghiệp vụ của nhân viên ngoại thương
còn yếu kém thì họ dễ dàng bò mắt lừa và hậu quả là rủi ro phát sinh thường
xuyên và liên tiếp xảy ra.
1.4.
KINH NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC TRONG VIỆC KIỂM SOÁT
RỦI RO XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY
Trung Quốc là cường quốc dệt may lớn nhất thế giới, hiện là quốc gia có
đầu tư lớn nhất về dệt nhuộm. Theo số liệu của Bộ Ngoại thương Trung Quốc,

doanh nghiệp dệt may Trung Quốc
Hạn chế khả năng giao hàng trễ do các nguyên nhân phụ liệu
nhập khẩu, vải nhập khẩu, v.v bằng cách tận dụng các nguồn nguyên
phụ liệu dồi dào sẵn có trong nội đòa.
Ngoài ra, để tối thiểu khả năng giao hàng trễ hạn, các doanh
nghiệp Trung Quốc vận dụng hiệu quả Logistic trong sản xuất hàng dệt
may từ khâu đặt, vận chuyển nguyên phụ liệu về nhà máy đến sản xuất
và giao hàng.
Các doanh nghiệp tránh phụ thuộc nhiều vào các khách hàng
nước ngoài về mẫu mã, thiết kế bằng cách đầu tư vào thiết kế, mẫu mã
và các sản phẩm giá cao, cũng như chiến lược hiện đại hóa ngành dệt
may sẽ trở thành lợi thế cạnh tranh mới của ngành. Với lợi thế về nhân
công, thò trường và khả năng thu hút vốn lớn so với các nước xuất khẩu
khác, Trung Quốc có khả năng cung cấp dòch vụ tốt hơn, nhanh hơn,
thích ứng linh hoạt hơn với sự thay đổi mẫu mã, khả năng đáp ứng tiêu
chuẩn của khách hàng tốt hơn.
1.4.2. Kinh nghiệm kiểm soát rủi ro trong xuất khẩu hàng dệt may của
chính phủ Trung Quốc
Nhằm giúp các doanh nghiệp dệt may giảm thiểu rủi ro trong
xuất khẩu, họ đã tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp về các thủ
tục hành chính được thực hiện đơn giản, khuyến khích xuất khẩu, v.v:
Hiện tại xuất khẩu dệt may được Chính phủ Trung Quốc cho tự
do hóa tối đa. Trước 1/6/2005, đối phó với áp lực của EU và Hoa Kỳ đối
với hàng dệt may của Trung Quốc, Trung Quốc đã đánh thuế xuất khẩu
10 mặt hàng. Bắt đầu từ 1/6, các thuế này được hoàn toàn dỡ bỏ. Về các
biện pháp phi quan thuế, chỉ có hàng tơ lụa phải chòu quản lí bằng giấy
phép xuất nhập để giám sát tiến trình xuất khẩu, còn lại đều xuất tự do.
Việc quản lý xuất khẩu tơ lụa nhằm hạn chế việc giảm giá xuất khẩu
dẫn tới giảm kim ngạch xuất khẩu.
24

doanh nghiệp và sản phẩm. Nhờ nỗ lực đàm phán trong suốt thời
gian dài của Chính phủ, ngành dệt may của Trung Quốc đã được
dỡ bỏ hạn ngạch xuất khẩu vào các thò trường, đặc biệt là Hoa
Kỳ và EU; hệ thống doanh nghiệp được cơ cấu lại, tập trung
năng lực cạnh tranh những tập đoàn dệt may lớn để gia tăng khả
năng xâm nhập những thò trường lớn khi được dỡ bỏ hạn ngạch;
các sản phẩm luôn được quan tâm đầu tư vào mẫu mã, kiểu
dáng, trong đó khâu thiết kế luôn được coi trọng trong khi giá
thành sản phẩm ngày càng hợp lý.
25
• Về chính sách xuất, nhập khẩu: Trung Quốc áp dụng chính sách
khuyến khích xuất khẩu tự do hóa tối đa nhưng có quản lý và đối
với chính sách nhập khẩu, duy trì mức thuế nhập khẩu trung bình
11.4%, mức này còn thấp hơn mức 12% của WTO quy đònh cho
các nước thành viên, Trung Quốc chỉ duy trì hạn ngạch với sợi
bông hóa học và lông cừu, còn các mặt hàng khác đều tự do
nhập khẩu.

Kết luận chương I: Dệt may là một trong những ngành chiếm tỉ trọng
xuất nhập khẩu không chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với tổng kim ngạch xuất
nhập khẩu của thế giới. Với tỷ lệ nhập khẩu chiếm đến hơn 50% tổng nhập khẩu
hàng may mặc của thế giới, thò trường Hoa Kỳ là thò trường mục tiêu của nhiều
nước, trong đó có Việt Nam. Và cũng như các ngành công nghiệp khác, các doanh
nghiệp dệt may sẽ gặp rất nhiều rủi ro trong sản xuất và xuất khẩu. Thêm vào đó,
hàng dệt may mang tính thời vụ nên yêu cầu về thời gian giao hàng được đặt lên
hàng đầu, nhà sản xuất sẽ bò phạt nặng khi không đảm bảo được thời hạn giao
hàng đã thoả thuận. Do đó, khả năng gặp rủi ro của các doanh nghiệp dệt may là
rất lớn. Chính vì vậy, yêu cầu về việc nhìn nhận lại những rủi ro doanh nghiệp đã
mắc phải và tìm hướng giải quyết, hạn chế các rủi ro đó trong tương lai là một
yêu cầu cấp thiết để các doanh nghiệp dệt may có thể tồn tại và phát triển mạnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status