Lời mở đầu !
Từ khi đất nớc ta chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang
nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc đã mở ra những cơ hội và thách
thức mới cho các doanh nghiệp .Để tồn tại và phát triển trong môi trờng rộng lớn ,
giàu tiềm năng nhng cũng đầy rủi ro mạo hiểm này, các doanh nghiệp luôn phải
nắm bắt đợc những biến động trên thị trờng và có kế sách ứng phó kịp thời .Đặc
biệt ,cạnh tranh gay gắt buộc các doanh nghiệp phải phát huy mọi lợi thế của
mình, hợp lý hoá toàn bộ quá trình sản xuất -kinh doanh .
Phân tích tài chính doanh nghiệp là một bộ phận của hoạt động sản xuất
kinh doanh và có mối quan hệ trực tiếp tới hoạt động sản xuất kinh doanh .Phân
tích tài chính của một doanh nghiệp giúp chúng ta có cái nhìn chung nhất về thực
trạng tài chính của doanh nghiệp đó ,giúp các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp
xác định đợc trọng điểm trong công tác quản lý tài chính , tìm ra những giải pháp
tài chính hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp .Do vậy ,phân tích tài chính doanh nghiệp là mối quan tâm hàng
đầu của nhiều đối tợng .Mỗi đối tợng này có nhu cầu sử dụng thông tin khác
nhau song họ đều hớng tập trung vào những khía cạnh riêng trong bức tranh tài
chính của doanh nghiệp
Là một sinh viên chuyên ngành tài chính với những kiến thức đã học em
nhận thức đợc tầm quan trọng của việc phân tích tài chính doanh nghiệp . Sau
một thời gian ngắn thực tập
tại Công ty May 10 ,với mong muốn tìm hiểu đợc
sâu hơn tình hình tài chính của công ty để tìm giải pháp góp phần cải thiện tình
hình tài chính của công ty ,em đã chọn đề tài : Phân tích tài chính Công ty
May 10 làm đề tài cho chuyên đề thực tập của mình .
Chuyên đề thực tập gồm ba phần chính :
Chơng 1 : Tổng quan về phân tích tài chính doanh nghiệp .
Ch
ong
2 : Phân tích tài chính Công ty May 10 .
2
Đây là quan hệ giữa các bộ phận sản xuất- kinh doanh, giữa cổ đông và
người quản lý, giữa cổ đông và chủ nợ, giữa quyền sử dụng vốn và quyền sở
hữu vốn. Các mối quan hệ này được thể hiện thông qua hàng loạt chính sách của
doanh nghiệp như : chính sách cổ tức (phân phối thu nhập), chính sách đầu tư,
chính sách về cơ cấu vốn, chi phí ….
Cơ sở tài chính doanh nghiệp :
Một doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động sản xuất - kinh doanh, cần
phải có một lượng tài sản phản ánh bên tài sản của Bảng cân đối kế toán. Nếu
như toàn bộ tài sản do doanh nghiệp nắm giữ được đánh giá tại một thời điểm
nhất định thì sự vận động của chúng – kết quả của quá trình trao đổi – chỉ có thể
được xác định cho một thời kỳ nhất định và được phản ánh trên Báo cáo kết quả
sản xuất kinh doanh. Quá trình hoạt động của các doanh nghiệp có sự khác biệt
đáng kể về quy trình công nghệ và tính chất hoạt động . Sự khác biệt này phần
lớn do đặc điểm kinh tế kỹ thuật của từng doanh nghiệp quyết định. Cho dù có
sự khác biệt này, người ta vẫn có thể khái quát những nét chung nhất của các
doanh nghiệp bằng hàng hoá, dịch vụ đầu ra.
Mục tiêu tài chính doanh nghiệp :
Một doanh nghiệp tồn tại và phát triển vì nhiều mục tiêu khác nhau như :
Tối đa hoá lợi nhuận , tối đa hoá đoanh thu trong ràng buộc tối đa hoá lợi
nhuận , tối đa hoá hoạt động hữu ích của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp.., song
tất cả các mục tiêu cụ thể đó đều nhằm mục tiêu bao trùm nhất là tối đa hóa giá
trị tài sản cho các chủ sở hữu . Bởi lẽ, một doanh nghiệp phải thuộc về các chủ
sở hữu nhất định ; chính họ phải nhận thấy giá trị đầu tư của họ tăng lên ; khi
doanh nghiệp đặt ra mục tiêu là tăng giá trị tài sản cho chủ sở hữu, doanh
nghiệp đã tính tới sự biến động của thị trường, các rủi ro trong hoạt động kinh
doanh. Quản lý tài chính doanh nghiệp chính là nhằm thực hiện được mục tiêu
đó.
Các quyết định tài chính trong doanh nghiệp : quyết định đầu tư, quyết
Phân tích tài chính doanh nghiệp giúp người sử dụng thông tin đưa ra các
quyết định tài chính, quyết định quản lý phù hợp. Phân tích tài chính để đưa ra
các quyết định thì cần phải cân nhắc tính toán tới các rủi ro và khả năng sinh lời
của doanh nghiệp. Giữa hai yếu tố doanh lợi và rủi ro luôn có mối tương quan
nhất định là rủi ro càng cao thì doanh lợi kỳ vọng càng cao và ngược lại. Mối
quan tâm hàng đầu của các nhà phân tích tài chính là đánh giá rủi ro phá sản sẽ
tác động tới các doanh nghiệp mà biểu hiện của nó là khả năng thanh toán, khả
năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năng sinh lời của doanh
nghiệp. Việc phân tích tài chính là cơ sở để dự đoán tài chính doanh nghiệp.
1.2.2 Sự cần thiết khách quan của phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính được các nhà quản lý chú ý từ cuối thế kỷ 19. Cho đến
nay, công việc này thực sự được phát triển và chú trọng hơn bao giờ hết bởi nhu
cầu quản lý doanh nghiệp có hiệu quả ngày càng tăng cùng với sự phát triển
mạnh mẽ của hệ thống tài chính, các tập đoàn kinh doanh tài chính khổng lồ và
việc ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin.
Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay, phân tích tài chính vẫn là một lĩnh vực
mới mẻ với nhiều doanh nghiệp và đang được các nhà quản lý tài chính quan
tâm, chú ý. Cùng với sự mở cửa hội nhập của nền kinh tế, các doanh nghiệp
luôn luôn phải chạy đua vươn lên tồn tại và phát triển. Do vậy, đòi hỏi cần phải
có một tiềm lực tài chính vững mạnh, tạo tiền đề vững chắc để doanh nghiệp
kinh doanh có hiệu quả.
Phân tích tài chính doanh nghiệp là một bộ phận của hoạt động sản xuất
kinh doanh và có mối quan hệ trực tiếp tới hoạt động sản xuất kinh doanh. Nó
phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp hiện đang tốt hay xấu, để từ đó
giúp doanh nghiệp vạch ra được hướng đi đúng đắn nhất.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc phân tích tài chính, nên các
doanh nghiệp cần phải quan tâm hơn nữa tới lĩnh vực tài chính của doanh nghiệp
mình.
1.2.3. Mục tiêu và ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp
6
trước hết là ban giám đốc, các nhà đầu tư, các chủ nợ, các tổ chức ngân hàng,
các đối tác,... đặc biệt là cơ quan chủ quản của Nhà nước và người lao động.
Mối nhóm người này có nhu cầu sử dụng thông tin khác nhau song họ đều
hướng tập trung vào những khía cạnh riêng trong bức tranh tài chính của doanh
nghiệp.
* Đối với nhà quản trị tài chính doanh nghiệp
Họ tiến hành nghiên cứu các hoạt động tài chính gọi là phân tích tài chính
nội bộ. Do ở trong doanh nghiệp nên các nhà quản lý có các thông tin đầy đủ về
doanh nghiệp, họ có lợi thế phân tích tài chính tốt nhất. Trên cơ sở kết quả thu
được từ phân tích tài chính, các nhà quản lý sẽ cân nhắc ra quyết định đầu tư,
cũng như quyết định tài trợ cho các hình thức đầu tư đó như thế nào để đạt được
hiệu quả cao nhất. Công tác phân tích tài chính cũng là cơ sở để nhà phân tích
đánh giá tình hình mọi mặt hoạt động của doanh nghiệp có hiệu quả hay không,
lãi hay lỗ ở mức nào, cơ cấu vốn có hợp lý không, khả năng thanh toán có đảm
bảo không,... nhà quản lý cũng thông qua đó để ra các quyết định phân chia lợi
tức thu được.
* Phân tích tài chính đối với nhà đầu tư
Các nhà đầu tư tài chính là các tổ chức và cá nhân có nhu cầu đầu tư vốn
cho doanh nghiệp, chấp nhận cùng chịu rủi ro. Thu nhập của họ là tiền chia lợi
tức và giá trị tăng thêm của vốn đầu tư .Hai yếu tố này chịu ảnh hưởng của lợi
nhuận kỳ vọng của doanh nghiệp. Các nhà đầu tư lớn thường dựa vào các nhà
chuyên môn, những nhà nghiên cứu kinh tế tài chính thực hiện việc nghiên cứu
phân tích tài chính để phân tích và làm rõ triển vọng của doanh nghiệp cũng như
đánh giá cổ phiếu của doanh nghiệp, khả năng đảm bảo mức lợi tức mà họ yêu
cầu. Đối với các nhà đầu tư hiện tại cũng như các nhà đầu tư tiềm năng, mối
quan tâm trước hết là việc đánh giá những đặc điểm đầu tư của doanh nghiệp.
Các nhà đầu tư quan tâm tới an toàn về đầu tư của họ thông qua tình hình được
phản ánh trong điều kiện tài chính của doanh nghiệp và tình hình hoạt động của
trường ngày càng được nâng cao.
8
Muốn nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình, chủ
doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như: tiến hành cải
cách bộ máy quản lý, liên doanh liên kết với các đơn vị, doanh nghiệp khác.
Song còn một biện pháp mang lại hiệu quả cao nhất, chi phí thấp nhất, luôn
được các chủ doanh nghiệp áp dụng, đó là tiến hành phân tích tài chính đối với
doanh nghiệp của mình. Tài chính là chìa khoá của đầu tư, và vì thế nó cũng là
chìa khoá cho sự tăng trưởng. Do vậy, phân tích tài chính tốt cũng có ý nghĩa là
có đủ chìa khoá cho việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Phân tích, đánh giá đúng tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các
mặt đồng nghĩa với việc trao cho chủ doanh nghiệp một công cụ để thúc đẩy sự
tăng trưởng của doanh nghiệp, phân tích tài chính sẽ giúp chủ doanh nghiệp
nhận thức rõ thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp mình để từ đó lập
ra những kế hoạch, những bước đi trong tương lai nhằm phát huy được những
tiềm lực của mình và mang lại hiệu quả sản xuất kinh doanh cao nhất.
Thực hiện tốt công tác phân tích tài chính sẽ giúp chủ doanh nghiệp tiến
hành các giao dịch trao đổi buôn bán, tiết kiệm đầu tư và tăng trưởng tốt hơn.
Nếu các việc đó đều làm tốt thì hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
được nâng cao là điều hiển nhiên.
1.2.5. Thu thập thông tin sử dụng trong phân tích tài chính doanh
nghiệp
Phân tích tài chính doanh nghiệp sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng
lý giải và thuyết minh thực trạng của hoạt động tài chính doanh nghiệp. Nó phục
vụ quá trình dự đoán tài chính, bao gồm từ những thông tin nội bộ đến các thông
tin bên ngoài.
1.2.5.1 Các thông tin trong nội bộ doanh nghiệp
Để đánh giá một cách cơ bản tình hình tài chính của doanh nghiệp ,có thể
sử dụng thông tin kế toán trong nội bộ doanh nghiệp như là một nguồn thông tin
+ Nguồn vốn chủ sở hữu
10
Hai phần tài sản và nguồn vốn có thể được kết cấu ngang hoặc dọc. Các
chỉ tiêu của bảng cân đối kế toán được phản ánh dưới hình thái giá trị và theo
nguyên tắc cân đối (vì phản ánh cùng một lượng vốn) là:
Tổng tài sản = tổng nguồn vốn
Nguồn vốn chủ sở hữu = Tổng tài sản - Nợ phải trả
Ngoài ra, bảng cân đối kế toán còn có thêm bản phụ lục kèm theo, phản
ánh các chỉ tiêu dài hạn không thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp như
các loại ngoại tệ, vốn khấu hao, tài sản thuê ngoài, hàng hóa nhận gia công chế
biến.
Nhiệm vụ của Bảng cân đối kế toán:
- Phân tích cơ cấu tài sản, nguồn vốn, xem xét việc bố trí tài sản nguồn
vốn đã phù hợp chưa?
- Đánh giá sự thay đổi của tài sản và nguồn vốn qua các thời kỳ
Nhìn vào bảng cân đối kế toán, nhà phân tích có thể nhận biết được loại
hình doanh nghiệp, quy mô mức độ tự chủ tài chính doanh nghiệp. Bảng cân đối
kế toán là một tư liệu quan trọng bậc nhất giúp cho các nhà phân tích tài chính
đánh giá được khả năng cân bằng tài chính, khả năng thanh toán và khả năng
cân đối vốn của doanh nghiệp.
* Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh
Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh là một báo cáo tài chính tổng hợp
phản ánh tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh theo từng loại hoạt
động của doanh nghiệp.
Nội dung của báo cáo kết quả kinh doanh bao gồm 3 phần chính:
- Phần I: Lãi - Lỗ
- Phần II: Tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước
- Phần III: Thuế GTGT (được khấu trừ, hoàn lại, miễn giảm)
Nhiệm vụ của phân tích nước kết quả sản xuất kinh doanh:
12
đúng đắn thì các thông tin liên quan đến môi trường xung quanh của doanh
nghiệp có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Đó là các quan hệ tài chính trong kinh
doanh giữa các doanh nghiệp với Nhà nước thông qua hệ thống các chính sách
quản lý tài chính, giữa các doanh nghiệp với các đối tác kinh doanh. Đồng thời,
các thông tin về hình thức tổ chức doanh nghiệp, môi trường hoạt động, lĩnh vực
kinh doanh, loại hình kinh doanh, các chính sách kinh tế các biến động kinh tế vĩ
mô... tất cả đều ảnh hưởng tới kết quả phân tích.
Chẳng hạn như những thông tin liên quan tới cơ hội kinh doanh, nghĩa là
tình hình kinh tế tại một thời điẻm cho trước, sự suy thoái ổn định hay tăng
trưởng của nền kinh tế đều có tác động mạnh tới kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp. Khi có cơ hội thuận lợi thì các hoạt động của doanh nghiệp được mở
rộng, lợi nhuận của doanh nghiệp cũng như giá trị của các cổ phiếu (nếu doanh
nghiệp là công ty cổ phần) sẽ tăng lên. Do vậy, khi phân tích tài chính doanh
nghiệp thì điều quan trọng là phải nhận thấy sự xuất hiện của cơ hội mang tính
chu kỳ, tức là qua thời kỳ suy thoái là thời kỳ tăng trưởng và ngược lại.
Đồng thời cần đặt sự tăng trưởng của doanh nghiệp trong mối liên hệ với
các hoạt động chung của ngành kinh doanh. Đặc điểm của ngành kinh doanh
liên quan tới tài chính của các sản phẩm, quy trình kĩ thuật áp dụng, cơ cấu sản
xuất, nhịp độ phát triển của chu kỳ kinh tế. Những nghiên cứu theo ngành chỉ rõ
tầm quan trọng của việc nghiên cứu đó trong nền kinh tế, quy trình công nghệ,
các khoản đầu tư, cơ cấu ngành, độ lớn của thị trường và triển vọng phát triển.
Như vậy, tổng hợp các thông tin bên trong và bên ngoài doanh nghiệp sẽ
cung cấp đầy đủ các dữ liệu cần thiết giúp cho các nhà phân tích có thể đưa ra
được những nhận xét, kết luận một cách đúng đắn.
Tuy vậy, trong mọi nguồn thông tin thì thông tin kế toán là cần thiết và
quan trọng nhất vì doanh nghiệp có nghĩa vụ cung cấp thông tin kế toán cho các
đối tượng quan tâm bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Thông tin đầu vào
thường phải qua khâu xử lý sơ bộ để loại bỏ những thông tin thiếu chính xác
nghiệp nhờ việc so sánh giữa các kỳ với nhau, giữa năm nay với năm trước. Biết
14
được doanh nghiệp mình có hoàn thành kế hoạch hay không thông qua việc so
sánh giữa số thực tế đạt được với số kế hoạch. Doanh nghiệp cũng có thể biết
được vị thế của doanh nghiệp mình thông qua việc so sánh với các chỉ tiêu trung
bình ngành, với các đối thủ cạnh tranh khi cùng kinh doanh trong một lĩnh vực.
Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp chỉ sử dụng phương pháp so sánh để phân
tích tài chính thì chưa đủ bởi vì phương pháp này chưa phản ánh được một cách
tổng quát nhất thực trạng tài chính của cả doanh nghiệp. Vì vậy, khi tiến hành
phân tích tài chính họ thường sử dụng kết hợp phương pháp này với phương
pháp phân tích tỷ lệ.
* Phương pháp tỷ lệ
Là dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong các
quan hệ tài chính.
Sự biến đổi các tỷ lệ, cố nhiên là sự biến đổi của các đại lượng tài chính, là
nguyên tắc, phương pháp tỷ lệ yêu cầu phải xác định được các ngưỡng, các định
mức, để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh
các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu.
Đây là một phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện áp dụng
ngày càng được bổ sung và hoàn thiện. Điều này là do:
- Do công tác kế toán tài chính luôn luôn được bổ sung và hoàn thiện. Do
vậy mà các nguồn thông tin kế toán ngày càng cải tiến và đầy đủ hơn. Đây là cơ
sở để hình thành những tỷ lệ tham chiếu tin cậy cho việc đánh giá tỷ số của một
doanh nghiệp hay nhóm doanh nghiệp.
- Do sự phát triển như vũ bão của ngành công nghệ thông tin nên việc áp
dụng công nghệ tin học cho phép doanh nghiệp tích luỹ được nhiều dữ liệu và
thúc đẩy nhanh quy trình tính toán hàng loạt.
Sử dụng phương pháp này giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quả
những số liệu và có thể phân tích một cách hệ thống hàng loạt các tỷ số theo
năng tự tài trợ được tính từ Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh được thể hiện
trên Bảng tài trợ và liên quan mật thiết tới ngân quỹ của doanh nghiệp .
16
Ngoài ra còn sử dụng phương pháp thống kê toán và phương pháp kinh tế
lượng.
1.3. Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
Xuất phát từ nhu cầu thông tin về tình hình tài chính doanh nghiệp của
chủ doanh nghiệp và các đối tượng quan tâm khác, phân tích hoạt động tài chính
bao gồm các nội dung sau:
1.3.1. Phân tích khái quát về tình hình tài chính.
Để phân tích khái quát về tình hình tài chính, ta xem xét trước hết ở sự
thay đổi của bảng cân đối kế toán, tức là sự tăng giảm về mặt tổng số của tài sản
và nguồn vốn. Tiếp đến, là phân tích những nguyên nhân đã ảnh hưởng đén tình
hình thay đổi trên. Bằng cách đó, chỉ ra được mức độ tác động khác nhau của
từng khoản mục đến sự thay đổi của bảng cân đối kế toán.
1.3.1.1. Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn.
Phân tích diễn biến của nguồn vốn và sử dụng vốn là xem xét và đánh giá
sự thay đổi các chỉ tiêu cuối kỳ so với đầu kỳ trên bảng cân đối kế toán về nguồn
vốn và cách thức sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Để tiến hành cách thức phân tích nguồn vốn và sử dụng vốn trước tiên,
người ta trình bày bảng cân đối kế toán dưới dạng bảng cân đối báo cáo (trình
bày một phía) từ tài sản đến nguồn vốn. Sau đó, so sánh số liệu cuối kỳ với đầu
kỳ trong từng chỉ tiêu của bảng cân đối để xác định tình hình tăng giảm vốn của
doanh nghiệp theo nguyên tắc:
- Sử dụng vốn: tăng tài sản, giảm nguồn vốn
- Nguồn vốn: Giảm tài sản, tăng nguồn vốn
Nội dung phân tích này cho nhà phân tích xác định được khả năng về
nguồn vốn và nhu cầu sử dụng vốn hiện tại của doanh nghiệp ,dự báo tình hình
tăng giảm nguồn vốn trong tương lai ,xác định nguyên nhân làm thay đổi nguồn
còn lại của nguồn vốn dài hạn và nguồn vốn ngắn hạn được đầu tư hình thành tài
sản lưu động. Chênh lệch giữa nguồn vốn dài hạn với tài sản cố định hay giữa
18
tài sản lưu động với nguồn ngắn hạn được gọi là vốn lưu động thường xuyên.
Mức độ an toàn của tài sản ngắn hạn phụ thuộc vào độ lớn của vốn lưu động
thường xuyên.
Vốn lưu động thường xuyên = Nguồn vốn dài hạn – Tài sản cố định
= Tài sản lưu động - nguồn vốn ngắn hạn
Kết quả tính toán được phân tích ra các trường hợp:
- Vốn lưu động thường xuyên lớn hơn 0, nghĩa là nguồn vốn dài hạn lớn
hơn tài sản cố định. Nguồn vốn dài hạn dư thừa sau khi đầu tư vào tài sản cố
định được đầu tư vào tài sản lưu động. Đồng thời, tài sản lưu động lớn hơn
nguồn vốn ngắn hạn do vậy khả năng thanh toán của doanh nghiệp là tốt.
- Vốn lưu động thường xuyên bằng 0 : có nghĩa là nguồn vốn dài hạn tài
trợ đủ cho TSCĐ và TSLĐ đủ để doanh nghiệp trả các khoản nợ ngắn hạn, tình
hình tài chính như vậy là lành mạnh.
- Vốn lưu động thường xuyên nhỏ hơn 0: có nghĩa là nguồn vốn dài hạn
không đủ để trả nợ cho tài sản cố định, doanh nghiệp phải đầu tư một phần
nguồn vốn ngắn hạn vào tài sản cố định, tài sản lưu động không đủ để đáp ứng
nhu cầu thanh toán nợ ngắn hạn, cán cân thanh toán của doanh nghiệp mất thăng
bằng, doanh nghiệp phải dùng một phần TSCĐ để thanh toán nợ ngắn hạn đến
hạn trả.
Như vậy, VLĐ thường xuyên là một chỉ tiêu rất quan trọng để đánh giá
tình hình tài chính doanh nghiệp, chỉ tiêu này cho biết hai điều cốt yếu :
Một là, doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn
không ?
Hai là, TSCĐ của doanh nghiệp có được tài trợ một cách vững chắc bằng
nguồn vốn dài hạn không ?
Ngoài khái niệm VLĐ thường xuyên được đề cập trên đây, trong phân
20
Đầu tiên, ta chuyển Bảng cân đối kế toán dưới dạng một phía theo hình
thức bảng cân đối báo cáo . Trên dòng ta liệt kê toàn bộ tài sản và nguồn vốn đã
được chuẩn hoá. Trên cột ta xác định số đầu năm, cuối kỳ theo lượng và tỷ trọng
của từng loại so với tổng số và có thêm cột so sánh cuối kỳ so với đầu kỳ về cả
số lượng và tỷ số phần trăm thay đổi, sau đó tiến hành tính toán phân tích và
đánh giá thực trạng về nguồn vốn và tài sản của doanh nghiệp theo những tiêu
thức nhất định của doanh nghiệp và ngành.
1.3.1.4. Phân tích khái quát các chỉ tiêu tài chính trung gian và cuối cùng
trong Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh :
Khi phân tích trạng thái động, trong một số trường hợp nhất định, người
ta còn chú trọng tới các chỉ tiêu quản lý trung gian nhằm đánh giá chi tiết hơn
tình hình tài chính và dự báo những điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp.
Những chỉ tiêu này là cơ sở để xác lập nhiều hệ số (tỷ lệ) rất có ý nghĩa về hoạt
động, cơ cấu vốn ….của doanh nghiệp.
Mục tiêu của phân tích các chỉ tiêu tài chính trung gian và cuối cùng trong Báo
cáo kết quả sản xuất kinh doanh là để thấy được yếu tố biến động của chi phí .
Phân định theo hai luồng là thu nhập và chi phí .
Chi phí gồm :Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
Thu nhập gồm : Doanh thu bán hàng,doanh thu thuần , lãi gộp ,lãi trước thuế và
lãi sau thuế .
Lãi gộp = Doanh thu - Giá vốn hàng bán
Thu nhập trước = Lãi gộp - Chi phí bán hàng, quản lý
khấu hao và lãi vay (không kể khấu hao và lãi vay)
Thu nhập trước = Thu nhập trước - Khấu hao.
thuế và lãi (EBIT) khấu hao và lãi
Thu nhập trước = Thu nhập trước - Lãi vay.
thuế thuế và lãi
21
* Hệ số khả năng thanh toán tổng quát :
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát là mối quan hệ giữa tổng tài sản
mà hiện nay doanh nghiệp đang quản lý, sử dụng với tổng số nợ phải trả
(nợ ngắn hạn và nợ dài hạn).
Khả năng thanh toán tổng quát = Tổng tài sản
Nợ ngắn hạn và nợ dài hạn
Hệ số này cho biết cứ một đồng vốn đi vay thì có mấy đồng đảm bảo?
* Hệ số khả năng thanh toán hiện hành :
Tỷ suất này là mối quan hệ giữa tài sản lưu động với đầu tư ngắn hạn và
khác khoản nợ ngắn hạn.
Khả năng thanh toán hiện hành = Tổng tài sản lưu động
Nợ ngắn hạn
Hệ số này cho biết cứ một đồng nợ ngắn hạn thì có mấy đồng tài sản lưu
động đảm bảo.Tỷ số trung bình nghành là 2,5.
Tài sản lưu động thông thường bao gồm tiền ,các chứng khoán ngắn hạn
dễ chuyển nhượng (tương đương tiền ),các khoản phải thu và dự trữ (tồn kho)
;còn nợ ngắn hạn thường bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng thương
mại và các tổ chức tín dụng khác ,các khoản phải trả nhà cung cấp ,các khoản
phải trả ,phải nộp khác …Cả tài sản lưu động và nợ ngắn hạn đều có thời hạn
nhất định -tới một năm.Hệ số khả năng thanh toán hiện hành là thước đo khả
năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp ,nó cho biết mức độ các khoản nợ
của các chủ nợ ngắn hạn được trang trải bằng các tài sản để chuyển thành tiền
trong một giai đoạn tương đương với thời hạn của các khoản nợ đó .
*Hệ số khả năng thanh toán nhanh :
Là tỷ số giữa các tài sản quay vòng nhanh với nợ ngắn hạn .Tỷ số trung
bình nghành là 1.Tài sản quay vòng nhanh là những tài sản có thể nhanh chóng
23
chuyển đổi thành tiền ,bao gồm: Tiền ,chứng khoán ngắn hạn ,các khoản phải
tục đầu tư vốn vào sản xuất hay đang rút vốn ra khỏi công việc sản xuất. Để
nghiên cứu cơ cấu vốn của chủ doanh nghiệp, nhà phân tích bao giờ cũng quan
tâm đến hệ số cơ cấu nguồn vốn .
Hệ số cơ cấu nguồn vốn được xác định theo công thức:
Nguồn vốn chủ sở hữu
Hệ số cơ cấu nguồn vốn = Tổng nguồn vốn
Tỷ suất tự tài trợ thể hiện mức độ độc lập hay phụ thuộc của doanh nghiệp
đối với các chủ nợ, mức độ tự tài trợ của doanh nghiệp đối với vốn kinh doanh
của mình. Tỷ suất tự tài trợ càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp có nhiều vốn tự có,
có tính độc lập cao với các chủ nợ, do đó không bị ràng buộc hoặc bị sức ép của
các khoản nợ vay. Nhưng khi hệ số nợ càng cao thì doanh nghiệp lại có lợi vì
được sử dụng một lượng tài sản lớn mà chỉ đầu tư vào một lượng vốn nhỏ, và
các nhà tài chính sử dụng nó như một chính sách tài chính để gia tăng lợi nhuận.
Các chủ nợ thường thích tỷ suất tự tài trợ của doanh nghiệp càng cao càng
tốt, chủ nợ nhìn vào tỷ suất này để tin tưởng một sự đảm bảo cho các món nợ
vay được hoàn trả đúng hạn.
Giá trị còn lại của TSCĐ và đầu tư dài hạn
Tỷ suất đầu tư = Tổng tài sản
Tỷ suất này càng lớn thể hiện mức độ quan trọng của tài sản cố định trong
tổng tài sản của doanh nghiệp, phản ánh tình hình trang thiết bị, cơ sở vật chất
kỹ thuật, năng lực sản xuất và xu hướng phát triển lâu dài cũng như khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy nhiên để kết luận tỷ suất này tốt hay xấu còn
tuỳ thuộc vào ngành kinh doanh của từng doanh nghiệp trong một thời gian cụ
thể.
25