Tạp chí Đại học Công nghiệp
63
TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP TÀI CHÍNH ĐẾN THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC
TIẾP NƢỚC NGOÀI TẠI CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN
Hồ Thanh Trí
*
, Nguyễn Minh Toàn
*
TÓM TẮT
Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào những nước đang phát triển đã gia tăng mạnh
mẽ trong những năm gần đây và đang đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của các nước
chủ nhà. Do đó, nghiên cứu tác động của hội nhập tài chính về mặt thể chế (de jure) và các nhân
tố khác tới thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở các quốc gia đang phát triển là điều rất cần
thiết. Bài nghiên cứu sử dụng mô hình dữ liệu bảng (panel data) với mẫu dữ liệu bao gồm 29
quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình và thấp trong giai đoạn 2000 – 2012. Kết quả
nghiên cứu cho thấy: hội nhập tài chính, quy mô thị trường, tổng dự trữ ngoại hối, cơ sở hạ
tầng, độ mở thương mại có mối tương quan dương với FDI. Trong khi đó, biến chi phí lao động
có tương quan âm với FDI do một phần nhân công giá rẻ, nhà đầu tư nước ngoài còn hướng đến
lực lượng lao động chất lượng cao.
Từ khóa: FDI, KAOPEN, hội nhập tài chính, phương pháp FGLS.
IMPACT OF FINANCIAL INTEGRATION ON ATTRACT FOREIGN DIRECT
INVESTMENT: EVIDENCE FROM DEVELOPING COUNTRIES
ABSTRACT
The foreign direct investment (FDI) activities in developing country have increased
dramatically in recent which have taken an important role in the growth of received country.
Therefore, it is indispensable for researching the impact of financial integration (de jure) and
the other factors to the FDI at emerging countries. This research uses the model with the panel
data included 29 middle-income nations in range of 2000 - 2012. The result indicates that the
variables such as: financial integration, market extent, foreign reserves, infrastructure, trade
openness degree have positive relation with FDI. On the other hand, labor cost variable
khi giá thành hạ, từ đó làm tăng khả năng sản
xuất của nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng
cung về sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ. Vì
vậy, các nước đang phát triển với nhu cầu đầu
tư cao để đạt được mục tiêu tăng trưởng, ngày
càng cạnh tranh để thu hút được nhiều nguồn
vốn FDI hơn nữa.
“Bộ ba bất khả thi” là một trong những
lý thuyết rất quan trọng của tài chính quốc tế,
được phát triển dựa trên những ý tưởng của
Robert Mundell và Marcus Fleming vào thập
niên 1960. Hai ông đã xây dựng lý thuyết “Bộ
ba bất khả thi”, phát biểu như một định đề:
một quốc gia không thể đồng thời đạt được tỷ
giá cố định, hội nhập tài chính và độc lập tiền
tệ. Chinn và Ito (2007) đã chỉ ra rằng chính
phủ các nước đang phát triển trong việc lựa
chọn mẫu hình bộ ba bất khả thi là hướng tới
trạng thái trung gian giữa ba chính sách mục
tiêu: hội nhập tài chính nhưng không quên
kiểm soát vốn, độc lập tiền tệ vừa phải, và cơ
chế tỷ giá biến động trong một biên độ mục
tiêu cho phép bằng cách tăng cường kho dự trữ
ngoại hối như một công cụ để quản lý tỷ giá.
Ông cũng đã giới thiệu thước đo bộ ba bất khả
thi, từ đó đưa ra bộ chỉ số "Trilemma Indexes".
Trong đó, tác giả đã sử dụng dữ liệu của chỉ số
mức độ hội nhập tài chính đo lường về mặt thể
chế (de jure) - KAOPEN để phục vụ cho mục
đích nghiên cứu.
đó, ông đã phát triển một chỉ số để đo lường
mức độ hội nhập tài chính quốc gia thông qua
đo lường quy mô và mức độ mở của tài khoản
vốn.
Nói tóm lại, từ những khái niệm trên ta
thấy, các tác giả đều thống nhất về quan điểm:
hội nhập tài chính là sự tham gia của các chủ
thể tài chính vào thị trường chung, đi cùng với
các luật lệ và thỏa thuận chung một cách công
bằng và được đối xử một cách bình đẳng.
2.1.2 Đặc điểm của hội nhập tài chính
a. Lợi ích từ hội nhập tài chính tại các
nước đang phát triển
Theo Trần Ngọc Thơ (2001), lợi ích từ
hội nhập tài chính gia tăng theo hai phương
thức chính như sau:
Thứ nhất, hội nhập tài chính có khả năng
thúc đẩy sự tăng trưởng do gia tăng mức độ
đầu tư và nâng cao tỷ suất sinh lợi của đầu tư
thông qua việc các nước này tiếp cận được
kinh nghiệm quản lý hiện đại, các thành quả
khoa học trên thế giới và đặc biệt tiếp cận
Tạp chí Đại học Công nghiệp
65
được tác động của thị trường hiệu quả là thị
trường mà các thông tin được phản hồi một
các đầy đủ và kịp thời vào trong giá đối với
các nhà đầu tư (thị trường hiệu quả dạng
mạnh).
Thứ hai, hội nhập tài chính cho phép mọi
như một tấm gương phóng đại của nền kinh tế
trong nước, khuếch đại lợi ích của những
chương trình cải tổ được kết cấu tốt nhưng nó
lại làm tăng thêm thiệt hại do những chính
sách và kinh tế yếu kém. Ở mức độ trung bình,
dòng vốn tư nhân vào các nước đang phát triển
ít có khả năng chịu đựng nổi một sự đảo lộn
lớn trong dòng vốn, số liệu thực tế dòng vốn tư
nhân vào các nước đang phát triển có độ co
dãn đáng kể (vào nhanh, ra nhanh).
Tóm lại, hầu hết các nước đang phát
triển thiếu những chính sách kinh tế vĩ mô và
hệ thống ngân hàng mạnh, thiếu sự hoàn thiện
về thể chế (de jure) nên dễ bị tổn thương bởi
những biến động tiềm ẩn và đảo ngược của
dòng vốn (sudden stop). Trong khi các nhà đầu
tư quốc tế ngày càng trở nên cẩn trọng hơn,
tính kỷ luật của thị trường ngày càng có
khuynh hướng được đề cao thì khi những niềm
tin đó bị mất đi sẽ kích hoạt dòng vốn chảy ra,
và như vậy hội nhập tài chính có khả năng
khuếch đại các cú sốc hoặc thiệt hại do những
sai lầm trong hoạch định chính sách, dẫn đến
bất ổn định lớn hơn ở các nước đang phát
triển.
2.2. Những nghiên cứu lý thuyết
Vấn đề liên quan đến đầu tư trực tiếp
nước ngoài ngày càng nhận được nhiều sự
quan tâm và có rất nhiều lý thuyết nghiên cứu
tập trung vào chủ đề này, trong đó các lý
Có nhiều bằng chứng thực nghiệm nhằm
xác định các nhân tố tác động lên dòng vốn
FDI. Tuy nhiên, có nhiều yếu tố được coi là
nhân tố tác động đến FDI trong mỗi nghiên
cứu ở mỗi quốc gia. Vì vậy, rất khó để liệt kê
các nhân tố tác động, đặc biệt là theo thời gian,
một số nhân tố có thể có hoặc không có ý
nghĩa thống kê. Do đó, phần xem xét lại bằng
chứng thực nghiệm này sẽ tập trung vào
nghiên cứu đo lường chỉ số hội nhập tài chính
về mặt thể chế (de jure) của Chinn và Ito
(2007), cũng như những nghiên cứu về các
nhân tố tác động lên FDI tại các nước đang
phát triển, các nền kinh tế mới nổi và những
quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi.
Chinn và Ito (2007) đã chỉ ra rằng, chính
phủ các nước đang phát triển trong việc lựa
chọn mẫu hình bộ ba bất khả thi là hướng tới
trạng thái trung gian giữa ba chính sách mục
tiêu: hội nhập tài chính nhưng không quên
kiểm soát vốn, độc lập tiền tệ vừa phải và cơ
chế tỷ giá biến động trong một biên độ mục
tiêu cho phép bằng cách tăng cường kho dự trữ
ngoại hối như một công cụ để quản lý tỷ giá.
Ông cũng đã giới thiệu thước đo bộ ba bất khả
thi từ đó đưa ra bộ chỉ số "Trilemma Indexes".
Trong đó, tác giả đã sử dụng dữ liệu của chỉ số
mức độ hội nhập tài chính đo lường về mặt thể
chế - KAOPEN để phục vụ cho mục đích
nghiên cứu.
áp dụng cho tài khoản vốn. Vào thời điểm tình
trạng lạm phát tăng tốc ở Việt Nam năm 2008,
một số nhà làm chính sách cho rằng nên áp
dụng cơ chế đa tỷ giá, trong đó tỷ giá áp dụng
cho các doanh nghiệp xuất khẩu phải khác với
các doanh nghiệp nhập khẩu (chính phủ Việt
Nam sau đó đã không đồng ý với biện pháp
này). KAOPEN vì vậy cho thấy những hạn chế
trong các giao dịch trên tài khoản vãng lai, tài
khoản vốn và kết hối ngoại tệ.
Chinn và ito (2007) đã đưa ra chỉ số
KAOPEN đo lường mức độ hội nhập tài chính
về mặt thể chế của một quốc gia thông qua
mức độ kiểm soát vốn của quốc gia đó.
KAOPEN được tính toán dựa trên các biến giả
nhị phân được tổng hợp từ bảng thống kê
những giới hạn trong giao dịch tài chính quốc
tế trong báo cáo thường niên về những thỏa
thuận giao dịch và giới hạn giao dịch của IMF.
Tạp chí Đại học Công nghiệp
67
Các biến giả này được chia làm bốn nhóm để
quan sát những giới hạn trong việc kiểm soát
vốn trên tài khoản vãng lai (Xem phụ lục 1:
Báo cáo cơ chế tỷ giá và hạn chế ngoại hối
Việt Nam năm 2012).
Trong đó: biến thứ nhất (k
1
) phản ánh sự
hiện diện của chế độ đa tỷ giá. Biến thứ hai
Chỉ số KAOPEN
được tính thông qua
phương pháp PCA (principal component
analysis). Phương pháp này tổng hợp từ ma
trận (4xn), trong đó 4 là số biến, còn n là bộ dữ
liệu qua các năm thành một ma trận (1xn) thể
hiện chỉ số KAOPEN qua các năm.
Mặc dù KAOPEN có nhược điểm là
không phản ánh đúng mức những gì diễn ra
trong thực tế, nhất là việc khu vực tư nhân tìm
mọi cách tránh né các biện pháp kiểm soát vốn
của chính phủ. Ví dụ ở Việt Nam, các sai số
thống kê hàng năm trong cán cân thanh toán
quốc tế nhiều khi lên đến hàng tỷ USD. Các
sai số này được quy cho khu vực doanh nghiệp
tìm cách chuyển tiền xuyên biên giới vì nhiều
mục đích khác nhau. Tuy có một số nhược
điểm nhưng chỉ số KAOPEN được nhiều nhà
kinh tế đánh giá đã phản ánh được các mục
tiêu chính sách quan trọng mà một quốc gia
theo đuổi trong tiến trình hội nhập tài chính.
Chỉ số KAOPEN biến thiên giữa 0 và 1.
Giá trị càng cao của chỉ số này cho thấy các
quốc gia mở cửa hơn với những giao dịch vốn
xuyên quốc gia. Lưu ý là chỉ số KAOPEN chỉ
cho ta thấy độ mở tài khoản vốn theo pháp lý
dựa trên các báo cáo của chính phủ chi IMF,
WB các chỉ số kinh tế vĩ mô liên quan đến
kiểm soát vốn và ngoại hối.
β
2
ln(Gdp
it
) + β
3
ln(Tr
it
) + β
4
ln(Pc
it
) + β
5
ln(Wgr
it
) + β
6
(Opn
it
) + e
it
(1)
Tác động của hội nhập tài chính đến thu hút đầu tư…
68
Trong đó:
Ln(FDI): Giá trị logarit dòng vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài đi vào (triệu USD, tính
theo giá USD hiện tại).
Pakistan, Jamaica, Jordan, Morocco,
Panama, Paraguay, Peru, Philippines,
South Africa, Sri Lanka, Thailand, Tunisia.
Bangladesh, Cambodia, Cameroon, Ghana,
India, Mongolia, Mozambique, Nicaragua,
Nigeria, Vietnam.
(Nguồn: World investment report, UNCTAD (2012))
3.3. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để đo lường mối quan hệ giữa FDI với
các yếu tố: hội nhập tài chính về mặt thể chế
(de jure), GDP, tổng dự trữ, tiêu thụ điện, chi
phí lương, độ mở thương mại, tôi sử dụng
phương pháp phân tích dữ liệu bảng. Phương
pháp dữ liệu bảng phân tích trong nghiên cứu
gồm các phương pháp sau: phương pháp
Random effects (REM), phương pháp Fixed
effects (FEM), phương pháp Pool OLS,
phương pháp Feasible generalized least square
(FGLS).
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Thống kê mô tả
Trước tiên, bài nghiên cứu này sẽ trình
bày thống kê dữ liệu của các biến chính qua
các năm, để thấy được tổng quan của nguồn dữ
liệu.
Tạp chí Đại học Công nghiệp
69
Bảng 4.1. Phân tích mô tả dữ liệu của các nước đang phát triển giai đoạn 2000 - 2012
Biến
Số quan
20.95664
21.28950
1.700396
2.510732
-0.251777
LN_Pc
377
3.207336
3.646599
1.283600
2.477818
-0.744752
LN_Tr
377
22.63467
22.55171
1.671844
2.453009
0.264073
Opn
377
0.770587
0.707300
0.353020
2.534464
0.501079
(Nguồn: Kết quả dựa trên tính toán từ dữ liệu với phần mềm Eviews)
Số liệu tính toán dựa trên mẫu gồm 29
quốc gia đang phát triển có thu nhập trung
bình và thấp từ năm 2000 – 2012 với 377 quan
KAOPEN
-0.122
1.000 Ln_GDP
0.785
-0.335
1.000
Ln_Pc
0.394
0.240
0.274
1.000
Ln_Tr
0.779
-0.278
0.906
này, hệ số nhân tố phóng đại VIF của các biến
trong mô hình đều nhỏ hơn 10 và giá trị VIF
trung bình bằng 3.648.
Tác động của hội nhập tài chính đến thu hút đầu tư…
70
Bảng 4.3. Kết quả chỉ số nhân phóng đại VIF của các biến
Biến
VIF
1/VIF
KAOPEN
1.328
0.753
LN_Tr
6.494
0.154
LN_GDP
8.929
0.112
LN_Wgr
2.058
0.486
Opn
1.613
0.62
LN_Pc
1.468
0.681
Mean VIF
3.648
KAOPEN
0.585
0.000
0.482
0.137
0.511
0.051
0.585
0.000
LN_GDP
0.779
0.000
1.191
0.000
0.837
0.000
0.779
0.000
LN_Wgr
-0.061
0.113
-0.000
0.993
-0.033
0.613
-0.061
0.094
LN_Pc
0.097
0.024
2
0.691
0.838
0.551
0.691
R
2
điều chỉnh
0.686
0.822
0.544
0.686
F
138.269
52.108
75.942
138.269
Durbin-
Watson
0.751
1.410
1.312
1.251
(Nguồn: Kết quả tính toán từ dữ liệu nghiên cứu dựa trên phần mềm Eviews)
Bảng 4.5. Kết quả kiểm định
Kiểm định
Kết quả
Redumdant test
Prob = 0.0000
Wald test
thay đổi trong FDI chảy vào các quốc gia đang
phát triển (R
2
= 83,8%). Theo kết quả bảng
4.4, chỉ có biến GDP có ý nghĩa thống kê với
mức ý nghĩa 1%, các biến còn lại không có ý
nghĩa thống kê. Tuy nhiên hệ số các biến có
dấu giống như kỳ vọng giả thuyết đã đặt ra.
Tiếp theo, tôi dùng F test để kiểm định xem có
tồn tại tác động cố định của mỗi quốc gia trong
mô hình hay không. Rõ ràng, từ bảng 4.5 ta
thấy phương pháp pooled OLS được sử dụng
không thích hợp bởi vì có sự tồn tại cố định ở
mỗi quốc gia (F = 11,068, P-value = 0,000).
Mặc dù tồn tại tác động cố định trong mô hình
cũng không có nghĩa mô hình FEM là mô hình
đúng. Do đó, tôi sẽ ước tính mô hình bằng
cách sử dụng phương pháp REM để kiểm soát
các yếu tố đặc trưng của mỗi quốc gia có khả
năng tác động đến FDI. Tuy nhiên, trước khi
tiến hành ước lượng mô hình theo REM,
chúng ta cần trả lời một câu hỏi quan trọng là
liệu có tồn tại tác động thời gian trong mô hình
hay không? Để thực hiện điều này, đầu tiên,
tôi sẽ thêm biến giả thời gian vào mô hình
nghiên cứu, và tiến hành hồi quy lại mô hình
theo phương pháp tác động cố định FEM
(fixed effects). Sau đó, tôi sẽ kiểm định xem
có cần thiết phải thêm biến giả vào mô hình
hay không? Sau khi tiến hành kiểm định, kết
Kết quả ước tính theo phương pháp
FGLS trong bảng 4.4 cho thấy:
Hội nhập tài chính về mặt thể chế (de
jure) được đại diện bởi biến KAOPEN có tác
động cùng chiều lên dòng vốn FDI tại các
quốc gia đang phát triển, hệ số này có ý nghĩa
thống kê ở mức ý nghĩa 1%. Theo đó, hội nhập
tài chính tăng lên 1% thì dòng vốn FDI chảy
vào sẽ tăng lên 0.58%. Như vậy, nếu một quốc
gia có mức độ tự do hóa tài chính cao hơn
quốc gia khác, dòng vốn chảy vào và ra khỏi
một quốc gia cũng dễ dàng hơn, lượng vốn
FDI sẽ đi vào thị trường của nước đó cũng
thuận lợi hơn. Mặt khác, khi nhân tố KAOPEN
Tác động của hội nhập tài chính đến thu hút đầu tư…
72
nằm trong mô hình không lấn át hay loại bỏ sự
hiện diện của các nhân tố khác.
Quy mô thị trường: được đại diện bởi
GDP có tác động cùng chiều lên dòng vốn FDI
tại các quốc gia đang phát triển, hệ số này có ý
nghĩa thống kê tại mức 1%. Theo đó, khi GDP
tăng lên 1% thì dòng vốn FDI chảy vào sẽ tăng
0,779%. Điều này hàm ý rằng, những quốc gia
có quy mô thị trường lớn (GDP cao hơn) sẽ
thu hút được một lượng vốn đầu tư nước ngoài
nhiều hơn. Kết quả phù hợp với lý thuyết OLI
của Dunning, các nhà đầu tư nước ngoài nhằm
mục đích tìm kiếm thị trường sẽ đầu tư nhiều
hơn vào những nước có quy mô thị trường lớn;
bình quân tăng 1% thì FDI sẽ tăng 0,097%.
Mặc dù khá thấp nhưng cũng chứng minh
được rằng các quốc gia có cơ sở hạ tầng được
cải thiện và tốt hơn sẽ có lợi thế cạnh tranh so
với các nước khác trong việc thu hút đầu tư
nước ngoài. Cơ sở hạ tầng tốt và phát triển
cũng làm tăng năng suất lao động của đầu tư
và vì vậy sẽ hấp dẫn FDI chảy vào nhiều hơn.
Kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu
của Ab và Mohd (2012).
Tổng dự trữ: tương tự như kết luận trong
nghiên cứu của Ab và Mohd (2012), tổng dự
trữ có tương quan dương với FDI và có ý
nghĩa thống kê tại mức 1%. Theo đó, khi tổng
dự trữ tăng lên 1% thì FDi chảy vào quốc gia
đó sẽ tăng 0,187%. Tác động của tổng dự trữ
lên dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chảy
vào hàm ý rằng nếu quốc gia đó tích lũy càng
nhiều thì càng giúp nó thu hút được nhiều vốn
FDI hơn, bởi khi quốc gia gia tăng tổng dự trữ
sẽ tạo niềm tin cho các nhà đầu tư vào khả
năng thanh toán nghĩa vụ nợ nước ngoài của
nền kinh tế, khả năng hỗ trợ giá trị của đồng
nội tệ, thể hiện khả năng đảm bảo tài chính của
quốc gia đó. Từ đó, tạo ra môi trường đầu tư
ổn định, một trong những yếu tố quan trọng
trong việc xem xét quyết định đầu tư ra nước
ngoài của các công ty đa quốc gia.
Độ mở thương mại: như đã nêu ở trên,
độ mở thương mại đo lường bằng (xuất khẩu +
đang phát triển. Khi tiến hành đầu tư vào một
quốc gia đang phát triển, ngoài các nhân tố
khác liên quan thì vấn đề hội nhập tài chính tại
quốc gia đó nhận được nhiều sự quan tâm của
các nhà đầu tư nước ngoài. Do đó, xác định tác
động của hội nhập tài chính và các nhân tố
khác ảnh hưởng đến quyết định của các nhà
đầu tư nước ngoài là một câu hỏi đối với các
nhà lập chính sách tại mỗi quốc gia. Vì vậy, đề
tài đã nghiên cứu vấn đề trên với mẫu 29 nước
đang phát triển có thu nhập trung bình và thấp
theo phân loại của Unctad trong giai đoạn từ
năm 2000 - 2012. Để thực hiện được điều, này
tôi sử dụng phương pháp FGLS để ước lượng
hồi quy nhằm khắc phục một số nhược điểm
của phương pháp bình phương bé nhất OLS.
Kết quả hồi quy cho thấy, đầu tư trực tiếp
nước ngoài có thể được giải thích tốt bởi các
nhân tố cơ bản của nền kinh tế. Hội nhập tài
chính của một quốc gia về mặt thể chế (de
jure) được đại diện bởi biến KAOPEN tác
động cùng chiều đến thu hút FDI. Quy mô thị
trường được đại diện bởi GDP, tổng dự trữ
ngoại hối, yếu tố cơ sở vật chất được đại diện
bởi biến tiêu thụ điện có tương quan cùng
chiều với FDI. Điều này hàm ý rằng những
quốc gia có nền kinh tế hội nhập tài chính về
mặt thể chế (de jure), quy mô thị trường càng
lớn, tích lũy dự trữ càng nhiều cũng như có cơ
sở hạ tầng phát triển sẽ thúc đẩy các nhà đầu
nghề của người lao động.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Aizenman, J., M. Chinn, and H. Ito, (2007), Assessing the Emerging Global Financial
rchitecture: Measuring the Trilemma’s Configurations over Time, NBER Technical Report
14533, Cambridge: NBER
Tác động của hội nhập tài chính đến thu hút đầu tư…
74
2. Ab Quyoom Khachoo and Mohd Imran Khan (2012), “Determinants of FDI inflows to
developing coutries: a panel data analysis”, MPRA
3. B.Ang, J. (2008), “Determinants of foreign direct investment in Malaysia”, Journal of
Policy Modeling, 30, pp.195-189.
4. Cuyvers, L., Soeng, R., Plasmans, J., and Bulcke, D.V.D. (2011), “Determinants of foreign
direct investment in Cambodia”, Journal of Asian Economics, 22, pp.222-234.
5. Dunning, J. H. (1980), “Towards an Eclectic Theory of International Production: Some
Empirical Tests”, Journal of International Business Studies, Published by: Palgrave
Macmillan Journals, volume 11, No. 1 (Spring - Summer, 1980), pp. 9-31.
6. Dunning, J.H and Sarianna M.Lunda (2008), Multinational Enterprises and Global
Economy (2nd), Edward Elgar Publishing, Inc, 67 – 74.
7. Farrell, R., Gaston, N., and Sturm, J.E. (2004), “Determinants of Japan’s foreign direct
investment:An industry and country panel study, 1984–1998”, Journal of The Japanese
and International Economics,18, pp.161-182.
8. Hymer, S.H. (1960), The international operations of national firms: a study of direct
investment, Ph.D thesis MIT press :Cambridge, MA.
9. Jack Behrman (1972). The role of international companies in Latin American integration
autos and petrochemicals: A supplementary paper of the committee for economic
development, pp.76-74.
10. Karl W. Deutsch and all, Political Community and the North Atlantic Area, Princeton,
N.J., Princeton University Press, 1957; Xem Karl W. Deutsch and all, France, Germany,
and the Western Alliance: A Study of Elite Attitudes on European Integration and World