Chính sách tài chính trong thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài ở Việt Nam Trần Thị Thủy Trường Đại học Kinh tế
Luận văn Thạc sĩ ngành: Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế
Mã số: 60 31 07
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Kim Anh
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Khái quát một số vấn đề lý luận và thực tiễn về đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) và chính sách tài chính, chú trọng vào chính sách ưu đãi thuế trong thu
hút FDI. Tập trung nghiên cứu chính sách ưu đãi thuế trong thu hút FDI vào Việt
Nam giai đoạn 1997 - 2011. Làm rõ quá trình thay đổi chính sách ưu đãi thuế thu hút
FDI và những dấu hiệu về phản ứng của dòng FDI đối với điều chỉnh chính sách ưu
đãi thuế giai đoạn 1997-2011. Đưa ra một số hàm ý về chính sách ưu đãi thuế thu
hút FDI ở Việt Nam để Việt Nam có thể cải thiện môi trường đầu tư, tăng thu hút
FDI trong thời gian tới.
Keywords. Kinh tế đối ngoại; Chính sách tài chính; Đầu tư trực tiếp nước ngoài;
Việt Nam
Content
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ giữa thập niên 1980 đến nay, FDI được coi là nguồn vốn quan trọng giúp chuyển
dịch cơ cấu và tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế. FDI đã và đang trở thành một trụ cột
vai trò của thuế trong việc thu hút vốn Đầu tư FDI; thực trạng của chính sách thuế đối với
khu vực FDI tại Việt Nam nhưng năm vừa qua (1988 - 2002) và đưa ra những giải pháp hệ
thống chính sách này.
- TS. Đinh Văn Ân, TS. Nguyễn Thị Tuệ Anh và cộng sự (2008) đã nêu được kết quả
thu hút và thực hiện vốn Đầu tư trực tiếp nước ngoài 20 năm (1988 - 2007).
- Lê Xuân Sang (2007) đã tóm lược tính cần thiết phải điều chỉnh chính sách thuế,
thuế quan và trợ cấp sau khi gia nhập WTO, phân tích một số bài học rút ra từ kinh nghiệm
quốc tế, điểm qua thành tựu và một số hạn chế của chính sách thuế, thuế quan và trợ cấp của
Việt Nam theo các quan điểm hiệu quả kinh tế và tính tương thích của chính sách hiện hành
so với các quy định của WTO.
- Lê Văn Ái (2002) nghiên cứu các luận cứ kinh tế về vai trò, tác động của chính sách
thuế trong điều kiện gia nhập các Tổ chức Kinh tế và Thương mại Quốc tế, phân tích thực
trạng hệ thống thuế ở Việt Nam, trên cơ sở đó tìm ra các giải pháp để hoàn thiện hệ thống
thuế ở Việt Nam.
- Phùng Xuân Nhạ (2010) cùng các tác giả nghiên cứu các vấn đề lý luận về chính
FDI, kinh nghiệm quốc tế về điều chỉnh chính sách FDI, phân tích thực trạng điều chỉnh
chính sách Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế,
trên cơ sở đó đưa ra những khuyến nghị và đề xuất điều chỉnh chính sách FDI tại Việt Nam.
Tuy nhiên các tài liệu này chủ yếu đi vào nghiên cứu một cách khái quát về FDI và
vai trò của FDI đối với việc phát triển các nền kinh tế trên Thế giới… hoặc nghiên cứu chính
sách tài chính thu hút FDI của Việt Nam, hoặc nghiên cứu về hoàn thiện khung pháp luật đầu
tư trực tiếp nước ngoài … hoặc nghiên cứu về chính sách thuế nói chung của Việt Nam …
mà chưa có một nghiên cứu nào đề cập đến chính sách thuế trong thu hút FDI tại Việt Nam.
Do đó luận văn đã đi sâu nghiên cúu, làm rõ một cách có hệ thống về chính sách thuế trong
thu hút Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu chính sách tài chính trong thu hút FDI ở Việt Nam, đặc biệt là từ sau
khủng hoảng tài chính Châu Á 1997, từ đó đưa ra một số hàm ý về chính sách tài chính trong
thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam trong thời gian tới.
Nam, luận văn đưa ra một số hàm ý về chính sách cho Việt Nam trong quá trình hoàn thiện
chính sách thu hút FDI nói chung, chính sách thuế nói riêng trong bối cảnh mới, khi Việt
Nam đã gia nhập WTO với những thời cơ và thách thức mới.
7. Bố cục của luận văn
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH TRONG THU HÚT ĐẦU
TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Khái quát chung về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) và chính sách FDI của
nƣớc chủ nhà
1.1.1.1. Bản chất, đặc điểm và các hình thức FDI chủ yếu
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI = Foreign Direct Investment) là hình thức đầu tư dài
hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh
doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh
này.
Ngoài các đặc trưng cơ bản của một đầu tư nói chung, một số đặc trưng có tính chất
đặc thù của FDI là:
- Nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp tham gia điều hành hoặc tự điều hành dự án.
- Chủ đầu tư có quốc tịch nước ngoài.
- Dự án đầu tư quốc tế chịu sự chi phối đồng thời của nhiều hệ thống pháp luật (luật
pháp quốc gia và quốc tế). Trong quá trình tự do hóa thương mại và đầu tư thì các quốc gia
đều phải tiến hành cải tiến hệ thống pháp luật của mình cho phù hợp với thông lệ quốc tế.
- Hầu hết các dự án FDI đều gắn liền với quá trình chuyển giao
Hiện nay, trên thế giới các công ty đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được thực hiện dưới
ba hình thức đầu tư chủ yếu: Hình thức doanh nghiệp liên doanh (EFV); Hình thức hợp đồng
hợp tác kinh doanh (BCC) và Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (WFOE).
1.1.1.2. Vai trò của FDI đối với các nước đang phát triển nhận đầu tư
thuế, vừa mang tính chất áp dụng các mức thuế suất phân biệt.
Chính sách thuế có tác dụng rất quan trọng trong việc khuyến khích các thành phần
kinh tế phát triển.
Thuế là một trong những yếu tố quan trọng tạo ra môi trường đầu tư.
b) Các loại ƣu đãi thuế để thu hút FDI
- Miễn thuế TNDN đối với việc chuyển nhượng vốn
- Miễn, giảm thuế đối với thuế thu nhập doanh nghiệp
- Miễn, giảm các loại thuế thu nhập khác
- Miễn hoặc giảm thuế hàng tư liệu sản xuất nhập khẩu (vốn)
- Miễn thuế đối với việc chuyển nhượng bản quyền
- Miễn hoặc giảm thu được do chiếm giữ lợi tức thu được từ các khoản vay nước
ngoài
- Miễn các loại thuế và chi phí khác
Tùy theo phạm vi sử dụng rộng hay hẹp, có thể chia các loại ưu đãi thuế thành hai
nhóm khác nhau: mang tính chất ngành và mang tính chất cá biệt.
1.1.2.3. Sự cần thiết của việc điều chỉnh chính sách thuế trong thu hút FDI
Sự thay đổi của môi trường đầu tư ở nước chủ nhà
Sự thay đổi của môi trường đầu tư quốc tế
Sự bất cập của bản thân chính sách thuế thu hút FDI: (i) chính sách thuế thu hút đầu
tư không hoặc kém khả thi và không mang lại những kết quả mong đợi, (ii) sự bất đối xứng
thông tin và sự hợp tác hạn chế của các cơ quan nhà nước có liên quan đến FDI, (iii) hạn chế
về khả năng thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước tham gia một cách tích cực vào các hợp
tác kinh doanh với các nhà đầu tư nước ngoài, (iv) chính sách thuế thu hút FDI bị lạc hậu,
không phù hợp với thông lệ quốc tế hoặc bị bất cập bởi các cam kết của nước chủ nhà trong
quá trình hội nhập quốc tế.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Trung Quốc
Nhằm thu hút đầu tư nước ngoài, Trung Quốc đã đề ra nhiều chính sách ưu đãi thuế
và luật pháp hoá chúng: Ưu đãi về kỳ hạn kinh doanh; Ưu đãi đối với khu vực đầu tư; Đãi
hợp với tình hình thực tiễn trong nước và quốc tế.
Chính sách thuế thu hút FDI đã hướng vào một số lĩnh vực ưu tiên trong chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội của Malaysia, từ đó góp phần tạo lập cơ cấu ngành kinh tế năng
động và hiệu quả hơn.
Nhằm khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực sản xuất của Malaysia giai đoạn từ năm 2006
đến nay, Malaysia đã có những ưu đãi trong chính sách thuế dành cho lĩnh vực sản xuất bao
gồm 2 loại: ưu đãi dành cho doanh nghiệp đi tiên phong và hỗ trợ cho hoạt động đầu tư.
1.2.3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
- Bài học về mở cửa và điều chỉnh chính sách thuế thu hút FDI: Các nước đang phát
triển đều có những chiến lược dài hạn để thu hút đầu tư nước ngoài. Chính sách thuế là một
trong những biểu hiện của chiến lược nói trên.
- Sự thay đổi nhanh chóng của môi trường trong nước và quốc tế cũng bắt buộc chính
phủ phải có những biện pháp điều chỉnh ngắn hạn đối với dòng vốn đầu tư nước ngoài, chẳng
hạn như thực hiện nới lỏng ưu đãi về thuế.
- Sự điều chỉnh chính sách theo từng thời điểm không bị chồng chéo, từ đó chính phủ
tạo ra được sự minh bạch trong chính sách, khiến các nhà đầu tư không gặp phiền hà, rắc rối
khi đầu tư.
CHƢƠNG 2
CHÍNH SÁCH ƢU ĐÃI THUẾ TRONG THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC
NGOÀI Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1997 – 2011
2.1. Quá trình điều chỉnh chính sách ƣu đãi thuế trong thu hút FDI vào Việt Nam giai
đoạn 1997-2011
2.1.1. Thuế thu nhập doanh nghiệp
Qua các lần điều chỉnh đã quy định việc miễn thuế, giảm thuế TNDN trong thời gian
từ 2 năm đến 7 năm thành tối đa 15 năm, mức thuế suất ưu đãi là 10%, 20%.
2.1.2. Thuế xuất khẩu, nhập khẩu
Mức thuế suất ƣu đãi
- Luật thuế XK, thuế NK năm 1991: mức thuế suất ưu đãi theo từng mặt hàng không
thấp hơn quá 50% so với thuế suất thông thường của từng mặt hàng. Mức này được tăng lên
Đối tƣợng không chịu thuế GTGT
Theo Luật thuế GTGT năm 1997 quy định bao gồm 27 nhóm hàng hóa, dịch vụ tăng
lên thành 28 nhóm hàng hóa, dịch vụ (năm 2003). Luật thuế GTGT năm 2008 đã thu hẹp đối
tượng không chịu thuế GTGT từ 28 nhóm hàng xuống còn 25 nhóm hàng.
2.1. 5. Thuế tiêu thụ đặc biệt
Thuế suất có xu hướng tăng đối với những mặt hàng nhà nước không khuyến khích
sản xuất và tiêu dùng như thuốc hút, rượu, bài lá, vàng mã.
Qua các lần điều chỉnh đã thay đổi danh mục những mặt hàng chịu thuế TTĐB theo
hướng các mặt hàng có giá trị cao, phục vụ tiêu dùng cá nhân, và kinh doanh ngành dịch vụ
với mức thuế suất từ 20-70% thành 15-70%.
Thuế TTĐB áp dụng thống nhất đối với hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá sản xuất
trong nước. Không thu thuế TTĐB đối với hàng hoá xuất nhập khẩu. Đây là một bước tiến
của hệ thống thuế nước ta trong việc thực hiện nguyên tắc đối sử quốc gia đã cam kết khi
tham gia vào các tổ chức quốc tế. Thuế suất được điều chỉnh giảm so với trước đây để Phù
hợp và đồng bộ với Luật thuế GTGT và Luật thuế XK, thuế NK khi thực hiện chương trình
cắt giảm thuế quan.
2.1.6. Thuế chuyển lợi nhuận ra nƣớc ngoài (CLNRNN)
Mức thuế suất thuế CLNRNN là 5-10% ban đầu, qua các lần điều chỉnh và hiện tại
Luật thuế CLNRNN đã quy định tất cả các trường hợp CLNRNN đều không phải nộp thuế
CLNRNN.
2.1.7. Điều chỉnh chính sách ƣu đãi thuế tại các địa phƣơng
Quá trình điều chỉnh chính sách ưu đãi thuế trong thu hút FDI vào Việt Nam giai đoạn
từ 1997 – 2011 được thực hiện khá linh hoạt, thể hiện qua việc thực hiện giữa các địa
phương. Mỗi địa phương với cơ chế quản lý thuế khác nhau sẽ áp dụng chính sách ưu đãi
thuế khác nhau nhằm thu hút FDI vào địa phương mình, cạnh tranh với những địa phương
khác.
2.2. Dấu hiệu về phản ứng của dòng FDI đối với điều chỉnh chính sách ƣu đãi thuế giai
đoạn 1997-2011
2.2.1. Tăng/giảm vốn ĐTNN
Tính đến cuối năm 2011, cả nước có 13.664 dự án ĐTNN được cấp phép đầu tư với
77,800,597,105
Nông,lâm nghiệp;thủy sản
496
3,218,267,739
(*)
Bao gồm vốn tăng thêm của các dự án đã được cấp giấy phép từ các năm trước.
Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ KHĐT
2.2.3.1. Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng
Từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, Việt Nam đã chú trọng thu hút
ĐTNN vào lĩnh vực công nghiệp – xây dựng.
Tính đến hết năm 2011, lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có tỷ trọng lớn nhất với
8.826 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký 105,55 tỷ USD, chiếm 65% về số dự án và 53%
tổng vốn đăng ký.
2.2.3.2. Lĩnh vực dịch vụ
Nước ta đã có nhiều chủ trương chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh
doanh dịch vụ phát triển từ khi thi hành Luật ĐTNN (1987). Nhờ vậy, khu vực dịch vụ đã có
sự chuyển biến tích cực đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sản xuất, tiêu dùng và đời sống
nhân dân, góp phần đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế.
Trong khu vực dịch vụ ĐTNN tập trung chủ yếu vào kinh doanh bất động sản, bao
gồm: xây dựng căn hộ, văn phòng, phát triển khu đô thị mới, kinh doanh hạ tầng khu công
nghiệp… (57% tổng vốn ĐTNN trong khu vực dịch vụ), du lịch – khách sạn chiếm 24% vốn
đăng ký khu vực này, giao thông vận tải – bưu điện chiếm 11%).
2.2.3.3. Lĩnh vực Nông – Lâm – Ngư
Dành ưu đãi cho các dự án đầu tư vào lĩnh vực Nông – Lâm – Ngư nghiệp đã được
chú trọng ngay từ khi có luật ĐTNN 1987. Tuy nhiên đến nay do nhiều nguyên nhân, trong
đó có nguyên nhân rủi ro đầu tư cao trong lĩnh vực này nên kết quả thu hút ĐTNN vào lĩnh
vực Nông – Lâm – Ngư chưa được như mong muốn.
Đến hết năm 2011, lĩnh vực Nông – Lâm – Ngư nghiệp có 496 dự án còn hiệu lực,
tổng vốn đăng ký hơn 3,022 tỷ USD, chiếm 3,63% về số dự án và 1,63% tổng vốn đăng ký.
Trong đó, các dự án về chế biến nông sản, thực phẩm chiếm tỷ trọng lớn nhất 64% tổng vốn
vốn FDI giai đoạn này là kết quả của việc điều chỉnh Luật đầu tư năm 2005, gia nhập WTO
đầu năm 2007 và điều chỉnh chính sách ưu đãi thuế thu hút FDI những năm 2003 – 2005.
Năm 2008 đạt kỷ lục về việc thu hút vốn FDI: vốn đăng ký hơn 71 tỷ USD, vốn thực
hiện đạt 11,5 tỷ USD. Kết quả này do nhiều nguyên nhân: (i) vốn đăng ký những năm trước
khi diễn ra khủng hoảng làm tăng vốn thực hiện vào Việt Nam giai đoạn này; (ii) Việt Nam
đã gia nhập WTO năm 2007; (iii) việc ban hành luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 với
những quy định rõ ràng, cụ thể hơn cho những nhà đầu tư và việc điều chỉnh thuế TNDN,
thuế GTGT vào năm 2008 với những ưu đãi giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế
giá trị gia tăng và những chính sách thu hút FDI khác.
Tóm lại, từ những kết quả của việc thu hút FDI vào Việt Nam từ 1997 – 2011 có thể
thấy việc tăng giảm luồng FDI đến Việt Nam do rất nhiều nguyên nhân. Bên cạnh những tác
động của nền kinh tế Thế giới, những nỗ lực của chính phủ nước ta trong việc thu hút FDI đã
thu được những thành công nhất định, đặc biệt là việc điều chỉnh chính sách thuế thu hút FDI
vào nước ta giai đoạn 1997 – 2011 đã góp phần vào việc thu hút vốn FDI vào Việt Nam.
2.3.2. Dấu hiệu không thành công của chính sách ƣu đãi thuế
2.3.2.1. Cơ cấu FDI theo ngành và theo lãnh thổ chưa hợp lý.
Hiện tại, lĩnh vực công nghệ chế tạo và chế biến đang đứng đầu trong việc thu hút
FDI với tỷ lệ là 47%. Tuy nhiên, vốn đầu tư chủ yếu tập trung vào công nghiệp lắp ráp nhằm
tận dụng lao động rẻ, có giá trị gia tăng thấp. Tiếp theo là lĩnh vực kinh doanh bất động sản
và lĩnh vực xây dựng.
Lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản vốn dĩ đã ít lại có xu hướng giảm (từ 6% tổng
vốn đăng ký năm 2006 xuống 1% năm 2009 và chỉ nhích lên một chút 1,63% tổng vốn đăng
ký vào năm 2011).
Một cơ cấu đầu tư như vậy khó có thể bảo đảm cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế của đất nước theo hướng bền vững.
2.3. 2.2. Chưa thu hút được đối tác mạnh
Đầu tư của ba khối kinh tế hàng đầu là Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản vào Việt Nam vẫn còn
rất khiêm tốn. Nhật Bản tuy nằm ở vị trí thứ 4 trong 10 nước đầu tư lớn nhất vào Việt Nam,
nhưng con số đầu tư đó vẫn chưa thật xứng đáng với tiềm lực của đất nước này (số lượng vốn
đầu tư ký kết của nước này chỉ bằng 64% số lượng đầu tư của Hàn Quốc).
2.3.3.2. Hệ thống chính sách thuế còn nhiều điểm chưa phù hợp với thông lệ quốc tế và
chưa đảm bảo tính tương thích với hệ thống thuế các nước trong khu vực.
2.3.3.3. Hệ thống thuế của nước ta còn quá phức tạp, chưa thể hiện sự đơn giản, rõ ràng
và minh bạch theo các nguyên tắc hội nhập quốc tế
2.3.3.4. Nhiều văn bản pháp quy chưa được đồng bộ
Trước yêu cầu hội nhập, các bộ ngành liên tục sửa luật, thay đổi chính sách cho phù
hợp với cam kết quốc tế. Tuy nhiên quá trình điều chỉnh chính sách thuế phát sinh vấn đề
thiếu nhất quán giữa các văn bản, chính sách quy định trước đó.
CHƢƠNG 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH ƢU ĐÃI THUẾ TRONG
THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP VÀO VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI
3.1. Triển vọng của FDI đối với Việt Nam trong thời gian tới
3.1.1. Xu hƣớng dòng FDI trên thế giới
3.1.1.1. Tổng quan giai đoạn 2009-2012
Xu hướng FDI sẽ đầu tư vào ngành công nghiệp ít phát thải các-bon như những ngành
công nghiệp tái tạo, tái chế Hiện tại, những ngành công nghiệp sản xuất kỹ thuật ít phát thải
các-bon đã chiếm một phần lớn trong khu vực FDI, khoảng 90 tỷ USD trong năm 2009 và
nguồn lực tiềm năng của nó cũng rất lớn.
3.1.1.2. FDI đang trên đà phục hồi
Sự sụt mạnh trong hoạt động mua bán và sáp nhập (M&As) qua biên giới đã giải thích
phần lớn cho sự sụt giảm trong FDI năm 2009. Sự phục hồi mới đây diễn ra theo sau một sự
sụt giảm mạnh trong dòng FDI thế giớivào năm 2009.
Triển vọng FDI: FDI đã thực sự thay đổi. Cùng với sự thay đổi của xu hướng đầu tư,
khu vực đầu tư thì những khái niệm mới như FDI “nội”, FDI hướng tới những nền kinh tế ít
phát thải Carbon (FDI xanh), hay FDI không cần vốn đã xuất hiện và chiếm tỉ trọng ngày
càng lớn. Những nền kinh tế chuyển đổi và đang phát triển sẽ tiếp tục chiếm quy mô ngày
càng tăng trong FDI toàn cầu.
3.1.2. Xu hƣớng FDI vào Việt Nam
Ðứng ở vị trí thứ 12 trong xếp hạng chung Chỉ số niềm tin FDI, Việt Nam được báo
sinh học để tạo ra các giống cây, con có năng suất, chất lượng cao đưa vào sản xuất đáp ứng
nhu cầu trong nước và xuất khẩu; đầu tư cho công nghệ chế biến thực phẩm, bảo quản sau thu
hoạch để nâng giá trị sản phẩm, tạo ra thị trường tiêu thụ nông sản ổn định, đặc biệt xuất
khẩu; tham gia đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ nông, lâm nghiệp như các
công trình thủy lợi, sản xuất phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, hệ thống giao thông nội đồng
Định hướng vùng
Trong những năm tới, dự báo vốn FDI vẫn sẽ tập trung chủ yếu vào những địa
phương có điều kiện thuận lợi về địa lý - tự nhiên, nhất là các vùng kinh tế trọng điểm. Tập
trung thu hút đầu tư vào các KKT, KCN đã được Chính phủ phê duyệt (như Chu Lai, Nhơn
Hội…) góp phần đẩy nhanh việc thu hẹp khỏang cách phát triển giữa các vùng).
Định hướng đối tác
Chú trọng thu hút FDI từ các tập đoàn đa quốc gia (MNCs)
Ba đối tác chính là Nhật bản, Hoa Kỳ và Các nước EU
Một số đối tác truyền thống: Đài Loan, Hàn Quốc và Singapore
3.2.2. Định hƣớng của Đảng và Nhà nƣớc về chính sách ƣu đãi thuế trong thu hút FDI
trong thời gian tới
Chính sách tài chính quốc gia phải động viên hợp lý, phân phối và sử dụng có hiệu
quả mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội; phân phối lợi ích công bằng. Tiếp tục hoàn
thiện chính sách và hệ thống thuế, cơ chế quản lý giá, pháp luật về cạnh tranh và kiểm soát
độc quyền trong kinh doanh, bảo vệ người tiêu dùng, các chính sách về thu nhập, tiền lương,
tiền công.
Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước, nhất là
các tập đoàn kinh tế và các tổng công ty.
3.2.2.1. Mục tiêu của chính sách ưu đãi thuế
Giữ kỷ luật tài chính tổng thể để lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia, ổn định kinh
tế vĩ mô.
Nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút vốn đầu tư của nền kinh tế trong bối cảnh hội
nhập và cam kết quốc tế nhằm thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững và thực hiện thành
công chiến lược giảm nghèo.
Thuế phải là công cụ quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước có hiệu quả và hiệu lực.
với những thay đổi nhanh chóng của môi trường trong nước và quốc tế. Tính linh hoạt của
chính sách thuế trong thu hút FDI cần xác định cụ thể, mục tiêu thu hút FDI trong từng giai
đoạn.
3.3.2. Giải pháp vi mô
3.3.2.1. Thực hiện đầy đủ, đúng đắn theo lộ trình nội dung các hiệp định quốc tế và những
cam kết khi gia nhập WTO
Các cam kết về hàng hóa: Đối với hàng hóa, Việt Nam đưa ra các ca kết về thuế xuất
nhập khẩu, hạn ngạch thuế quan và trợ cấp nông nghiệp và phi nông nghiệp.
Cam kết về thuế nhập khẩu và các biện pháp hạn chế nhập khẩu: Việt Nam đồng ý
ràng buộc mức trần cho toàn bộ biểu thuế gồm 10.600 dòng thuế. Mức bình quân toàn biểu
thuế được giảm từ mức hiện hành 17,4% xuống còn 13,4% và giảm dần trung bình 5 – 7%
hàng năm. Cắt giảm khoảng 1/3 số dòng thuế sau khi gia nhập và chủ yếu đối với các dòng có
thuế suất trên 20%.
Về hạn ngạch thuế quan, Việt Nam vẫn được bảo lưu quyền áp dụng hạn ngạch đối
với các mặt hàng đường, trứng gia cầm, lá thuốc lá và muối.
Đối với thuế XK, Việt Nam cam kết sẽ giảm thuế XK đối với phế liệu kim loại đen và
màu theo lộ trình, không cam kết đối với các sản phẩm khác.
3.3.2.2. Những điều chỉnh chính sách thuế trong thu hút FDI hiện nay cần thiết phải có
tác động vào sửa đổi cơ cấu ngành đầu tư
Những điều chỉnh chính sách thuế đều hướng tới sự thuận lợi hơn cho các nhà ĐTNN
trong những ngành ưu tiên. Điều chỉnh chính sách thuế trong thu hút FDI nên theo hướng như
sau:
- Cần đột phá trong lựa chọn đối tác thu hút đầu tư
- Điều chỉnh chính sách thuế trong thu hút FDI cần dành ưu tiên cho các dự án FDI
có khả năng sản xuất hàng xuất khẩu cao. Tỷ phần (%) thu ngoại tệ lớn.
3.3.2.3. Điều chỉnh chính sách thuế cần tập trung cao độ phân bổ vùng đầu tư
Sự tập trung này được chính phủ các nước coi như động lực của tăng trưởng kinh tế
cấp quốc gia, tạo hiệu ứng phát triển lan tỏa sang các vùng lân cận. Tuy nhiên, một điều dễ
nhận thấy rằng, nguồn vốn ĐTNN phân bổ không đồng đều tại các tỉnh, thành phố của Việt
Nam. Điều đó đã không có tác dụng lan tỏa kinh tế thuận lợi cho nền kinh tế, đặc biệt là về
Tiếng Việt
1. Đinh Văn Ân, Nguyễn Thị Tuệ Anh (đồng chủ biên) (2008), Thực hiện đầu tư trực tiếp
nước ngoài sau khi Việt Nam gia nhập WTO – Kết quả điều tra 140 doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài, Nxb lao động, Hà Nội.
2. Nguyễn Thị Tuệ Anh (2006), “Xem xét các yếu tố ảnh hưởng tới vốn đăng ký và vốn thực
hiện của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam”, Tạp chí quản lý
kinh tế (9, 9+10), trang 7,8
3. Mai Ngọc Cường (chủ biên) (2000), Hoàn thiện chính sách và tổ chức thu hút Đầu tư trực
tiếp của nước ngoài ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
4. Mai Thế Cường (2007), Kinh nghiệm của một số quốc gia ASEAN trong việc áp dụng các
biện pháp bảo hộ và phát triển sản xuất công nghiệp phù hợp với quy định của WTO,
Diễn đàn phát triển Việt Nam (VDF)
5. Vương Thị Thu Hiền (2008), Hoàn thiện hệ thống chính sách thuế ở Việt Nam trong điều
kiện gia nhập WTO, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội
6. Nguyễn Thường Lạng (2007), Sự thay đổi nguồn thu thuế nhập khẩu của Việt Nam khi
thực hiện các cam kết trong WTO, Nghiên cứu kinh tế.
6. Bùi Xuân Lưu (2003), Những điều chỉnh trong chính sách thương mại Việt Nam sau khi
gia nhập ASEAN: Hiện trạng và phương hướng tiếp tục điều chỉnh, Đề tài nghiên cứu
khoa học cấp Bộ, Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội.
7. Phùng Xuân Nhạ chủ biên (2010), Điều chỉnh chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài ở
Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Sách chuyên khảo, Nxb ĐHQGHN,
Hà Nội.
8. Bùi Huy Nhượng (2006), Một số biện pháp thúc đẩy việc thực hiện các dự án FDI tại Việt
Nam, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
9. Nhiều tác giả (2008), 20 năm Đầu tư nước ngoài – nhìn lại và hướng tới, Nxb Tri thức, Hà
Nội.
10. Nguyễn Xuân Trình, Lê Xuân Sang (2007), Điều chỉnh chính sách thuế và trợ cấp sau khi
gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới, Nxb Tài chính, Hà Nội.
Các Websites: