BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGÔ THỊ VÂN
ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC IN VITRO CỦA 5 DẪN
XUẤT ARTEMISININ TRÊN CHỦNG
PLASMODIUM FALCIPARUM KHÁNG
CHLOROQUIN VÀ THỬ ĐỘC TÍNH CẤP
CỦA DẪN XUẤT CÓ HIỆU LỰC CAO NHẤT
TRÊN ĐỘNG VẬT THỰC NGHIỆM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
HÀ NỘI - 2013
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGÔ THỊ VÂN
ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC IN VITRO CỦA 5 DẪN
XUẤT ARTEMISININ TRÊN CHỦNG
PLASMODIUM FALCIPARUM KHÁNG
CHLOROQUIN VÀ THỬ ĐỘC TÍNH CẤP
CỦA DẪN XUẤT CÓ HIỆU LỰC CAO NHẤT
TRÊN ĐỘNG VẬT THỰC NGHIỆM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
Người hướng dẫn :
1. Ths. Lê Thị Thu Hương
2. TS. Bùi Quang Phúc
Nơi thực hiện :
Khoa Nghiên cứu điều trị sốt rét
Viện Sốt rét – Ký sinh trùng -Côn trùng Trung ương
HÀ NỘI - 2013
LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng kính
trọng và biết ơn sâu sắc tới cô giáo ThS. Lê Thị Thu Hương (Bộ môn Vi sinh – Sinh học,
1.2.2.1. Tình hình bệnh sốt rét trên thế giới 6
1.2.2.2. Tình hình bệnh sốt rét ở Việt Nam 6
1.2.3. Tình hình kháng thuốc của Plasmodium 7
1.2.3.1. Tình hình kháng thuốc của Plasmodium trên thế giới 7
1.2.3.2. Tình hình kháng thuốc của Plasmodium ở Việt Nam 8
1.3. ĐẶC ĐIỂM ARTEMISININ VÀ DẪN XUẤT 9
1.3.1. Nguồn gốc, tính chất của artemisinin và dẫn xuất 9
1.3.1.1. Nguồn gốc, cấu trúc, tính chất của artemisinin 9
1.3.1.2. Đặc điểm một số dẫn xuất của artemisinin 9
1.3.2. Cơ chế tác dụng và nhược điểm chống sốt rét của ART và dẫn xuất 10
1.3.2.1. Cơ chế tác dụng của artemisinin và dẫn xuất 10
1.3.2.2. Nhược điểm của artemisinin và dẫn xuất 11
1.4. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 5 DẪN XUẤT ARTEMISININ 32, 33, 39c, 39d, 39e 12
1.4.1. Tình hình nghiên cứu, ưu điểm của các dẫn xuất 10 – deoxoartemisinin 12
1.4.2. Cấu trúc, tính chất của 5 dẫn xuất 32, 33, 39c, 39d, 39e 12
1.4.2.1. Nghiên cứu tổng hợp 10-[(2’-hydroxy-3’-imidazol) propyl] deoxoartemisinin (32) và
10-[(2’α-hydroxy-3’-imidazol) propyl] deoxoartemisinin (33) 13
1.4.2.2. Nghiên cứu tổng hợp các dẫn xuất amid 10-(deoxoartemisinin)-N-((pyridin-3-yl)
methyl) acetamide (39c), 10-(deoxoartemisinin)-N-((pyridin-2-yl) methyl) acetamide (39d), 10-
(deoxoartemisinin)-N-phenethylacetamide (39e) 13
1.4.2.3. Tính chất của 5 dẫn xuất 14
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1. NGUYÊN VẬT LIỆU, THIẾT BỊ 16
2.1.1. Chủng ký sinh trùng sốt rét 16
2.1.2. Động vật thí nghiệm 16
2.1.3. Thuốc và hóa chất nghiên cứu 16
2.1.4. Dụng cụ và thiết bị dùng trong nghiên cứu 17
2.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 17
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.3.1. Thử nghiệm in vitro của 5 dẫn xuất 32, 33, 39c, 39d, 39e trên chủng P.falciparum kháng
BN Bệnh nhân
BNSR Bệnh nhân sốt rét
CHQ Chloroquin
C
M
Nồng độ của các mẫu thử tính theo thể tích
DHA Dihydroartemisinin
DMSO Dimethyl sulfoxide
ĐVTN Động vật thực nghiệm
HC Hồng cầu
KST Ký sinh trùng
KSTSR Ký sinh trùng sốt rét
MĐKST Mật độ ký sinh trùng
P. falciparum Plasmodium falciparum
P. vivax Plasmodium vivax
RI, II, III Mức độ kháng thuốc của ký sinh trùng sốt rét
SKD Sinh khả dụng
SR Sốt rét
TCYTTG Tổ chức y tế thế giới
TLPT Trọng lượng phân tử
Tiếng anh
GHS
Globally Harmonised Classification System
for Chemical Substances and Mixtures
Hệ thống phân loại độc tính cấp
theo giá trị giới hạn LD
50
IC
50
Inhibitory Concentration 50%
3.2
Sự đáp ứng của chủng P. falciparum K1 trên in vitro với chất 32
24
3.3
Sự đáp ứng của chủng P. falciparum K1 trên in vitro với chất 33
26
3.4
Sự đáp ứng của chủng P. falciparum K1 trên in vitro với chất
39c
27
3.5
Sự đáp ứng của chủng P. falciparum K1 trên in vitro với chất
39d
28
3.6
Sự đáp ứng của chủng P. falciparum K1 trên in vitro với chất
39e
29
3.7
Nồng độ ức chế 50% KST phát triển của 5 dẫn xuất ở chủng K1
29
3.8
Nồng độ ức chế tối thiểu của 5 dẫn xuất trên chủng
P.falciparum K1
31
3.9
Kết quả sau 7 ngày theo dõi chuột uống chất 32 ở nồng độ khác
nhau
32
3.10
falciparum chúng tôi tiến hành đề tài “Đánh giá hiệu lực in vitro của 5 dẫn xuất artemisinin
trên chủng Plasmodium falciparum kháng cloroquin và thử độc tính cấp của dẫn xuất có
hiệu lực cao nhất trên động vật thực nghiệm” với các mục tiêu sau:
Nghiên cứu hiệu lực in vitro của 5 dẫn xuất artemisinin 32, 33, 39c, 39d, 39e trên chủng
Plasmodium falciparum kháng cloroquin.
Thử nghiệm độc tính cấp của dẫn xuất có hiệu lực mạnh nhất trên động vật thực nghiệm.
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. KÝ SINH TRÙNG SỐT RÉT PLASMODIUM
1.1.1. Đặc điểm hình thái
Trên Trái Đất có tới 120 loài Plasmodium gây bệnh trên động vật nhưng chỉ có 4 loài gây
bệnh cho người: Plasmodium falciparum (P. falciparum), Plasmodium vivax (P. vivax),
Plasmodium ovale (P. ovale), Plasmodium malariae (P. malariae) [8], [10]. Cố định hồng cầu
(HC) trên phiến kính (lam kính) rồi nhuộm theo phương pháp Giemsa hay các phương pháp
tương tự (Wright, Field) để có thể quan sát và định loài ký sinh trùng sốt rét (KSTSR). Trên tiêu
bản thường thấy KSTSR gồm 2 thành phần chính là nguyên sinh chất bắt màu xanh và nhân bắt
màu đỏ, ngoài ra còn thấy các hạt sắc tố [8], [15]. Trong giai đoạn HC ở người, KSTSR có 3
dạng hình thể [8], [15]:
- Thể tư dưỡng (Trophozoite hay thể nhẫn): thể tư dưỡng non có hình nhẫn, đường kính khoảng
1/5 – 1/3 đường kính HC, gồm một nhân màu đỏ, tế bào chất màu xanh da trời và một không bào
to, chiếm phần lớn tế bào chất. Thể tư dưỡng già có hình dạng giống amip.
- Thể phân liệt (Schizonte): Nhân và tế bào chất đã phân chia. Thể phân liệt già, mỗi mảnh nhân
được một mảnh tế bào chất bao quanh (mảnh trùng/merozoite). Số lượng mảnh trùng tùy vào
loài Plasmmodium.
- Thể giao bào (Gametocyte): Là thể hữu tính, hình dạng khác nhau tùy theo loài.
* Hình thể của P. falciparum trên lam máu nhuộm theo phương pháp Giemsa [8], [15]:
- Thể tư dưỡng non: Nhẫn nhỏ có đường kính chỉ bằng 1/5 – 1/6 đường kính HC. Thể nhẫn
thường nằm ở rìa tế bào HC và hay gặp nhẫn có 2 nhân.
- Thể tư dưỡng già: Nguyên sinh chất dày hơn, nhân to ra, không bào biến mất và xuất hiện các
hạt sắc tố hình que, màu nâu ánh vàng, rải rác hoặc tập trung thành từng đám trên nguyên sinh
1 chu kỳ sinh sản vô tính ở đó. Lần lượt ở thể tư dưỡng non, rồi phát triển thành thể tư dưỡng
già, sau đó nhân và nguyên sinh chất được phân chia ra làm nhiều mảnh để tạo thành thể phân
liệt. Thể phân liệt phát triển đầy đủ sẽ phá vỡ HC, giải phóng ra các mảnh trùng của HC. Hầu
hết các mảnh trùng này lại tiếp tục xâm nhập vào các HC bình thường mới để sinh sản vô tính
trong HC. Một số mảnh trùng biệt hóa thành thể hữu tính: các giao bào đực và giao bào cái. Nếu
không được muỗi truyền bệnh hút vào dạ dày, các giao bào này sẽ tự tiêu hủy trong máu [4], [8],
[15].
Thời gian để hoàn thành một chu kỳ của KSTSR trong HC khác nhau tùy loài KSTSR: P.
falciparum khoảng 48 giờ, gây sốt cách nhật hoặc sốt hàng ngày nếu nhiễm nhiều dòng khác
nhau; P. vivax và P. ovale khoảng 48 giờ, gây sốt cách nhật; P. malariae khoảng 72 giờ gây sốt
3 ngày một cơn [8], [15].
1.1.2.2. Chu kỳ phát triển hữu tính trong cơ thể muỗi
Sau khi được muỗi Anopheles hút vào dạ dày, các giao bào đực và cái phát triển thành giao
tử. Giao tử đực và cái phối hợp với nhau tạo thành hợp tử rồi trứng di động. Trứng di động chui
qua thành dạ dày muỗi, phát triển trên mặt ngoài của thành dạ dày, tròn lại, to dần, phân chia
thành nhiều thoa trùng bên trong. Cuối cùng, thoa trùng được giải phóng, di chuyển về tuyến
nước bọt của muỗi, khi muỗi đốt người thoa trùng xâm nhập cơ thể người và bắt đầu chu kỳ sinh
sản vô tính trong người [4], [8], [15].
1.2. TÌNH HÌNH SỐT RÉT TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.2.1. Vài nét khái quát về bệnh sốt rét
Bệnh sốt rét là bệnh lây nhiễm do ký sinh trùng đơn bào thuộc giống Plasmodium gây ra
[10].
Lâm sàng bệnh SR thường được phân ra làm hai loại là SR thể thông thường và SR ác tính.
Đồng thời còn có một số thể SR đặc biệt khác: SR ở trẻ em, SR ở phụ nữ có thai, SR bẩm sinh,
SR do truyền máu, SR mạn tính, SR nội tạng tiến triển [8]. Bệnh biểu hiện điển hình bằng những
cơn sốt rét với 3 triệu chứng cơ bản: rét run, sốt, ra mồ hôi [15]. Tần số và các mức độ các cơn
sốt rét tùy thuộc vào loài KSTSR, nhưng thông thường là 2-3 ngày. Khi đó các đợt ký sinh trùng
đồng thời nhân lên, hồng cầu bị phá hủy hoặc có thể kết dính vào nhau và với thành mạch máu
xuất hiện tử vong các tế bào này làm tắc nghẽn mạch máu cung cấp máu cho não (SR thể não)
và các tổ chức khác [10], [39].
vùng dân tộc thiểu số, nơi bà con còn chưa có nhiều kiến thức về bệnh SR [41].
1.2.3. Tình hình kháng thuốc của Plasmodium
1.2.3.1. Tình hình kháng thuốc của Plasmodium trên thế giới
Trong những năm gần đây, kháng thuốc đang là thách thức lớn trong phòng chống sốt rét
trên toàn cầu, đặc biệt là chủng Plasmodium falciparum được phát hiện từ đầu thế kỷ 20.
Năm 1910 P. falciparum được phát hiện kháng quinin đầu tiên ở Brazil và hiện đã kháng ở
nhiều vùng Đông Nam Á, Nam Mỹ, Châu Phi (Tanzania) [16], [40]. Năm 1949, P. falciparum
và P. malariae kháng proguanin được phát hiện ở Brazil và sau đó lan ra Kennya, Tanzania, Chi
Lê, Malaysia, Indonesia và Việt Nam (Peter, 1970) [16]. Năm 1957, trường hợp đầu tiên P.
falciparum kháng chloroquin (CHQ) phát hiện ở biên giới Colombia và Venezuela, tiếp sau đó
là Thái Lan (Harinasuta, 1961). Theo thống kê của WHO, tình trạng kháng CHQ đã lan rộng
khắp thế giới chiếm 75/95 quốc gia kháng thuốc, bên cạnh đó, hiện tượng kháng CHQ gấp 10
lần so với 50 năm trước [16], [20].
Ngoài ra, còn phát hiện thêm rất nhiều trường hợp P. falciparum kháng thuốc khác như
pyrimethamin, piperaquin (PQ), Fansidar…Đặc biệt hơn nữa là tình trạng P. falciparum kháng
lại artemisinin (ART) và dẫn xuất – thuốc có hiệu lực hàng đầu hiện nay. Trong đó là hiện tượng
kháng với ART xảy ra tại khu vực Đông Nam Á, đáng chú ý là vùng sông Mê Kông với 4 nước:
Lào, Campuchia, Thái Lan, Việt Nam [16], [20], [41].
Như vậy, hiện nay KSTSR đã kháng với hầu hết các loại thuốc SR ở rất nhiều nước trên
thế giới, đây là trở ngại rất lớn cho công tác phòng chống SR [16]. Vấn đề đặt ra hiện nay cho
toàn thế giới là tìm ra thuốc hoặc dẫn xuất có hiệu lực điều trị cao và không bị P. falciparum
kháng.
1.2.3.2. Tình hình kháng thuốc của Plasmodium ở Việt Nam
Tình trạng P. falciparum kháng CHQ lần đầu tiên tại Việt Nam được ghi nhận ở Nha Trang
năm 1961, sau đó lan ra cả Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, miền Nam, như Tây Nguyên (1964),
Đồng Hới (1967), Quảng Trị (1973), công trường 7 Quảng Bình (1967), Bình Định (1968), Tây
Ninh (1964), Phan Thiết (1974) [11]. Hiện nay, xu hướng kháng CHQ đang tăng trở lại, nghiên
cứu tại Quảng Trị năm 1999 cho thấy P. falciparum có mức kháng RII với CHQ là 7,1%, tại
Quảng Trực, tỉnh Đăk Lăk tỷ lệ thất bại điều trị (RI, RII và RIII) của phác đồ CHQ là 48% [22],
đến năm 2008-2009 tỷ lệ kháng CHQ ở Quảng Trị là 75%, tại Đăknông lên đến 81% [7].
vòng lacton, còn vòng C và D đều là dị vòng bão hòa trong đó vòng D là một trioxan, dạng liên
quan đến hoạt tính chống SR của ART [21].
ART ít tan trong nước và dầu, rất dễ bị thủy phân vòng lacton trong dung môi phân cực
[31], [38]. Do vậy sinh khả dụng (SKD) và độ bền vững của ART không cao, và đây cũng chính
là hạn chế của ART khi dùng [3].
1.3.1.2. Đặc điểm một số dẫn xuất của artemisinin
Với mục đích tăng cường khả năng hòa tan, tăng hoạt lực chống SR, đầu tiên năm 1976 các
nhà khoa học Trung Quốc đã tổng hợp thành công dihydroartemisinin (DHA) bằng cách khử hóa
nhóm CO lacton thành OH bán acetal với tác nhân khử hóa là natri borohydric [21]. Mặc dù
DHA có hoạt lực mạnh hơn gấp 2 lần ART nhưng nó vẫn ít tan trong nước, dầu nên DHA được
sử dụng như là 1 chất trung gian quan trọng để bán tổng hợp các dẫn xuất khác [21].
Thông qua phản ứng ether hóa DHA, đã có các dẫn xuất mới ra đời và được ứng dụng
nhiều nhất là artemether (AM) và arteether (AE) TLPT lần lượt là 298 và 312, đặc tính lý hóa
tương tự ART, ưu điểm hơn ART là dễ tan trong dầu, dung môi hữu cơ như ethanol, aceton,
chloroform [31], [38].
Artesunat (AS) là sản phẩm của phản ứng ester hóa DHA, cải thiện được khả năng tan
trong nước của ART, được sử dụng rộng rãi ở các nước Đông Nam Á và Châu Phi để diệt ký
sinh trùng sốt rét P. falciparum [14].
Ngoài ra, còn nhiều phương pháp tổng hợp các dẫn xuất của ART từ DHA đang được
nghiên cứu hiện nay có khả năng mang lại nhiều hiệu quả cao [21].
1.3.2. Cơ chế tác dụng và nhược điểm chống sốt rét của ART và dẫn xuất
1.3.2.1. Cơ chế tác dụng của Artemisinin và dẫn xuất
Qua nhiều nghiên cứu về cơ chế tác dụng từ khi chiết xuất thành công ART nhưng cơ chế
tác dụng của ART và dẫn xuất vẫn còn nhiều tranh cãi. Nó có thể là sự phối hợp nhiều cơ chế
như tác động lên màng, ức chế tổng hợp protein, gốc tự do hay oxy hoạt động… [21].
Theo kết quả của nhóm “nghiên cứu quinghaosu” Trung Quốc, ART tác động lên màng
của KSTSR là tác dụng chính. Đầu tiên là làm biến đổi cấu trúc màng, sau đó tạo ra các không
bào tự tiêu, cuối cùng làm tan rã bên trong KST [35].
Theo Gu H.M và cộng sự cho rằng DHA và AM có khả năng ức chế in vitro với tổng hợp
protein ở hồng cầu người nhiễm P. falciparum, trong đó ức chế tổng hợp acid nucleic xảy ra
tùy thuộc vào thời gian dùng thuốc ngắn hay dài (7 ngày tỷ lệ tái phát vẫn còn 10%) [4].
Hình 1.2. Sự biến đổi của dẫn xuất ART trong huyết tương [37].
Ngoài ra, theo nghiên cứu dược lý độc tính trên thần kinh của ART và dẫn xuất trên động
vật, hầu hết các dẫn xuất đều có độc tính, nhưng DHA (sản phẩm chuyển hóa của hầu hết các
ete) thì ảnh hưởng nặng nề trên thần kinh trung ương [20].
Như vậy, hiện nay hướng nghiên cứu của các dẫn xuất ART với mục đích khắc phục nhược
điểm của ART được phát triển theo 2 hướng: hướng thứ nhất là tạo ra các dẫn xuất mới đi từ
ART và DHA, hướng thứ 2 là phối hợp 1 dẫn xuất của ART với 1 thuốc SR khác có thời gian
bán thải dài hơn [20].
1.4. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 5 DẪN XUẤT ARTEMISININ 32, 33,
39c, 39d, 39e
1.4.1. Tình hình nghiên cứu, ưu điểm của các dẫn xuất 10 – deoxoartemisinin
Tình hình kháng thuốc ngày càng gia tăng đã đòi hỏi một hướng điều trị hoặc thuốc điều trị
mới và việc tổng hợp các dẫn xuất mới của ART đã được các nhà khoa học trên thế giới quan
tâm nghiên cứu, đặc biệt là thay đổi cấu trúc lacton của DHA, tạo ra các dẫn xuất bền hơn và có
hoạt tính cao hơn. Ví dụ như các dẫn xuất fluoro–artemisinin, 11-aza-artemisinin [13].
Theo các nghiên cứu gần đây cho thấy các dẫn xuất non-acetal của ART, gọi là 10-
deoxoartemisinin có độ bền vững 15-22 lần hơn các dẫn xuất acetal trong điều kiện mô phỏng
của dạ dày [27]. Bên cạnh đó dẫn xuất mới 10-deoxoartemisinin với dị vòng, amin và nhóm thân
nước đã thể hiện hoạt tính chống sốt rét in vitro cao hơn 10 – 25 lần so với ART [36].
Điều này cho thấy những hợp chất có bộ khung cơ bản của ART nhưng không chứa nhóm
chức lacton, acetal mà thay vào đó là các dẫn xuất chứa liên kết 10-C-C, chứa nitơ có khả năng
tan tốt trong nước và trong dầu, tiện lợi cho việc sử dụng nhờ khả năng tạo muối tan với acid
nhờ tính bazơ của nitơ đang là hướng đi mới và đúng đắn trong việc phòng chống sốt rét [37].
1.4.2. Cấu trúc, tính chất của 5 dẫn xuất 32, 33, 39c, 39d, 39e
Theo hướng nghiên cứu trên Viện Hóa học đã nghiên cứu tổng hợp thành công 5 dẫn xuất
từ DHA và sản phẩm trung gian 10β-allyldeoxoartemisinin.
1.4.2.1. Nghiên cứu tổng hợp 10-[(2’-hydroxy-3’-imidazol) propyl] deoxoartemisinin (32) và 10-
[(2’α-hydroxy-3’-imidazol) propyl] deoxoartemisinin (33)
Qui trình tổng hợp đi từ DHA (9) qua 4 bước phản ứng (tạo 34, 35, 36) thu được các chất
Từ hợp chất 35 được điều chế từ DHA ở trên qua 2 bước để tạo thành các dẫn xuất amid
theo hình 1.4 [37].
Hình 1.4. Qui trình tổng hợp các dẫn xuất amid của ART (39a-e) [37].
Sau khi tổng hợp 5 dẫn xuất đều được đánh giá kết quả thông qua phổ cộng hưởng từ hạt
nhân
1
H – NMR để xác định lại cấu trúc hợp chất [37].
Vậy, tất cả dẫn xuất 32, 33, 39 (c, d, e) của ART là những hợp chất lần đầu tiên được
nghiên cứu và điều chế ở Việt Nam đã thỏa mãn các yêu cầu về tổng hợp và hóa học. Về mặt qui
trình tổng hợp, đảm bảo tính ổn định, các bước dễ thực hiện (nhiệt độ phòng, thời gian vừa phải,
hóa chất phổ biến), hiệu suất phản ứng cao và rất cao (85-97%). Về mặt hóa học các hợp chất
trên vừa có độ bền cao (liên kết 10-C-C) và khả năng tan tốt (tạo muối tan nhờ nitơ) [37].
1.4.2.3. Tính chất của 5 dẫn xuất
Cả 5 dẫn xuất đều tan tốt trong nước và trong dầu hơn ART như Dimethyl sulfoxide
(DMSO), đặc biệt các dẫn xuất 32, 33 tan tốt trong C
2
H
5
OH, còn các dẫn xuất 39c, 39d, 39e thì
tan tốt trong CH
2
Cl
2
[37]. Độ bền hóa học cao, bền vững hơn trong môi trường pH acid dạ dày
[27].
Một số chỉ số cơ bản về đặc tính lý, hóa cơ bản của 5 dẫn xuất được nêu chi tiết ở bảng 1.1
sau:
Bảng 1.1. Đặc trưng lý – hóa cơ bản của 5 dẫn xuất [37].
STT Tên hợp chất TLPT (gam/mol) Độ tinh khiết (%)
1 NT – 32 392 99
Hồng cầu và huyết thanh người nhóm O.
Dịch treo 40% (4ml cặn HC lành + 6ml RPHS), dịch treo 4% (50μl dịch treo 40% + 450 μl
RPHS).
Dung môi hòa tan: Dimethyl sulfoxide (DMSO) của hãng Sigma, bột gôm arabic 1%.
Hóa chất khác: Ethanol, methanol tuyệt đối, Giemsa, dầu soi, đệm phosphate pH=6,8; dung
dịch acid picric 1%, nước cất, dung dịch chống đông herparin, sorbitol 27%, sorbitol 5%.
2.1.4. Dụng cụ và thiết bị dùng trong nghiên cứu
Phiến nhựa 96 giếng vô trùng, bình nến (Desicator), tủ sấy, nồi hấp, tủ ấm.
Bình đựng ni tơ lỏng
Kính hiển vi, lam kính, pipet Dragendorff, pipet các loại.
Cân điện tử, máy đo pH.
Bộ dụng cụ pha thuốc: pipet Eppendorf, bộ chày cối, ống đong, cốc có mỏ, bình nón, đũa
thủy tinh.
Bộ dụng cụ mổ chuột: bông, cồn 70, kéo, xylanh 1ml, kính lúp, panh…
2.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Nuôi cấy KSTSR P. falciparum kháng CHQ liên tục trong phòng thí nghiệm để ổn định
chủng trước khi tiến hành thực nghiệm. Thử nghiệm in vitro của 5 dẫn xuất 32, 33, 39c,
39d, 39e trên chủng P.falciparum kháng CHQ theo phương pháp thử 48 giờ của Nguyễn
Đình Phúc và chọn ra chất có hoạt tính chống SR mạnh nhất để thử độc tính cấp trên
động vật.
Thử độc tính cấp của chất có hoạt tính in vitro cao nhất trên động vật thực nghiệm ở các
mức liều dùng khác nhau theo đường uống.
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1. Thử nghiệm in vitro của 5 dẫn xuất 32, 33, 39c, 39d, 39e trên chủng P.falciparum
kháng CHQ nuôi cấy
2.3.1.1. Nuôi cấy KSTSR P. falciparum liên tục trong phòng thí nghiệm [5]
Chủng P. falciparum kháng CHQ (K1) được nuôi liên tục trong labô theo phương pháp
bình nến của Trager và Jensen, thực hiện trên nguyên tắc vô trùng trong thu thập mẫu và nuôi
cấy.