Nghiên cứu bào chế gel chứa tiểu phân nano lipid vitamin e - Pdf 29

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ PHƯỢNG

NGHIÊN CỨU BÀO CHẾ GEL CHỨA
TIỂU PHÂN NANO LIPID VITAMIN E

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
HÀ NỘI – 2013
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ PHƯỢNG
NGHIÊN CỨU BÀO CHẾ GEL CHỨA

Mặc dù đã cố gắng nhưng khóa luận của tôi cũng không thể tránh khỏi những
thiếu sót. Tôi mong nhận được sự thông cảm và góp ý của các thầy cô và các bạn.
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2013
Sinh viên Nguyễn Thị Phượng MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Chương 1: TỔNG QUAN 2
1.1. ĐẠI CƯƠNG VỀ HỆ TIỂU PHÂN NANO LIPID RẮN 2
1.1.1. Định nghĩa 2
1.1.2. Một số tính chất của SLNs 2
1.1.3. Cơ chế giải phóng và khả năng kiểm soát giải phóng dược chất 3
1.1.4. Hạn chế của SLNs 6
1.1.5. Độ ổn định của SLNs 7
1.1.6. Ứng dụng SLNs dùng ngoài da 7
1.2. ĐẠI CƯƠNG VỀ GEL 9
1.2.1. Khái niệm về gel 9
1.2.2. Ứng dụng gel trong giải phóng thuốc 10
1.2.3. Một số nghiên cứu về gel chứa SLNs dùng ngoài 10
1.3. ĐẠI CƯƠNG VỀ VITAMIN E 11
1.3.1. Công thức hóa học và danh pháp 11
1.3.2. Tính chất vật lý 11
1.3.3. Độ ổn định 12

3.7. Đánh giá một số tính chất của gel bào chế từ hệ tiểu phân nano lipid rắn
vitamin E 42
3.7.1. Định lượng hàm lượng vitamin E trong gel bào chế từ hệ tiểu phân nano 42
3.7.2. Khả năng giải phóng vitamin E từ gel chứa hệ tiểu phân nano vitamin E 42
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUT 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CDH : Chất diện hoạt
HPLC : Sắc ký lỏng hiệu năng cao
(High Performance Liquid Chromatography)
kl/kl : Khối lượng/khối lượng
KTTP : Kích thước tiểu phân
PDI : Chỉ số đa phân tán
(Polydispersity index)
SLN : Tiểu phân nano lipid rắn
(Solid lipid nanoparticle)
SLNs : Hệ tiểu phân nano lipid rắn
(Solid lipid nanoparticles)
TEM : Kính hiển vi điện tử truyền qua
(Transmission electron microscopy)

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Nguyên vật liệu sử dụng trong quá trình thực nghiệm 16
Bảng 3.1. Mật độ quang của dãy dung dịch chuẩn vitamin E ở bước sóng 286 nm 26
Bảng 3.2. Diện tích pic của dãy dung dịch chuẩn vitamin E 27
Bảng 3.3. Công thức SLNs vitamin E có chất mang là các loại lipid khác nhau và kết

Hình 3.1. Đường chuẩn biểu thị mối quan hệ giữa nng độ vitamin E và mật độ quang
26
Hình 3.2. Đường chuẩn biểu thị mối quan hệ giữa nng độ vitamin E và diện tích pic
27
Hình 3.3. Đ thị tỷ lệ vitamin E giải phóng theo thời gian từ mẫu SLNs CT5, CT6,
CT7, CT8, CT9 (%) 30
Hình 3.4. Đ thị tỷ lệ vitamin E giải phóng theo thời gian từ mẫu SLNs CT14, CT15,
CT16, CT17, CT18 (%) 33
Hình 3.5. Đ thị tỷ lệ vitamin E giải phóng theo thời gian từ mẫu SLNs CT19, CT20,
CT21 (%) 35
Hình 3.6. Đ thị biểu diễn sự thay đổi KTTP và PDI của SLNs theo thời gian siêu âm
38
Hình 3.7. Đ thị tỷ lệ vitamin E giải phóng theo thời gian từ hệ tiểu phân nano lipid
rắn bào chế theo CT21 (%) 40
Hình 3.8. Ảnh chụp hệ tiểu phân nano lipid rắn bào chế theo CT21 bằng kính hiển vi
điện tử truyền qua (TEM) 41
Hình 3.9. Biểu đ phân bố kích thước tiểu phân của hệ tiểu phân nano lipid rắn bào
chế theo CT21 41
Hình 3.10. Đ thị tỷ lệ vitamin E giải phóng theo thời gian từ gel chứa hệ tiểu phân nano
lipid rắn (%) 43
1

ĐẶT VN ĐỀ
Ngày nay, nhu cầu sử dụng mỹ phẩm để làm đẹp ngày càng tăng lên, trong đó
vitamin E nổi bật lên là một hoạt chất thiên nhiên có tác dụng chăm sóc sức khỏe và
sắc đẹp. Vitamin E được dùng theo cả đường uống và đường ngoài da, trong đó dạng
dùng ngoài da được quan tâm nhiều hơn cả. Lợi ích nổi bật của vitamin E khi dùng
ngoài da là khả năng ngăn ngừa lão hóa da và bảo vệ da khỏi tia UV. Ngoài ra, vitamin
E còn có tác dụng làm giảm xuất hiện các nếp nhăn, dưỡng ẩm cho da, giúp da trở
nên mịn màng. Nhưng vitamin E lại có nhược điểm là rất dễ bị phân hủy bởi ánh

là lớp chất diện hoạt (đầu sơ nước của phân tử chất diện hoạt được gắn với phần lõi
rắn) [23].
Điểm khác biệt của SLNs so với nano nhũ tương đó là pha lipid của nano nhũ
tương là thể lỏng còn pha lipid của SLNs là thể rắn, chính điều này đã đem đến nhiều
ưu điểm cho SLNs: tính ổn định của hệ cao, kéo dài thời gian giải phóng dược chất
thân dầu [9], [16].

Hình 1.1. Cấu trúc tiểu phân nano lipid rắn (SLN)
1.1.2. Một số tính chất của SLNs
Việc xác định các tính chất của SLNs là cần thiết để kiểm soát chất lượng và
đánh giá khả năng hoạt động của hệ. Một số tính chất điển hình của SLNs gm:
 Kích thước tiểu phân và thế zeta.
Kích thước tiểu phân phụ thuộc vào cấu trúc của tiểu phân cũng như loại, nng
độ lipid và chất diện hoạt [25]. Đường kính tiểu phân thường được xác định bằng
phương pháp quang phổ tương quan photon (PCS - Photon correlation spectroscopy)
3

và nhiễu xạ lase (LD - Laser diffraction) [19], [23].
Giá trị thế zeta giúp dự đoán sự ổn định của SLNs trong bảo quản: giá trị tuyệt
đối của thế zeta trong khoảng 30 – 60 mV thì hệ ổn định nhất, tránh được sự kết tập
các tiểu phân, và thường được xác định bằng máy đo thế zeta (zetameter) [11], [19].
 Hình dạng tiểu phân.
Việc xác định hình dạng chung của các tiểu phân góp phần đánh giá kích thước
tiểu phân và sự phân bố các tiểu phân [23]. Tiểu phân có dạng hình cầu có khả năng
kiểm soát giải phóng tốt nhất và tạo ra sự tiếp xúc ít nhất giữa dược chất kết hợp với
môi trường nước [22]. Phương pháp hay được sử dụng là dùng kính hiển vi điện tử
quang học và kính hiển vi điện tử truyền qua [11], [23].
 Định lượng dược chất kết hợp.
Phần dược chất tự do và lipid rắn được tách riêng khỏi môi trường nước bằng
phương pháp siêu ly tâm, lọc ly tâm hoặc sắc ký thấm qua gel [25], [23]. Sau đó dược

Cơ chế giải phóng dược chất có liên quan trực tiếp đến sự chuyển pha của
dược chất giữa pha lipid nóng chảy (chứa dược chất) với pha nước (dung dịch chất
diện hoạt) trong suốt quá trình bào chế bằng phương pháp đng nhất hóa nóng. Sự
chuyển pha của dược chất từ pha lipid sang pha nước càng lớn khi độ tan của dược
chất trong nước càng cao, khi đó nhiệt độ bào chế và nng độ chất diện hoạt sẽ đóng
vai trò quan trọng trong việc hình thành hệ [5], [20].
 Hệ lõi vỏ với dược chất tập trung ở vỏ:
Cấu trúc tiểu phân này được tạo ra trong trường hợp dược chất ít tan trong pha
lipid [27]. Mô hình này được giải thích dựa trên cơ chế đông đặc của lipid trong quá
trình bào chế: sau khi đng nhất hóa, mỗi tiểu phân là một hỗn hợp giữa lipid và dược
5

chất, khi làm nguội thì lipid có thể đông đặc trước dược chất, tạo thành lõi lipid không
chứa hoặc chứa rất ít dược chất [5], [24]. Phần lipid còn lại sẽ dần trở thành dung
dịch bão hòa dược chất, khi đạt đến điểm eutecti thì cả dược chất và lipid sẽ đông đặc
cùng lúc ở lớp vỏ của tiểu phân, tạo thành lớp vỏ lipid chứa nng độ cao dược chất
[5]. Ngoài ra độ tan của dược chất trong pha nước cũng có ảnh hưởng: với những
dược chất tan được trong pha nước thì khi tăng nng độ chất diện hoạt và nhiệt độ
trong quá trình bào chế, dược chất sẽ chuyển pha từ pha lipid sang pha nước. Nhưng
khi diễn ra quá trình làm nguội, độ tan của dược chất trong pha nước sẽ giảm dần và
hệ quả là dược chất sẽ chuyển pha trở lại pha lipid, lúc này tiểu phân lipid đã đông
rắn phần lõi, do đó nng độ cao dược chất sẽ tập trung ở lớp vỏ tiểu phân. Mô hình
này giúp tạo ra kiểu giải phóng dược chất nhanh với nng độ cao [5], [20], [24].
 Hệ lõi vỏ với dược chất tập trung ở lõi:
Cấu trúc tiểu phân này sẽ được tạo ra trong trường hợp nng độ dược chất cao
trong pha lipid hoặc gần đạt đến nng độ bão hòa [27], [20]. Sau khi đng nhất hóa,
quá trình làm nguội sẽ tạo thành dung dịch quá bão hòa của dược chất trong lipid và
dược chất sẽ kết lắng trước lipid, việc này giúp giữ lại dược chất trong pha lipid [5],
[24]. Sau đó lớp lipid ở ngoài sẽ đông đặc, tạo thành một lớp màng bao quanh lõi
dược chất. Cấu trúc này tạo ra một mô hình kiểm soát giải phóng qua màng [24].

 Dược chất dễ bị tách khỏi hệ lipid trong quá trình bảo quản.
Tác dụng của SLNs phụ thuộc vào trạng thái của lipid vì nó ảnh hưởng đến sự
liên kết và giải phóng dược chất. Khi ở cấu hình kém ổn định với nhiệt động học cao,
phân tử lipid có tính linh động cao và có khả năng kết hợp với dược chất. Nhưng
trong quá trình bảo quản, cấu hình lipid sẽ có xu hướng trở về trạng thái ổn định và
tách phân tử dược chất ra khỏi hệ [11], [25].
 Hình dạng tiểu phân bị thay đổi.
Lipid thường có xu hướng kết tụ lại thành hình tiểu cầu làm tăng diện tích bề
mặt. Để tránh hiện tượng đó thì cần tăng lượng chất diện hoạt, nhưng lại làm một
lượng lớn phân tử dược chất sẽ tập trung ở trên bề mặt tiểu phân lipid rắn, tức là đã
đi ngược lại mục đích của SLNs là giữ dược chất bên trong lipid [25].

7

1.1.5. Độ ổn định của SLNs
Kích thước nhỏ ở mức nano và mật độ đng đều của các tiểu phân làm cho lực
hút giữa các tiểu phân gần như không ảnh hưởng đến sự phân bố của hệ, chuyển động
Brown đủ để hệ duy trì trạng thái mà không gây nổi váng hay kết lắng [17]. Sự ổn
định của SLNs qua thời gian bảo quản được đánh giá thông qua sự thay đổi về hình
thức cảm quan, giá trị thế zeta, kích thước tiểu phân và nng độ dược chất. Ảnh hưởng
từ điều kiện bên ngoài như nhiệt độ và ánh sáng là những yếu tố quan trọng quyết
định đến tính ổn định của hệ qua quá trình bảo quản [9]. SLNs là một hệ có cấu tạo
phức tạp: các lipid có sự đông đặc khác nhau, hiện tượng chậm đông, hình dạng không
cầu của các tiểu phân… có thể dẫn đến kết tập tiểu phân và gel hóa. Hiện tượng gel
hóa phụ thuộc vào sự tiếp xúc với ánh sáng, nhiệt độ, không khí cũng như mật độ tiểu
phân và nng độ ion có mặt trong hệ [9].
Nghiên cứu của Muller R.H. về ảnh hưởng của nhiệt độ và ánh sáng lên độ ổn
định vật lý của SLNs (được bào chế với 10% tribehenat và 1,2% Poloxame 188) đã
cho thấy: sự tăng kích thước tiểu phân trong quá trình bảo quản được gây ra bởi một
năng lượng động học (ánh sáng, nhiệt độ) tác dụng lên hệ. Bảo quản hệ trong điều

nghiên cứu với tocopherol và tocopherol acetat trên da người. Kết quả cho thấy lượng
dược chất thấm qua da từ SLNs cao gấp 2 lần so với dung dịch đối chiếu là dược chất
trong alcol [27].
1.1.6.4. Ổn định cơ học của SLNs
Sự ổn định cơ học của SLNs thể hiện ở chỗ không có sự kết tụ của các tiểu
phân hay sự tạo váng, và đó là điều kiện tiên quyết cho một công thức bào chế mỹ
phẩm hay chế phẩm thuốc có thành phần là SLNs. Nhờ có kích thước tiểu phân nhỏ
hàng nano mà các tiểu phân lipid có tính ổn định tự nhiên. Các tiểu phân được giữ ổn
định trong hệ nhờ chuyển động Brown của các phân tử nước và lực đẩy tĩnh điện do
điện tích bề mặt của các tiểu phân. Sự ổn định của hệ còn được tăng lên khi sử dụng
các chất như Tween 80 hay poloxame làm chất diện hoạt trong hệ. Hơn nữa, nếu cần
thiết SLNs có thể kết hợp vào kem, gel, lotion hay sữa dưỡng thể để tăng ổn định của
hệ [27].

9

1.1.6.5. Ngăn cản tia UV
Nghiên cứu của Wissing S. và Muller R. về khả năng ngăn cản tia UV của
SLNs cho thấy khả năng này của SLNs nổi trội hơn hẳn so với nhũ tương đối chiếu
(với cùng lượng lipid trong thành phần). Đặc tính ngăn cản tia UV của SLNs hoàn
toàn là nhờ cơ chế phản xạ và tán xạ ánh sáng của các tiểu phân bởi vì các thành phần
của SLNs không hề có tính chất hấp thụ UV [30]. So sánh giữa SLNs với nhũ tương
quy ước cho thấy lượng chất chống nắng hữu cơ như 2-hydroxy-4-methoxy
benzophenon có thể giảm đi 50% trong SLNs mà hiệu quả chống nắng vẫn tương
đương với nhũ tương quy ước [5].
1.1.6.6. Kiểm soát giải phóng dược chất
Đối với các dược chất điều trị nấm ngoài da và niêm mạc như clotrimazol,
hiện tượng tái nhiễm nấm rất dễ xảy ra nếu như không duy trì dùng thuốc đều đặn
trước khi tác nhân được loại bỏ hoàn toàn. Trong nghiên cứu khác của Souto E.B. và
Muller R.H., clotrimazol được kết hợp vào SLNs bằng phương pháp đng nhất hóa

Jenning V. và cộng sự đã nghiên cứu bào chế SLNs chứa vitamin A làm chế
phẩm dùng ngoài. SLNs vitamin A với lipid là glycerin behenat đã được bào chế bằng
kỹ thuật đng nhất hóa bằng áp suất cao, sau đó hệ được phối hợp vào gel và kem
dầu trong nước ri đem đánh giá khả năng thấm của dược chất qua da lợn. Công thức
gel được sử dụng là: 20% SLNs, 0,5% chất tạo gel (gôm xanthan), 10% glycerin và
69,5% nước (kl/kl). Thử giải phóng bằng ngăn khuếch tán Franz sau 6 giờ và 24 giờ
với mẫu đối chứng là nhũ tương vitamin A trong gel. Kết quả cho thấy tại cả thời
điểm 6 giờ và 24 giờ dược chất giải phóng được tập trung chủ yếu ở những tầng trên
của da (upper skin) và luôn cao hơn mẫu nhũ tương đối chứng. Bên cạnh đặc tính vốn
có của SLNs, gel chứa SLN giúp các tiểu phân bám dính và thẩm thấu qua lớp sừng,
do đó làm tập trung nng độ cao dược chất ở đây sau 6 giờ bôi thuốc [15].
Wissing S. và Muller R. đã bào chế SLNs chứa vitamin E và kết hợp vào gel
để nghiên cứu kích thước tiểu phân, độ ổn định bảo quản và nhiệt động học. Công
thức gel được sử dụng là: 40% SLNs, 1% gôm xanthan, 10% glycerol, 49% nước. Đo
KTTP của hệ cho thấy hai pic riêng biệt: một pic ở kích thước nano tạo ra bởi SLNs
trong gel và một pic ở kích thước micro tạo ra bởi phần không tan của gôm xanthan.
11

Các giá trị kích thước này không có sự thay đổi nhiều khi mẫu được bảo quản trong
một năm và không xảy ra sự kết tập tiểu phân. Khả năng bám dính và che phủ da của
gel SLNs cũng cao hơn nhũ tương đối chứng, đó là nhờ đặc tính bay hơi nước và tạo
lớp mỏng trên da của gel. Đng thời nghiên cứu cũng chỉ ra: việc kết hợp vào gel
không làm ảnh hưởng đến khả năng ngăn cản tia UV của SLNs chứa vitamin E [30].
1.3. ĐẠI CƯƠNG VỀ VITAMIN E
1.3.1. Công thức hóa học và danh pháp
 Công thức hóa học:

Công thức phân tử: C
29
H

); d- hoặc dl- alpha tocopheryl acid succinat (C
33
H
54
O
5
). Vitamin E thực tế
không mùi, không vị. Alpha tocopherol và alpha tocopheryl acetat là chất lỏng sánh
trong suốt, màu vàng hoặc màu vàng hơi lục; d-alpha tocopheryl acetat có thể rắn lại
khi lạnh. Ngoài alpha tocopheryl succinat, các dạng còn lại của vitamin E đều không
tan trong nước; tan trong cn; trộn lẫn được với ether, với aceton, với dầu thực vật và
với cloroform [29]. CH
3
O
CH
3
HO
H
3
C
CH
3
CH
3
CH
3
CH

của hệ, và sau 6 tháng bảo quản ở 40
o
C chỉ còn khoảng 40% dược chất còn lại trong
nhũ tương đậu nành và khoảng 30% trong mẫu phân tán trong chất diện hoạt [8].
1.3.4. Đặc tính dược lý
Vitamin E được chỉ định trong các trường hợp thiếu vitamin E với các triệu
chứng: rối loạn thần kinh, rung giật nhãn cầu, giảm nhạy cảm về xúc giác, dễ tổn
thương da, dễ vỡ hng cầu, dễ tổn thương cơ và tim. Đng thời vitamin E cũng được
chỉ định trong các chế phẩm dùng ngoài với mục đích ngăn tác hại của tia UV [1].
Vitamin E có tác dụng chống oxy hóa (ngăn cản oxy hóa thành phần thiết yếu
trong tế bào, ngăn cản tạo thành các sản phẩm oxy hóa độc hại), bảo vệ màng tế bào
khỏi sự tấn công của các gốc tự do, nhờ đó bảo vệ được tính toàn vẹn của màng tế
13

bào [1], [10]. Nhờ khả năng chống lại các chất oxy hóa, là nguyên nhân chủ yếu gây
ra sự lão hóa da, mà vitamin E ngày càng được quan tâm với tư cách là một chất
chống oxy hóa thiên nhiên được sử dụng trong nhiều chế phẩm thuốc và mỹ phẩm
với tác dụng: phòng ngừa lão hóa da và lão hóa bởi tia UV [30], [10].
1.3.5. Các nghiên cứu về vitamin E dùng ngoài da
1.3.5.1. Nghiên cứu về tác dụng của vitamin E dùng ngoài da
Tác dụng nổi bật của vitamin E khi dùng ngoài da là khả năng bảo vệ da khỏi
tia UV khi được bôi lên da trước khi tiếp xúc với ánh nắng. Vitamin E có khả năng
làm tăng sinh tế bào và ổn định lipid gian bào của lớp sừng trên da [30]. Do đó giúp
ngăn cản những tác hại của tia UV lên da như: ban đỏ, peroxid hóa lipid trên da chuột,
lão hóa da do UV và ung thư da do UV [12].
Vitamin E được sử dụng rộng rãi trong các chế phẩm mỹ phẩm (trong khoảng
nng độ từ 1 – 5%) nhờ khả năng ngăn ngừa lão hóa da, giảm xuất hiện các nếp nhăn,
và dưỡng ẩm tốt giúp đem đến sự mịn màng cho da. Trong các chế phẩm thương mại,
vitamin E được sử dụng là dạng este (chủ yếu là succinat và acetat) vì tính ổn định
cao của chúng. Nhưng khả năng phân cắt dạng este bất hoạt thành dạng thuốc tự do

Dingler A. và cộng sự đã nghiên cứu bào chế SLNs chứa vitamin E trong dược
phẩm và mỹ phẩm dùng ngoài da. Công thức bào chế được sử dụng là: 15% lipid
(cetylpalmitat); 1,8% chất diện hoạt (Tego Care 450) và 5% α-tocopherol hoặc α-
tocopherol acetat. Mẫu được bào chế bằng phương pháp đng nhất hóa nóng dưới áp
suất cao. Kích thước tiểu phân của mẫu không có dược chất là 235 nm, mẫu α-
tocopherol là 280 nm và mẫu α-tocopherol acetat là 270 nm; các giá trị phân bố kích
thước tiểu phân rất thấp PDI < 0,07. Để xác định mức độ ổn định của hệ, hai mẫu có
chứa dược chất đã được bảo quản trong 3 tháng ở ba nhiệt độ: 4
o
C, nhiệt độ phòng
và 40
o
C. Kết quả cho thấy: ở 4
o
C kích thước tiểu phân gần như không có sự thay đổi,
và nhiệt độ bảo quản càng cao thì kích thước tiểu phân càng tăng nhưng không nhiều.
Điều đó cho thấy tính ổn định cao của SLNs. Về khả năng giải phóng dược chất, kết
quả chỉ ra rằng sau 30 phút bôi SLNs, lượng dược chất đo được ở tầng biểu bì da cao
gấp đôi so với khi bôi bằng dung dịch dược chất trong isopropanol. Chứng tỏ khả
năng bao phủ da của SLNs đã làm tăng khả năng thấm của dược chất qua da lên rất
nhiều. Tác giả cũng tiến hành nghiên cứu về khả năng hạn chế phân hủy dược chất
của SLNs: trong thời gian 6 tháng hoàn toàn không thấy sự tách lớp ở cả hai mẫu.
15

Trong điều kiện bảo quản ở 20
o
C, ở mẫu SLNs α-tocopherol lượng dược chất còn
trên 80%, cao hơn mẫu đối chứng là dược chất trong nhũ tương đậu nành. Còn ở mẫu
SLNs α-tocopherol acetat thì dù bảo quản ở 20
o

STT
Nguyên liệu
Nguồn gốc
Tiêu chuẩn
1
Vitamin E acetat
Trung Quốc
Dược điển Trung Quốc
2
Alcol cetylic
Trung Quốc
Nhà sản xuất
3
Acid stearic
Trung Quốc
Nhà sản xuất
4
Suppocire
Gattefossé (Canada)
Nhà sản xuất
5
Alcol cetostearylic
Singapore
Nhà sản xuất
6
Span 80
Singapore
Nhà sản xuất
7
Cremophor A6

15
Glycerin
Trung Quốc
Nhà sản xuất
16
Ethanol tuyệt đối
Trung Quốc
Nhà sản xuất
17
Methanol
Đức
HPLC
2.1.2. Thiết bị nghiên cứu
 Máy siêu âm LABSONIC® M.
 Máy khuấy từ IKA – WERKE (Đức).
 Máy quang phổ UV-VIS Heλios-γ.
 Máy đo quang phổ UV-VIS HITACHI U1800.
 Máy ly tâm HERMLE Z200 A.
 Kính hiển vi điện tử truyền qua JEM 1010.
 Máy phân tích kích thước hạt Zetasizer Nano ZS90.
17

 Hệ thống đánh giá giải phóng thuốc qua màng Hanson Research.
 Hệ thống sắc ký lỏng hiệu năng cao Agilent.
 Cân phân tích, tủ sấy, cân kỹ thuật, máy lọc nước cất, bếp điện và các thiết bị bào
chế, kiểm nghiệm khác.
2.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
 Bào chế hệ tiểu phân nano lipid rắn chứa vitamin E.
 Đánh giá ảnh hưởng của yếu tố tá dược và thời gian siêu âm đến kích thước tiểu
phân và khả năng giải phóng dược chất từ hệ tiểu phân nano. Đánh giá một số tính

20 phút

Trích đoạn NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Khảo sát ảnh hưởng của thời gian siêu âm đến kích thước và phân bố kích Khả năng giải phóng vitami nE từ gel chứa hệ tiểu phân nano vitami nE
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status