Nghiên cứu chiết xuất artemisinin từ lá cây thanh cao hoa vàng bằng dung môi isopropanol - Pdf 29

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
****

MEAS PISAL
NGHIÊN CỨU CHIẾT XUẤT
ARTEMISININ TỪ LÁ CÂY
THANH CAO HOA VÀNG BẰNG
DUNG MÔI ISOPROPANOL
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ

HÀ NỘI - 2013

nghiệm.
Nhân dịp này tôi cũng xin gửi tới toàn thể giảng viên, cán bộ trường Đại học
Dược Hà Nội lời cảm ơn chân thành vì sự dạy bảo, dìu dắt tôi trong suốt năm năm học
tập tại trường.
Cuối cùng cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn vô hạn tới cha mẹ, người thân
và bạn bè – những người luôn dành cho tôi sự chia sẻ, quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình.

Hà nội, ngày 20 tháng 5 năm 2013
Sinh viên

Meas Pisal

MỤC LỤC
CHÚ GIẢI CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH, ĐỒ THỊ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN 2
1.1. Tổng quan về artemisinin 2
1.1.1. Công thức hóa học, tính chất 2
1.1.2. Nguồn gốc artemisinin 2
1.1.3. Tác dụng dược lý và chỉ định của artemisinin 2
1.2. Tổng quan về cây thanh cao hoa vàng và một số phương pháp chiết xuất
artemisinin từ lá cây thanh cao hoa vàng 3
1.2.1. Cây thanh cao hoa vàng 3
1.2.2. Đặc điểm hình thái của cây thanh cao hoa vàng 3
1.2.3. Phân bố 4

2.3.2.2. So sánh hiệu suất chiết xuất bằng dung môi IPA với dung môi n-hexan
ở nhiệt độ phòng 15
2.3.2.3. So sánh hiệu suất chiết khi tăng nhiệt độ 16
2.3.2.4. Tính chọn lọc giữa 2 dung môi 16
2.3.3. Phương pháp tinh chế artemisinin 16
2.3.3.1. Phương pháp kết tinh trong hỗn hợp dung môi ethyl acetat : n-hexan . 17
2.3.3.2. Phương pháp kết tinh trong dung môi ethyl acetat 17
2.3.3.3. Phương pháp kết tinh trong dung môi n-hexan 17
CHƯƠNG 3. THỰC NGHIỆM, KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 18
3.1. Xác định hàm lượng artemisinin trong lá thanh cao hoa vàng 18
3.2. Lựa chọn các thông số kỹ thuật cho quy trình chiết 18
3.2.1. Khảo sát số lần chiết 18
3.2.2. Khảo sát thời gian chiết xuất ở nhiệt độ phòng 19
3.2.3. Khảo sát thời gian chiết khi tăng nhiệt độ 20 3.3. So sánh giữa phương pháp chiết xuất bằng dung môi IPA với chiết xuất bằng
dung môi n-hexan 21
3.3.1. So sánh độ tan của artemisinin trong IPA với độ tan của atermisinin trong
n-hexan… 21
3.3.2. So sánh hiệu suất chiết xuất bằng dung môi IPA với dung môi n-hexan tại
nhiệt độ phòng…… 22
3.3.3. So sánh hiệu suất chiết xuất giữa 2 dung môi IPA và n-hexan ở nhiệt độ
40 ± 5°C 23
3.3.4. Tính chọn lọc giữa 2 dung môi 24
3.4 . Xây dựng phương pháp tinh chế 25
3.4.1. Phương pháp kết tinh trong hỗn hợp dung môi ethyl acetat : n-hexan 25
3.4.2. Phương pháp tinh chế bằng kết tinh artemisinin trong dung môi ethyl
acetat……. 27
3.4.3. Phương pháp kết tinh trong dung môi n-hexan 28

7
STT
Số thứ tự

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng
Nội dung bảng
Trang
Bảng 1.1
Độ tan của artemisinin trong 2 dung dịch ion lỏng
N, N – dimethylethanolammonium octanoate và bis
2-methoxyethylammonium bis (trifluoromethysulfonylimide)
8
Bảng 1.2
So sánh dung môi chiết artemisinin về hiệu suất chiết xuất,
thời gian chiết, chi phí vận hành, chi phí đầu tư
8
Bảng 2.1
Tên và nguồn gốc của các hóa chất dùng trong thí nghiệm
10
Bảng 3.1
Kết quả đo quang của dung dịch artemisinin
18
Bảng 3.2
Hiệu suất chiết xuất (%) artemisinin tại 4 lần chiết
19
Bảng 3.3

Khối lượng artemisinin thu được, hàm lượng sản phẩm và hiệu
suất của phương pháp tinh chế bằng kết tinh trong
dung môi
n-hexan
28 Bảng 3.12
So sánh các phương pháp tinh chế theo các tiêu chí
30
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH, ĐỒ THỊ
STT
Danh mục các hình ảnh, đồ thị
Trang
1
Hình 1.1: Lá và cành của cây thanh cao hoa vàng
3
2
Hình 1.2: Các công thức của thành phần hóa học có trong cây thanh
cao hoa vàng
5
3
Hình 3.1: Đồ thị biểu diễn hiệu suất chiết xuất artemisinin bằng dung
môi IPA tương ứng với 5 thời gian chiết khác nhau ở nhiệt độ 40 ± 5°C
20
4
Hình 3.2: Đồ thị biểu diễn hiệu suất chiết artemisinin bằng dung môi
IPA và dung môi n-hexan ở nhiệt độ phòng
22
5
1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Sốt rét là một bệnh phổ biến trên thế giới, trong đó có cả ở Đông Nam Á, đặc
biệt ở biên giới giữa Campuchia và Thái Lan là nơi tập trung bệnh sốt rét nhiều nhất.
Ký sinh trùng sốt rét có khả năng kháng thuốc rất nhanh, vì vậy con người luôn cố
gắng tìm ra biện pháp để điều trị bệnh có hiệu quả. Người ta đã phát hiện artemisinin
là một hoạt chất có tác dụng tốt với thể phân liệt trong máu của mọi ký sinh trùng sốt
rét, đặc biệt với sốt rét thể não do chủng Plasmodium falciparum gây ra kể cả khi đã
kháng cloroquin. Từ trước đến hiện nay, artemisinin đã được chiết từ lá của cây thanh
cao hoa vàng (Artemisia annua L.). Trên thế giới, đã có nghiên cứu chiết xuất
artemisinin bằng nhiều dung môi như: n-hexan, ethanol, ion lỏng, scCO
2
(CO
2
siêu tới
hạn), HFC-134a (Hydrofluocacbon)… Ở Việt Nam, phương pháp chiết xuất
artemisinin được sử dụng phổ biến nhất là phương pháp ngâm với dung môi n-hexan.
Dung môi isopropanol đã được sử dụng rộng rãi trong phòng thí nghiệm do nó
có khả năng hòa tan tốt nhiều chất và nguy cơ cháy nổ thấp hơn dung môi n-hexan và
một số dung môi khác. Dựa trên ưu điểm này, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài
“Nghiên cứu chiết xuất artemisinin từ lá cây thanh cao hoa vàng bằng dung môi
isopropanol” với mục đích góp phần tìm ra phương pháp chiết artemisinin có hiệu quả
và an toàn. Đề tài gồm các mục tiêu sau:
1. Xây dựng phương pháp chiết xuất và tinh chế artemisinin từ lá cây thanh
cao hoa vàng bằng dung môi IPA.
2. So sánh hiệu quả chiết xuất của dung môi IPA và n-hexan (độ tan, tính chọn
lọc, hiệu suất).

trong phần lá ở ngọn (50cm từ phần ngọn trở xuống) và ở thời điểm trước khi cây ra
hoa. Mặc dù cây thanh cao hoa vàng mọc ở Trung Quốc được công bố có hàm lượng
artemisinin đến 0,9% nhưng nói chung cây thanh cao hoa vàng mọc ở nơi khác chỉ có
hàm lượng artemisinin khoảng 0,1% [7].
1.1.3. Tác dụng dược lý và chỉ định của artemisinin
Đến hiện nay, artemisinin vẫn được dùng để điều trị sốt rét do có khả năng diệt
thể phân liệt trong máu của mọi ký sinh trùng sốt rét đặc biệt tốt với sốt rét thể não do
chủng Plasmodium falciparum gây ra kể cả khi đã kháng cloroquin. Artemisinin có tác
dụng diệt giao bào, có tác dụng trên giai đoạn ngoại hồng cầu, thời gian tác dụng ngắn
[13].
H
H
H
C
H
3
CH
3
O
O
O
C
H
3

3

Ngoài việc dùng artemisinin để điều trị sốt rét, artemisinin đang được nghiên
cứu sử dụng trong điều trị ung thư [13]. Qua nghiên cứu, người ta cho rằng tế bào ung
thư rất cần ion sắt để phát triển nên chúng hấp thu lượng ion sắt lớn hơn tế bào thường.

Quả bế, hình trái xoan hoặc hình trứng ngược, có vân dọc, dài 0,4 – 0,5mm, có tinh
dầu. Toàn thân và lá vò ra có mùi thơm đặc biệt.
Mùa hoa quả vào tháng 9 – 11 [7].
1.2.3. Phân bố
Trên thế giới, thanh cao hoa vàng phân bố rải rác ở vùng ôn đới ấm, cận nhiệt
đới và nhiệt đới Bắc bán cầu, bao gồm một số nước ở Đông Âu, Bắc Mỹ, Tây –Nam Á
và Đông Á [2], [7].
Ở Việt Nam, thanh cao hoa vàng mọc tự nhiên ở bốn tỉnh: Lạng Sơn, Cao Bằng,
Quang Ninh và Bắc Giang. Do việc phát triển trồng từ năm 1990 đến nay, thanh cao
hoa vàng còn được trồng ở các tỉnh trung du và đồng bằng Bắc Bộ như Vĩnh Phúc,
Phú Thọ (Thanh Sơn), Tuyên Quang, Bắc Ninh,… [4], [7].
1.2.4. Bộ phận dùng và chế biến
Bộ phận dùng là lá, được thu hái ở cây sắp ra hoa, tốt nhất là vào mùa hè, phơi
nắng nhẹ hoặc sấy ở nhiệt độ 30 – 40°C đến khô [7]. Lá có màu vàng nâu hoặc nâu
sẫm, giòn, dễ vụn nát, mùi thơm hắc đặc biệt, vị đắng. Dược liệu đem chiết xuất có thể
lẫn một ít cành hoặc ngọn non.
5

1.2.5. Thành phần hóa học
Thành phần hóa học có trong cây thanh cao hoa vàng phần trên mặt đất chứa
artemisinin (thành phần chính), acid artemisinic, artenuin (qinghaosu I), artenuin B
(qinghaosu II), desoxyartemisinin (qinghaosu III), Qinghaosu IV, artenuin E
(qinghaosu V), artemisininlacton (artenuin F), artemisiten (dehydroartemisinin),
artemisinic acid methyl ester [7].
Ngoài các thành phần hóa học trên, cây thanh cao hoa vàng còn chứa lipid,
flavonoid, coumarin, polyacetylen, tinh dầu sterol. Hàm lượng artemisinin trong lá cây
thanh cao hoa vàng đạt từ 0,01% đến 0,9% [7]. Ở Việt Nam hiện nay, artemisinin và
artesunat (thành phần tổng hợp từ artemisinin) được sử dụng rộng rãi nhất.
Một số thành phần chính có trong cây thanh cao hoa vàng ngoài artemisinin [7]:


C
CH
2
H
H
CH
3
H
3
CHO
2
C
CH
2
H
H
CH
3
H
3
C
O

H
2
C
COOCH
CH
3
H
O
O
H
H
3
C
CH
2
O

O
OH
3
C
O
O
O
H
CH
3
H
CH
3

O

Hình 1.2: Các công thức của thành phần hóa học có trong cây thanh cao hoa vàng
1.2.6. Công dụng
Thanh cao hoa vàng có vị đắng, tính hàn, quy vào 2 kinh can và đởm, có tác
dụng chữa mồ hôi trộm, sốt rét và mụn nhọt. Đông y cho rằng dùng thanh cao hoa
vàng lâu ngày không có hại mà còn làm cho ăn ngon cơm, chóng tiêu, chữa mệt mỏi
về cơ thể và trí não. Ngoài ra thanh cao còn có tác dụng cầm máu, chữa chảy máu cam,
đại tiện ra máu, dùng ngoài da có tính chất sát trùng, chữa mụn nhọt lở ngứa [4], [7].
Trong y học hiện đại, thanh cao hoa vàng là nguồn nguyên liệu để chiết xuất
artemisinin dùng trong điều trị sốt rét [2], [3], [4], [6].
1.3. Một số phương pháp chiết xuất artemisinin từ lá thanh cao hoa vàng
Đến nay đã có nhiều nghiên cứu về các phương pháp chiết xuất artemisinin từ
lá thanh cao hoa vàng trong mục đích lựa chọn dung môi có ưu điểm nhất về hiệu suất
chiết, an toàn, chi phí thấp Các phương pháp chiết artemisinin từ lá cây thanh cao
hoa vàng :
1.3.1. Chiết bằng dung môi n-hexan
Ở Việt Nam cũng như trên thế giới, người ta sử dụng dung môi n-hexan để
chiết xuất artemisinin. Phương pháp chiết bằng dung môi n-hexan được coi là một
phương pháp truyền thống. Lá thanh cao hoa vàng được phơi khô, xay thô và nạp vào
nồi chiết. Tỷ lệ dược liệu/dung môi là 1/5, chiết ở nhiệt độ 30 – 50°C, thời gian chiết 3
giờ. Chiết 3 lần, dịch chiết lần 3 sử dụng làm dung môi chiết lần 1 của mẻ khác. Sau
đó gộp dịch chiết lại, cô thu hồi dung môi rồi rút ra để kết tinh ít nhất 24 giờ,
artemisinin sẽ kết tinh lẫn với sáp. Loại phần dung dịch bằng cách gạn, loại sáp bằng
nhiệt độ và xăng nóng thu được artemisinin thô không lẫn sáp. Có thể kiểm tra đã loại
sáp hết bằng cách hòa tan artemisinin thô trong aceton, nếu dung dịch trong là đã loại
sáp. Artemisinin thô đã loại hết sáp được hòa tan trong cồn sôi, thêm than hoạt và đun
sôi 20 phút với sinh hàn hồi lưu, lọc nóng loại than hoạt và để kết tinh ở nhiệt độ
thường tối thiểu 24 giờ. Vẩy ly tâm rửa tinh thể bằng cồn và sấy ở 80°C [5].
7

Dung môi n-hexan là dung môi khá chọn lọc, quá trình chiết đơn giản nhưng

và có thể tái sử dụng. Nhược điểm là yêu cầu phải có thiết bị chuyên dụng, giá thành
đắt; điều kiện tối ưu để chiết thành công [14].
1.3.4. Chiết bằng dung dịch ion lỏng
Nhiều nghiên cứu liên quan đến việc sử dụng dung dịch ion lỏng để chiết xuất
artemisinin trong mục đích thay thế dung dịch ion lỏng với các dung môi đang sử
8

dụng. Artemisinin tan tốt trong nhiều dung dịch ion lỏng, đặc biệt độ tan của
artemisinin trong 2 dung dịch ion lỏng N, N – dimethylethanolammonium octanoate
(DMEA oct) và bis 2-methoxyethylammonium bis (trifluoromethysulfonylimide)
(BMOEA bst) cao hơn độ tan của artemisinin trong n-hexan và ethanol [14].
Bảng 1.1: Độ tan của artemisinin trong 2 dung dịch ion lỏng N, N –
dimethylethanolammonium octanoate và bis 2-methoxyethylammonium bis
(trifluoromethysulfonylimide)
Dung dịch ion lỏng
Độ tan của artemisinin g/l
DMEA oct
82
BMOEA bst
110
Qua nhiều thực nghiệm, người ta chứng minh được rằng hiệu suất chiết artemisinin
bằng 2 dung dịch trên cao hơn hiệu suất chiết bằng n-hexan và ethanol, thời gian chiết
xuất ngắn hơn, chi phí đầu tư cũng thấp hơn so với chiết bằng nhiều dung môi khác
(bảng 1.2).
Dựa trên dữ liệu đã nghiên cứu được, nhà nghiên cứu có thể so sánh về hiệu
suất chiết xuất, thời gian chiết, chi phí trong quá trình chiết… giữa các dung môi như
bảng 1.2:
Bảng 1.2: So sánh dung môi chiết artemisinin về hiệu suất chiết xuất,
thời gian chiết, chi phí vận hành, chi phí đầu tư [14]:



82
3 – 6
42
4,1
Trong đó:
- Hiệu suất chiết xuất: Là tỷ lệ giữa khối lượng artmisinin thu được so với artemisinin
có trong dược liệu.
- Thời gian chiết: Là thời gian để chiết kiệt artmisinin từ trong dược liệu.
- Chi phí vận hành: bao gồm các chi phí điện và chi phí cho quá trình chiết khác.
9

- Chi phí đầu tư: bao gồm chi phí trang thiết bị, chi phí chiết xuất, hàng tồn kho và
dung môi.
Nhận thấy IPA là một alcol có khả năng hòa tan và một số tính chất như
ethanol, IPA rẻ hơn ethanol. Hơn nữa IPA có loại khan nước nên có thể artemisinin sẽ
ổn định trong IPA hơn trong ethanol 96%. Vì vậy, chúng tôi sẽ tiến hành nghiên cứu
chiết xuất artemisinin từ lá thanh cao hoa vàng bằng dung môi IPA với mong muốn
tìm được dung môi chiết an toàn và có hiệu suất cao.
10 CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Nguyên vật liệu, hóa chất và thiết bị
2.1.1. Nguyên liệu:
Lá thanh cao hoa vàng được trồng ở vùng Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc, lá được thu
hái vào tháng 4 năm 2012.
2.1.2. Hóa chất :
Bảng 2.1: Tên và nguồn gốc của các hóa chất dùng trong thí nghiệm:
STT

- Tủ sấy Mermert (Đức)
- Các trang thiết bị thí nghiệm khác.
11

2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp định lượng
a) Định lượng artemisinin trong lá thanh cao hoa vàng:
Định lượng theo DĐVN IV, sử dụng phương pháp quang phổ tử ngoại kết hợp với
phương pháp sắc ký lớp mỏng [1]. Cách tiến hành như sau:
- Bản mỏng: silica gel G.
- Hệ dung môi: n-hexan : ethyel acetat (70:30)
- Dung dịch thử: Cân chính xác 1g dược liệu, chiết với ether dầu hỏa (30 - 60°C) trong
bình soxhlet dung tích 50ml trên cách thủy trong 6 giờ, cất thu hồi dung môi lấy cắn.
Hòa tan cắn trong 1ml cloroform và cho vào bình định mức 10ml, tráng cốc đựng cắn
bằng ethanol 96% rồi thêm cùng dung môi cho đến vạch. Lọc qua giấy lọc, bỏ 0,5 đến
1ml dịch lọc đầu, lấy khoảng 2ml dịch lọc tiếp theo.
- Dung dịch đối chiếu: Cân chính xác 0,010g artemisinin chuẩn, hòa tan trong 10ml
ethanol 96% (pha dùng trong ngày).
- Bản silica gel G (20cm×20cm) đã được hoạt hóa ở 110°C trong 2 giờ được chia vạch
thành 5 băng, chấm lần lượt mỗi băng 0,1ml các dung dịch thử (băng 1 và 2) và dung
dịch đối chiếu (băng 3 và 4) chấm thành vạch dài 2cm, rộng 0,3cm ; băng 5: chấm
0,1ml ethanol 96% làm mẫu trắng.
- Tiến hành sắc ký, sau khi triển khai sắc ký đến khi dung môi đi được 18cm , lấy bản
mỏng ra, để khô dung môi ngoài không khí trong 1 giờ. Phun nước cất làm ướt bản
mỏng để xác định các vùng có artemisinin. Các vết artemisinin chuẩn sẽ xuất hiện màu
trắng đục trên sắc ký đồ. Vạch đường ngay ở phía trên và phía dưới vết artemisinin đã
được xác định sao cho cách đều hai mép của vết 0,5cm đến 0,7cm. Cạo riêng biệt các
vùng có artemisinin của vết 1, 2, 3 và 4. Cạo vùng không chứa artemisinin của vết 5
làm mẫu trắng, cho vào mỗi mẫu bột silica gel cạo được nói trên 1ml ethanol 96%, lắc
kỹ. Thêm 9ml dung dich NaOH 0,05N, lắc kỹ, cho vào tủ ấm 50°C trong 30 phút. Lấy

sử dụng dung môi n-hexan trong giáo trình [6]. Quy trình chiết xuất được chia làm 2
giai đoạn, cụ thể như sau:
- Giai đoạn 1: Chuẩn bị nguyên liệu
+ Lá thanh cao hoa vàng được sấy khô ở điều kiện nhiệt độ 50 – 60°C trong 1 giờ, lấy
ra xay thô thành bột (rây qua cỡ rây 5mm).
13

- Giai đoạn 2: Chiết xuất
Chiết xuất lá thanh cao hoa vàng bằng IPA với các thông số sau:
+ Dung môi chiết xuất: IPA
+ Khối lượng dược liệu: Từ 5g đến 250g/mẻ
+ Tỷ lệ DL/DM, nhiệt độ chiết xuất tương ứng với thời gian chiết xuất, số lần chiết
xuất thay đổi theo khảo sát cụ thể.
Tiến hành:
Cân bột dược liệu, thêm dung môi đúng tỷ lệ, tiến hành chiết xuất trong điều
kiện khảo sát. Dịch chiết được thu vào bình thủy tinh có nút mài. Xác định hàm lượng,
hiệu suất chiết artemisinin trong lá thanh cao hoa vàng và trong dịch chiết theo phương
pháp trình bày ở mục 2.2.1.b. Quy trình được lặp đi lặp lại cho lần chiết xuất tiếp theo.
2.2.2.2. Phương pháp tinh chế
Tiến hành tinh chế artemisinin từ dịch chiết IPA bằng phương pháp kết tinh trong
dung môi khác nhau, gồm 3 bước:
- Bước 1: Tạo tủa artemisinin thô
- Bước 2: Loại tạp, tẩy màu bằng than hoạt
- Bước 3: Kết tinh sản phẩm
2.3. Nội dung nghiên cứu
2.3.1. Lựa chọn các thông số kỹ thuật cho quy trình chiết
Để xây dựng được quy trình chiết xuất arteminsinin sử dụng dung môi IPA,
chúng tôi thay đổi 1 số điều kiện và tiến hành định lượng theo mục 2.2.1.b, xác định
hiệu suất. Cụ thể như sau :
2.3.1.1. Số lần chiết

hexan
Để so sánh độ tan của artemisinin trong IPA và trong n-hexan. Tiến hành xác
định hàm lượng artemisinin trong các dung dịch bão hòa với n-hexan và IPA.
Cụ thể như sau:
15

- Cân một lượng dư Artemisinin chuẩn, đưa vào ống nghiệm chứa 15ml dung môi siêu
âm 5-10 phút để tạo dung dịch quá bão hòa. Hút 1ml, pha loãng thành 10ml. Lọc qua
màng lọc 0,45µm. Tiến hành định lượng dung dịch trên bằng phương pháp HPLC.
- Sử dụng cột kim loại kích thước 10cm × 40mm nhồi pha tĩnh A (3µm). Cũng như
pha tĩnh, pha động sử dụng hỗn hợp dung môi acetonitril chuẩn - nước (6:4).
- Chuẩn bị dung dịch chuẩn: Dung dịch (A) có nồng độ 1,0mg Artemisinin chuẩn/ml.
Tốc độ dòng 0,6ml/phút, Detetor UV, đo tại bước sóng 216nm.
- Tiêm lần lượt 20µl dung dịch A và dung dịch thử.
- Đo diện tích của pic thu được từ dung dịch A và dung dịch thử tính phần trăm khối
lượng C
15
H
22
O
5
với chất chuẩn đã làm khô [15].
Công thức tính: Trong đó:
- C
thử
: Là nồng độ dung dịch mẫu thử (mg/ml)
- C

Chiết ở nhiệt độ 40 ± 5°C, chiết với lần chiết đã lựa chọn, thời gian chiết 3h. Lấy mẫu
pha mẫu như đã trình bày ở mục (2.2.1.b). Lặp lại thí nghiệm 3 lần lấy kết quả trung
bình.
2.3.2.4. Tính chọn lọc giữa 2 dung môi
Để xác định tính chọn lọc của 2 dung môi:
- Tiến hành lấy dịch chiết của 2 dung môi, cất thu hồi dung môi, xác định khối lượng
cắn toàn phần.
- Xác định tỷ lệ (%) giữa khối lượng artemisinin có trong dịch chiết và khối lượng cắn
theo công thức sau: 2.3.3. Phương pháp tinh chế artemisinin
Artemisinin tan nhiều trong ethanol, aceton, cloroform, ethyl acetat, ít tan trong
n-hexan, benzen, toluen. Trong phương pháp chiết bằng dung môi n-hexan, người ta
cho artemisin kết tinh trong dung môi n-hexan.
Trong phương pháp chiết artemisinin bằng dung môi IPA, chúng tôi tiến hành khảo sát
quá trình tinh chế bằng các hỗn hợp dung môi và dung môi sau: hỗn hợp dung môi
ethyl acetat : n-hexan, dung môi ethyl acetat và dung môi n-hexan.

Trích đoạn Khảo sát thời gian chiết khi tăng nhiệt độ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status