Nghiên cứu đặc điểm thực vật và xác định thành phần hóa học của cây mồng tơi núi anredera cordifolia (TEN ) steenis, họ mồng tơi (basellaceae) - Pdf 29



BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI VŨ THỊ HÒA

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM THỰC
VẬT VÀ XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN
HÓA HỌC CỦA CÂY MỒNG TƠI NÚI
[ANREDERA CORDIFOLIA (TEN.)
STEENIS], HỌ MỒNG TƠI
(BASELLACEAE)KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ

HÀ NỘI - 2014 BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

VŨ THỊ HÒA

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT
VÀ XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN HÓA
HỌC CỦA CÂY MỒNG TƠI NÚI
[ANREDERA CORDIFOLIA (TEN.)
STEENIS], HỌ MỒNG TƠI

giáo trường Đại học Dược Hà Nội đã nhiệt tình dạy bảo tôi trong suốt 5 năm học
vừa qua.
Cuối cùng, tôi muốn gửi lời cảm ơn tới bố mẹ, gia đình, người thân và bạn bè,
những người đã luôn sát cánh động viên và giúp đỡ tôi vượt qua những lúc khó
khăn nhất trong học tập và quá trình hoàn thành khóa luận.
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Vũ Thị Hòa MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3

1.1. TỔNG QUAN VỀ HỌ MỒNG TƠI (BASELLACEAE) 3

1.1.1. Vị trí phân loại họ Mồng tơi (Basellaceae) 3

1.1.2. Đặc điểm thực vật họ Mồng tơi 3

1.2. TỔNG QUAN VỀ CHI ANREDERA 4



2.2.3. Về mặt hóa học 14

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM, KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 16

3.1. NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT CÂY MỒNG TƠI NÚI 16
3.1.1. Đặc điểm hình thái cây Mồng tơi núi 16

3.1.2. Nghiên cứu vi học vi phẫu 17

3.1.2.1. Tiến hành 17

3.1.2.2. Kết quả 17

3.1.3. Nghiên cứu vi học bột Mồng tơi núi 21

3.1.3.1. Tiến hành 21

3.1.3.2. Kết quả 21

3.2. NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC 24

3.2.1. Định tính sơ bộ các nhóm chất có trong thân rễ Mồng tơi núi bằng phản
ứng hóa học 24

3.2.2. Định tính dịch chiết thân rễ Mồng tơi núi bằng sắc ký lớp mỏng 331 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Kí hiệu
Tên đầy đủ
DC : Dịch chiết
H.T : Hiện tượng
Nxb : Nhà xuất bản
P.Ư : Phản ứng
R
f

: Hệ số lưu
SKLM
: Sắc ký lớp mỏng
TT
: Thuốc thử
UV
: Ultraviolet


DANH MỤC CÁC HÌNH
STT Tên hình Trang
1 Hình 3.1. Cây Mồng tơi núi 18
2 Hình 3.2. Hoa Mồng tơi núi 18
3 Hình 3.3. Vi phẫu lá Mồng tơi núi 20
4 Hình 3.4. Vi phẫu thân Mồng tơi núi 20
5 Hình 3.5. Vi phẫu thân rễ Mồng tơi núi 20
6 Hình 3.6. Một số đặc điểm bột lá Mồng tơi núi 22
7 Hình 3.7. Một số đặc điểm bột thân Mồng tơi núi 22
8 Hình 3.8. Một số đặc điểm bột thân rễ Mồng tơi núi 23
9
Hình 3.9. Sắc ký đồ dịch chiết thân rễ Mồng tơi núi trong MeOH
triển khai hệ dung môi Toluen - Ethyl acetat - Acid formic (5:4:1)
34
10
Hình 3.10. Sắc ký đồ dịch chiết thân rễ Mồng tơi núi trong MeOH
triển khai hệ dung môi Toluen - Ethyl acetat - Acid formic -
Methanol (4:4:0,5:1)
34
11
Hình 3.11. Đồ thị, bảng biểu diễn kết quả sắc ký đồ dịch chiết thân

(Basella rubra) và Anredera [Anredera cordifolia (Ten.) Steenis] [1].
Cây Mồng tơi núi thuộc chi Anredera, họ Mồng tơi (Basellaceae) là một loài
cây mới được phát hiện ở một số tỉnh miền núi nước ta. Đặc biệt ở xã Mường Lống,
huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An, người dân tộc Mông đã trồng và sử dụng cây Mồng
tơi núi như một loại rau ăn hàng ngày. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra
rằng, cây Mồng tơi núi có tác dụng trong điều trị bệnh tiêu hóa (nhuận tràng), các
bệnh về khớp, bệnh tiểu đường, chữa bỏng…Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam chưa
có nhiều tài liệu nghiên cứu về Mồng tơi núi.
Với mong muốn góp phần nâng cao giá trị sử dụng của Mồng tơi núi cũng như
đóng góp vào công tác nghiên cứu và kiểm nghiệm, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
loài Mồng tơi núi thu hái ở Mường Lống và được trồng tại Hà Nội, đề tài “Nghiên
cứu đặc điểm thực vật và xác định thành phần hóa học của cây Mồng tơi núi
[Anredera cordifolia (Ten.) Steenis], họ Mồng tơi (Basellaceae)” được tiến hành
với mục tiêu: “Xây dựng cơ sở dữ liệu về thực vật, hiển vi, hóa học của cây Mồng
tơi núi nhằm từng bước bổ sung tài liệu cho các công tác kiểm nghiệm dược liệu và
các nghiên cứu sau này, góp phần tránh nhầm lẫn giữa các loài Mồng tơi với nhau”.
2

Để thực hiện mục tiêu đã đề ra, đề tài được tiến hành bao gồm các nội dung:
- Nghiên cứu về thực vật: vi phẫu và bột (lá, thân, thân rễ) của cây Mồng tơi
núi.
- Nghiên cứu về hóa học: Định tính các nhóm chất trong thân rễ Mồng tơi núi
bằng các phản ứng hóa học và tiến hành sắc ký lớp mỏng dịch chiết methanol của
thân rễ cây Mồng tơi núi.

mô tả khác, đặc điểm thực vật họ Mồng tơi (Basellaceae) như sau:
Cây dây leo, lâu năm. Thân tròn, mọng nước, nhẵn, có các “khối treo” ở nách
lá, màu xanh hoặc tím đỏ. Lá đơn, nguyên, dày, hình tim, mọc cách, có cuống hoặc
không cuống, không có lá kèm. Cụm hoa hình bông, chùm hoặc hình chùy, mọc ở
kẽ lá, màu trắng hay tím đỏ nhạt. Hoa đều lưỡng tính, không cuống hoặc có cuống
nhỏ, 1-2 lá bắc mọc đối. Bao hoa đôi, dưới bầu, riêng biệt hoặc dính nhau tại gốc,
xếp đè lên nhau trong nụ. Lá đài 2, riêng biệt hoặc hợp sinh. Cánh hoa 5, tuyến mật
hình vòng, bền và bao bọc xung quanh quả. Nhị 5, đối diện với cánh hoa và dính
vào gốc. Chỉ nhị dựng đứng hoặc dính vào bao hoa, mở rộng hơn ở gốc, dính ở đáy
ống tràng. Bao phấn 4 ngăn, thường mở bằng lỗ ở đỉnh, hoặc nứt theo chiều dọc.
Hạt phấn hình cầu hoặc hình khối. Bầu trên, 1 ô, đính noãn gốc. Nhụy xẻ 3, đính
gốc, đầu nhụy nứt đôi hình chùy. Quả mọng, nhỏ, thường bao quanh bởi bao hoa
khô hoặc thịt, hình cầu hoặc trứng, đường kính khoảng 5-6mm. Hạt thường bị rỉ
4

màu, vỏ hạt có màng, nội nhũ dồi dào, phôi cong hình bán nguyệt bao quanh nội
nhũ [1], [23].
Trên thế giới đã phát hiện 4 chi (Tournonia, Ullucus, Basella, Anredera), gồm
20 loài chủ yếu ở Châu Mỹ, riêng chi Basella có ở Châu Á, Châu Phi [1]. Theo “Từ
điển Cây Thuốc Việt Nam, tập II” của P.T.S Võ Văn Chi (2013), ở Việt Nam có 2
chi (Basella và Anredera) thuộc họ Mồng tơi (Basellaceae), trồng phổ biến là Mồng
tơi (Basella rubra) và Mồng tơi củ [Anredera cordifolia (Ten.) Steenis] [8].
Dưới đây là 2 chi phổ biến có ở Việt Nam:
- Basella: Cây thảo, dây leo, hơi mọng nước. Lá mọc so le, hình trứng tới hình
tim, có cuống. Cụm hoa đơn hay phân nhánh, thành bông dài nhiều hay ít, mang
nhiều hoa nhỏ ở nách của những lá bắc rất nhỏ dễ rụng. Hoa không cuống. Hai lá
bắc con tạo thành 1 phần lồi dạng ống nhỏ chẻ đôi ở quanh hoa (tạo thành tổng bao
ở dưới đài). Bao hoa thịt, dạng hũ, hầu như không mở khi nở, 5-7 thùy. Nhị 5 cong
trong bao hoa. Bầu hình trứng, vòi nhụy ngắn, bầu nhụy 3. Quả mọng giả mọng
nước, nằm trong bao hoa nạc, không lông [1], [8], [16].

floribunda
11. Cánh hoa có cánh lưng trong quả; đầu nhụy thường xẻ đôi………………. 9.
Anredera vesicaria
12. Bao hoa khô màu nâu, bao lỏng lẻo quanh quả………….……………………13
12. Bao hoa khô màu đen, bao bọc chặt quả………………………………………16
13. Đài hoa thường ngắn hơn cánh hoa, cánh hoa đều………………….…………14
13. Đài hoa bằng cánh hoa, 2 cánh hoa bên ngoài và 3 cành hoa bên trong
thẳng……………………………………………………………………………. . .15
14. Cụm hoa không hoặc ít phân nhánh; cuống hoa mập, cánh hoa dài trên
3mm……………………………………………………… 11. Anredera baselloides
14. Cụm hoa thường phân nhiều nhánh; cuống hoa mảnh mai; cánh hoa ngắn hơn
3mm………………………………………………….…12. Anredera krapovickasii
15. Gốc lá hình trái tim; tất cả các cánh hoa đều dày…… 13. Anredera densiflora
6

15. Gốc lá tròn, ba cánh hoa bên trong mỏng và nhạt màu hơn 2 cánh bên ngoài, đặc
biệt rõ khi bao bọc quanh quả………………………….14. Anredera tucumanensis
16. Cánh hoa lồi lên ở gốc, đặc biệt trong trái cây………………………… …….17
16. Cánh hoa không lồi, gốc mềm…………………………………………………18
17. Phiến lá chiều rộng bằng hoặc lớn hơn chiều dài; bao hoa vàng khi
nở………………………………………… ….19a. Anredera ramose subsp. Aurea
17. Lá hình lưỡi, chiều dài lớn hơn chiều rộng; bao hoa thường có màu trắng khi nở,
ít khi màu vàng nhạt……………………… 19b. Anredera ramose subsp. Ramosa
18. Cuống lá xù xì có các mấu; bao phấn dài trên 8mm……. . .15. Anredera aspera
18. Cuống lá nhẵn; bao phấn ngắn hơn 8mm …………………. . …………. . ….19
19. Cụm hoa ở nách lá, phân nhánh tại gốc …………. .16. Anredera brachystachys
19. Cụm hoa đơn ở nách lá, không phân nhánh hoặc phân nhánh ở gốc ………… 20
20. Bao hoa đỏ khi nở……………………………………. …. .17. Anredera diffusa
20. Bao hoa trắng khi nở………………………………. .…18. Anredera marginata
Một số loài thuộc chi Anredera điển hình [16]:

dài khoảng 5-10cm. Hoa đơn tính khác gốc. Cuống nhỏ, dài 1,5-2mm, không rụng.
Lá bắc ở dưới hình tam giác, tiêu giảm, lá bắc ở trên màu trắng xanh, hình thuyền,
dài 2-2,5mm. Bao hoa 5, màu trắng xanh, đường kính 2,5mm, mỏng, trong suốt, ít
mở khi nở. Nhị 5. Nhụy 3, trắng, dính gốc. Quả thường có hình cầu, ít khi thấy quả
được tạo ra [16].
Phân bố: Nguồn gốc ở phía nam của Bắc Mỹ, Trung Mỹ, Caribê, phía nam
Nam Mỹ, chủ yếu ở nơi có độ cao thấp, được trồng để trang trí, phát tán đến những
vùng nhiệt đới và cận nhiêt đới trên thế giới [16].
Công dụng: thân rễ của Anredera scandens (Lam.) C. F. Gaertn được sử dụng
từ xa xưa làm thuốc đắp vết thương và trị bỏng [13].
8

1.2.3.2. Anredera baselloides (Kunth) Baill (1888).
Tên đồng nghĩa: Boussingaultia baselloides Kunth (1825); Boussingaultia
weberbaueri Ulbr. (1934); Anredera weberbaueri (Ulbr.) Soukup (1967) [16].
Đặc điểm thực vật: Cây dây leo. Thân nhẵn, không tạo ra các “khối treo” ở
nách lá. Lá đơn, nguyên, mọng nước, phiến lá dài 2-8,5cm, rộng khoảng 1,5cm,
hình elip, ở gốc tròn, thuôn đến đỉnh lá nhọn. Chùm hoa dài 4-25cm, thường không
phân nhánh hoặc phân nhánh. Hoa nhỏ, có cuống, cuống dài 1-3mm. Lá bắc phẳng,
không rụng, hình tam giác đến hình trứng. Hoa lưỡng tính. Đài hoa 2,5-3,5 x 2-
2,5mm, thường ngắn hơn cánh hoa, hình trứng hoặc elip, màu trắng hoặc màu kem,
tồn tại tới khi tạo quả, có màu nâu. Cánh hoa 3-4 x 1-2mm, dài bằng nhau, hình
trứng ngược, khi nở màu kem hay trắng. Bao phấn hơi đỏ. Vòi nhụy 1, không phân
chia. Quả được bao bọc hoàn toàn bởi lá bắc bền [16].
Phân bố: Anredera baselloides (Kunth) Baill thường thấy ở những nơi khí hậu
khô hoặc những nơi rừng ẩm ướt trong dãy Andes của Ecuador và Peru [16].
Ghi chú: Anredera baselloides (Kunth) Baill được xem là một loài quý hiếm
và đã được công nhận bởi các đặc điểm: phiến lá hình elip, cành mập và các hoa có
cuống nhỏ. Các bao hoa trở thành vỏ bao bọc quả. Tên này được áp dụng sai cho
một số loài khác trong chi, một trong những nguồn minh họa sai ban đầu là

- Saponin trên toàn cây: trong đó saponin triterpenoid có trong thành phần của
tất cả các bộ phận, còn saponin steroid chỉ được tìm thấy trong thân và lá [11].
- Alkaloid, glycosid tim, polysaccharid [11].
- Flavonoid ở lá, thân, hoa và thân rễ [11].
- Acid amin (protein nhiều trong thân rễ như Ancordin) [14].
Phân bố: Nguồn gốc ở miền nam và trung của Nam Mỹ (Brazil, Bolivia,
Colombia, Ecuador, Peru, Argentina, Paraguay và Uruguay), được trồng làm cảnh ở
khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới trên toàn thế giới. Anredera cordifolia (Ten.)
Steenis được xem như 1 loài cỏ dại ở một số nơi trên thế giới vì tốc độ phát triển và
phát tán nhanh thông qua hình thức sinh sản vô tính của nó [16]. Nó được sử dụng
như rau ở Đài Loan [11] và là thực phẩm trong đời sống của người dân tộc Mông ở
xã Mường Lống, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.
10

Ghi chú: Anredera cordifolia (Ten.) Steenis được phân biệt bởi: hoa thơm, có
cuống nhỏ rõ ràng với bao hoa mà khi khô có màu nâu sẫm, bao bọc lấy quả. Lá bắc
phẳng. Nhụy chia 3 thùy rõ rệt. Hoa khác với các loài khác ở vòi nhụy xẻ sâu 3
thùy. Hơn nữa, cụm hoa thường lớn, có phân nhánh với rất nhiều hoa nhỏ, được
xem như một loại cây cảnh. Nó thường sinh sản và phân tán bằng các “khối treo”
trên thân [16].
Sinh sản và phát tán: Hoa có từ tháng 5 đến tháng 12 ở Úc (cao nhất trong
mùa thu). Hoa lưỡng tính, có mùi thơm, có tuyến mật tại nhị hoa và thu hút sự thụ
phấn từ côn trùng nhưng lại không tạo quả [17].
Hình thức sinh sản sinh dưỡng chủ yếu của cây là sinh sản vô tính (thông qua
thân rễ dưới mặt đất và “khối treo” ở thân cây). Ngoài ra có thể sinh sản vô tính từ
thân già [12]. Loài này đã trở thành một vấn đề lớn trong một số khu vực, nơi mà nó
xâm lấn như một loài cỏ dại [21], rất khó để kiểm soát vì sự tăng trưởng nhanh
chóng và hiệu quả của việc sinh sản vô tính bằng các “khối treo” [16].
Một số nghiên cứu về tác dụng dược lý của Anredera cordifolia (Ten.) Steenis
- Các nghiên cứu cho thấy sự hiện diện của saponin trong tất cả các bộ phận

- Thuốc nhuận tràng, chữa viêm đại tràng: lá, thân Mồng tơi núi nấu canh ăn
hàng ngày [10].
- Chữa thấp khớp, đau nhức do thấp khớp, đau cơ bắp, chữa lành vết bầm và
làm mềm da: lá và thân cây Mồng tơi núi nghiền nát, đắp vào chỗ đau [10].
- Chữa bỏng: lá Mồng tơi núi nghiền nát, đắp vào chỗ bỏng [10].

12

2 CHƯƠNG 2: NGUYÊN LIỆU, THIẾT BỊ VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. NGUYÊN LIỆU VÀ THIẾT BỊ NGHIÊN CỨU
2.1.1. Nguyên liệu nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là mẫu cây Mồng tơi núi được thu hái tại Mường Lống
vào năm 2011 và đem về trồng tại Hà Nội.
Nguyên liệu được thu hái tại Hà Nội vào tháng 12/2013 và sau đó được đem
trồng tại xã Cúc Phương - Huyện Nho Quan - Tỉnh Ninh Bình và tại vườn Thực vật
trường Đại học Dược Hà Nội để tiến hành theo dõi, giám định tên khoa học của
loài.
Các bộ phận được sử dụng trong quá trình nghiên cứu bao gồm:
- Lá và thân dùng để cắt vi phẫu, phần còn lại rửa sạch, sấy khô, nghiền mịn
đem soi bột.
- Thân rễ dùng để cắt vi phẫu, phần còn lại rửa sạch, thái mỏng, sấy khô, đem
nghiền mịn, soi bột, tiến hành xác định sơ bộ thành phần hóa học (định tính sơ bộ,
sắc kí lớp mỏng).

o
C trong 60 phút.
- Dụng cụ: các dụng cụ thủy tinh và các dụng cụ khác dùng trong phòng thí
nghiệm (bộ dụng cụ cắt vi phẫu cầm tay, dao cắt, cốc có mỏ, đũa thủy tinh, đĩa
petri, ống nghiệm, pipet, bình gạn, bình nón, lam kính, chày cối, bát sứ, mao quản,
cốc chạy sắc ký…)
2.1.2.2. Thiết bị dùng trong nghiên cứu
- Kính hiển vi Labomed.
- Cân kỹ thuật Sartorius, cân phân tích Precisa.
- Tủ sấy.
- Nồi cách thủy, bếp điện.
- Máy chấm sắc ký Camag Linomat 5.
- Máy chụp sắc ký Camag Reprostar 3.
- Máy vi tính với phần mềm winCATS và VideoScan.
- Máy ảnh Canon, Samsung 10.3.
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Về mặt cảm quan
Quan sát, mô tả dược liệu về đặc điểm thực vật, hình dạng, màu sắc, mùi vị,
kích thước bằng mắt thường và chụp ảnh [7].
2.2.2. Về mặt vi học
- Nghiên cứu đặc điểm vi phẫu các bộ phận: Mẫu nguyên liệu tươi (lá, thân,
thân rễ) đem cắt vi phẫu bằng dụng cụ cắt, sau đó tẩy, nhuộm theo phương pháp
nhuộm kép theo các tài liệu: “Thực tập dược liệu phần kiểm nghiệm bằng phương
pháp hiển vi” [2], “Dược liệu học, tập I” [4],

Thực tập Thực vật và nhận biết cây
thuốc” [7]. Soi qua kính hiển vi, sử dụng máy ảnh kĩ thuật số chụp lại đặc điểm vi
phẫu, quan sát cấu tạo các bộ phận, từ đó mô tả đặc điểm giải phẫu của lá, thân,
thân rễ.
- Nghiên cứu đặc điểm bột: Sấy khô mẫu (thân, lá, thân rễ) trong tủ sấy ở

ứng với Felling A, B [6].
Định tính polysaccharid: chiết polysaccharid bằng nước cất, lấy dịch chiết làm
phản ứng với TT Lugol [6].
Định tính acid amin: chiết acid amin bằng nước cất, lấy dịch chiết làm phản
ứng với TT Ninhydrin [6].
15

Định tính acid hữu cơ: chiết acid hữu cơ bằng nước cất, lấy dịch chiết làm
phản ứng với Na
2
CO
3
[6].
Định tính chất béo, caroten, steroid: dịch chiết trong ether dầu hỏa đem tiến
hành các thí nghiệm: nhỏ dịch chiết lên giấy lọc để định tính chất béo, định tính
steroid bằng phản ứng Lieberman – Bourchadat, phản ứng với H
2
SO
4
đặc để định
tính caroten [6].
- Nghiên cứu thành phần trong dịch chiết toàn phần bằng sắc ký lớp mỏng theo
sách “Thực tập Dược liệu phần kiểm nghiệm bằng phương pháp hóa học” [3] và
“Dược liệu học tập II” [5] nhằm mục đích:
Phát hiện sự có mặt của các thành phần hóa học có trong dược liệu ở trong
dịch chiết toàn phần, dựa vào sắc ký đồ dưới ánh sáng ở các bước sóng khác nhau là
254nm, 366nm, ánh sáng thường sau khi phun thuốc thử hiện màu.
Xây dựng và phân tích sắc ký đồ dựa vào phần mềm winCATS và VideoScan,
tạo cơ sở cho quá trình nghiên cứu và kiểm nghiệm dược liệu sau này.
Các bước tiến hành:

số 3). Sau khi phát triển thành cây mới, phần đem vùi xuống đất phát triển, sinh sản
mạnh tạo thành dạng thân rễ có đặc điểm hình thái khác với “khối treo” ban đầu:
màu nâu hoặc xám, kích thước lớn hơn (đường kính 2-3cm, dài từ 3-7cm), với
nhiều đốt trên bề mặt (Hình 3.1, đặc điểm 4). Tuy nhiên, có thể sử dụng thân già
đem giâm xuống đất thành cây mới. Cụm hoa mọc ở nách lá, hình bông hoặc hình
chùm, dài tới 20cm, thõng xuống, có thể không phân nhánh hoặc đôi khi phân thành
2-4 nhánh. Hoa nhỏ, đều, lưỡng tính, mẫu 5, màu trắng, có mùi thơm. Đế hoa lõm
hình chén, lá bắc 2, phẳng, màu xanh, đối xứng dưới bao hoa. Tràng hoa 5, màu
trắng, hình trứng, đỉnh tù hoặc nhọn. Nhị 5, chỉ nhị hẹp, đứng xen kẽ cánh hoa, bao
phấn đính lưng. Bầu trên, 1 ô, đính noãn gốc. Nhụy xẻ làm 3 thùy rõ rệt ở 1/3 phía
trên (Hình 3.2, tr.18).
Căn cứ vào các đặc điểm hình thái của mẫu nghiên cứu, kết hợp với khóa phân
loại [16] cùng với sự tư vấn của TS. Nguyễn Quốc Huy (Bộ môn Thực vật – trường
ĐH Dược HN), chúng tôi kết luận mẫu Mồng tơi núi nghiên cứu có tên khoa học là
Anredera cordifolia (Ten.) Steenis, thuộc chi Anredera, họ Mồng tơi (Basellaceae).
17

Kết luận này cũng phù hợp khi so sánh với các mẫu tiêu bản khô cây và hoa Mồng
tơi núi (hay Mồng tơi củ) do Cử nhân Ngô Văn Trại thu hái tại 2 xã Mường Lống
và Nậm Cắn, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An và tại Đồng Văn, Hà Giang, được giám
định và được lưu tại Khoa Tài nguyên Dược Liệu của Viện Dược Liệu.
3.1.2. Nghiên cứu vi học vi phẫu
Nguyên liệu bao gồm thân, lá và thân rễ tươi, tiến hành làm vi phẫu các bộ
phận nhằm mục đích góp phần cung cấp cơ sở dữ liệu cho công tác kiểm nghiệm
dược liệu Mồng tơi núi.
3.1.2.1. Tiến hành
- Thân, lá, thân rễ ngâm trong hỗn hợp cồn - nước (1:1) để bảo quản mẫu, tiến
hành cắt bằng dụng cụ cắt vi phẫu cầm tay, chọn các lát cắt mỏng, nguyên vẹn.
- Tẩy lát cắt bằng Cloramin B cho tới khi lát cắt trắng hoàn toàn.
- Rửa sạch nhiều lần bằng nước cất.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status