ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC Tự NHIÊN
Nghiêncứu và xác định thành phân hoá học
của lắng đọng khí quyển ướt và lắng đọng khí
quyên khô tại khu công nghiệp
Thượng Đình, Hà Nội
MÃ SỐ: QT-04-35
CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI: T h.s Nguyễn Thuý Ngọc
CÁC CÁN BỘ THAM GIA:
ĐẠI HỌC QU ỐC GIA Ha\ NO'
tru n g Tà m t h õ n g tin thư viển
TS. NGUYÊN PHẠM HA
CN. VÕ NHẬT HIẾU
ThS. NGUYỄN THỊ HẠNH
ThS. VÕ THÀNH LÊ
HÀ NỘI - 2005
BÁO CÁO TÓM TẮT KẾT QUẢ THỰC HIỆN
Đề tài cấp Đại học Quốc gia năm 2004
1. Tên đề tài:
Nghiên cứu và xác định thành phần hoá học của lắng đọng khí quyển ướt và lắng
đọng khí quyển khô tại khu công nghiệp Thượng Đình, Hà Nội
Mâ số: QT - 04 - 35
2. Chủ trì đề tài: ThS. Nguyễn Thuý Ngọc
3. Các cán bộ tham gia:
TS. Nguyễn Phạm Hà
CN. Võ Nhật Hiếu
ThS. Nguyên Thị Hạnh
ThS. Vo Thành Lê
4. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu
M ục tiêu của đ ề tài:
- Sử dụng thiết bị phân tích sắc ký lỏng với đêtector độ dẫn, một thiết bị phân tích
6. Kinh phí của đề tài
6.1. Kinh phí được cấp: 12 triệu đổng
6.2. Giải trình các khoản chi:
- Thuê khoán chuyên môn: 4.200.000 đồng
- Hoá chất, nguyên liệu, dụng cụ: 6.480.000 đồng
- Quản lý phí: 480.000 đồng
- Điện nước và xây dựng cơ sở vật chất: 480.000 đồng
- Hỗ trợ đoà tạo và NCKH: 360.000 đồng
KHOA QUẢN LÝ
CHỦ NHIỆM ĐỂ TÀI
ThS. Nguyên Thuý Ngọc
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC T ự NHIÊN
BRIEF OF THE PROJECT
1. Name of project:
Research and determination of chemical components of wet precipitaion and dry
deposition in the old Thuong Dinh industry area, Hanoi.
The code number: QT - 04 - 35
2. The Coordinator: MSc. Nguyễn Thuý Ngọc
3. The Participants of the project:
Dr. Nguyễn Phạm Hà
BSc. Võ Nhật Hiếu
MSc. Nguyển Thị Hạnh
MSc. Võ Thành Lê
4. Purpose and contents of the research
Purpose:
The high presure liquid chromatogramphy instrument with conductivity detector
(CDD), which is one of model analytical instrument with low detection limit, is used
to analyse the chemical componants (anions and cations) of wet and dry deposition
at Thuong Dinh area.
- Monitoring the acid rain phenomena at Thuong Dinh area by measurement pH
S042' and Ca2+, NH4+. In dry season, ion amounts of deposited dust are larger than
in rainy season.
MỤC LỤC
Trang
I. Mở đầu 1
II. Tổng quan ỉ
1. Thực trạng môi trường không khí ở Hà Nội 1
2. Môi trường không khí khu CN Thượng Đình 2
3. Lắng đọng a xít 3
3.1. Nguồn gốc sinh ra mưa axít 4
3.2. Tác hại của mưa axít 5
III. Thực nghiệm 6
1. Các thiết bị, dụng cụ, hóa chất 6
2. Lấy mẫu 6
3. Xử lý mẫu và bảo quản mẫu 7
4. Phân tích định tính và định lượng 7
4.1 Pha động 7
4.2 Dung dịch chuẩn 8
4.3 Điều kiện chạy HPLC 9
IV. Kết quả và thảo luận 10
1. Lượng mưa và pH, độ dẫn theo tháng 10
2. Thành phần hoá học của nước mưa 12
3. Thành phần hoá học trong bụi 13
V. Kết luận 14
Tài liệu tham khảo 16
Phụ Lục
I. MỞ ĐẦU
Ô nhiễm khôngkhí đang là vấn đề được quan tâm hàng đầu vì mức độ lan rộng của các
chất ô nhiễm là khó kiểm soát. Các nước nghèo hoặc kém phát triền đang phải chịu
chung sự ô nhiễm không khí mà các nước có nền kinh tế phát triển hoặc đang phát
khí NOx và 46.000 tấn khí c o , gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng môi trường không
khí một số khu vực của thành phố.
Kết quả thực hiện chương trình quan trắc môi trường không khí tại các khu, cụm công
nghiệp đo sở KHCN &MT tiên hành từ năm 1996 đến nay cho thấy:
Nồng độ bụi lơ lửng tại hầu hết các khu vực đều có xu hướng tăng dần và đều vượt quá
chỉ tiêu cho phép từ 2,5 đến 4,5 lần, tăng mạnh nhất ở các khu vực Văn Điển, Pháp
Vân, Mai Động.
Nồng độ các khí NOx, S 0 2 ít biến động và có xu hướng giảm nhưng mức độ giảm
không nhiều và đều dưới tiêu chuẩn cho phép. Mặc dù vậy, đây là một tiến bộ đáng kể
vì trong thời kỳ sản xuất công nghiệp có tốc độ tăng trưởng liên tục và khá mạnh cả vế
giá trị tổng sản lượng cũng như tỷ trọng cơ cấu giá trị công nghiệp trong GDP của
thành phố.
Trong khi đó, tại khu vực nội thành chất lượng môi trường không khí có biểu hiện suy
thoái, đặc biệt là ở các khu vực tập trung đông dân cư. Nồng độ bụi có biểu hiện tăng
rõ rệt và đểu vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Nồng độ khí S 02, NOx tuy vẫn ở mức dưới
giới hạn cho phép song có biểu hiện tăng dần. Nguyên nhân chủ yếu là do hoạt động
xây dựng và hoạt động giao thông đô thị gia tăng.
Trong các nãm gần đây tốc độ phát triển các phương tiện giao thông cơ giới ở Hà Nội
tăng mạnh. Trung bình lượng ô tô hàng năm tăng khoảng 15% (riêng năm 2000 và năm
2001 lượng xe máy tăng gần gấp đôi so với năm 1995). Ở Hà Nội hiện nay đã có gần
110.000 xe ô tô các loại, gần 1,1 triệu xe máy và khoảng 1.000.000 xe đạp.
Với cơ sở hạ tầng và sự phát triển phương tiện như trên, vấn đề ô nhiễm không khí do
khí thải giao thông đang là một thách thức lớn của Hà Nội. Lượng khí c o do các
phương tiện giao thông thải ra chiếm gần 60% tổng lượng khí c o gây ỏ nhiễm và
lượng khí NOx chiếm gần 40%. Chính vì vậy, ở Hà Nội khí thải do giao thông đang là
một trong những nguyên nhân chính gây ô nhiễm không khí và nồng độ khí c o quan
trắc được trong năm 2002 ở nhiều khu vực đã tăng rõ rệt.
2. Môi trường không khí khu CN Thượng Đình
Sự phát triển ngày càng cao của các ngành công nghiệp, các khu đô thị và việc tập
trung mật độ dân cư cao đà kéo theo nhiều vấn đề về môi trường, đặc biệt là ô nhiễm
building syndrome - hội chứng đau yếu do nhà ở) cao gấp 8 ,9-9,0 lần so với nhóm đối
chứng. N.v. Hùng (2001) nghiên cứu mối tương quan giứa hội chứng SBS với bệnh tai
mũi họng của học sinh trường THCS Khương Đình cho thấy tỷ lệ mắc các triệu chứng
của hội chứng SBS cao gấp 2,32 -18,85 lần, tỷ lệ mắc các bệnhvề tai mũi họng cao gấp
3,76- 8,85 lần so với nhóm đối chứng [4],
3. Lắng đọng a xít
Thuật ngữ lắng đọng a xít bao gồm cả 2 hình thức:
- Lắng đọng khô (dry deposition): bao gồm các khí (gases), hạt bụi (particulate)
và soi khí (aerosol) có tính a xít. Trong khí quyển các tạp nhiễm này tồn tại dưới
dạng các sol khí, đây là những hạt bụi dạng rắn, lỏng hoặc khí có kích thước hạt
đủ nhỏ để có thể lan truyền tới khoảng cách rất xa.
- Lắng đọng ướt (wet deposition) thể hiện ở nhiều dạng như mưa, tuyết, sương
mù, hơi nước có tính a xít.
Nước mưa có tính axit được gọi là mưa axit. Theo định nghĩa của Uỷ ban Kinh tế Châu
âu thì mưa với pH <=5,5 là mưa axit.
3.1. Nguồn gốc sinh ra mưa axít [8]
Sự tạo thành các khí S 02, NOx từ các hoạt động tự nhiên và của con nguời được coi là
nguồn chính gây lắng đọng axit.
Nguồn tự nhiên: S02 được phát thải từ các nguồn tự nhiên như là các hoạt động của vi
sinh vật, của núi lửa, từ biển. NOx bao gồm các khí N20 , NO, N 0 2 được giải phóng từ
đất thông qua hoạt động của vi khuẩn, cháy rừng, đốt cháy sinh khối. Sự phát thải do tự
nhiên xảy ra trên toàn trái đất, chúng bị pha loãng và có ít tác động ngoại trừ tại một sô'
vùng đặc biệt.
Nguồn gốc từ các hoạt động của con người: S02 được phát thải vào khí quyển chủ yếu
do đốt cháy nhiên liệu hoá thạch than, dầu, khí tự nhiên. Thành phần nhỏ của S 0 2 được
tạo thành từ nhiên liệu có chứa sunfua được tồn lưu trong môi trường ở dạng tro. Một
phần nhỏ khác có thể bị ôxi hoá thành sulphua trioxide (S03) ở nhiệt độ cao và do đó
dẫn đến tạo thành H2S 0 4 trong khí ống khói. Sự đốt cháy cũng oxi hoá cả nitơ trong
nhiên liệu và nitơ có mặt một cách tự nhiên trong không khí tạo thành oxit nitơ.
Cơ ché láng đọíằg axíi
chế một vài quá trình vi sinh hoá như sự cố định nitơ, khoáng hoá Một cơ chế
quan trọng khác của sự a xít hoá đất là sự hấp thụ ưu tiên các cation của thực
vật. Dễ cây hấp thụ Ca2+, Mg2+ ví dụ từ đất nhưng giải phóng H+ để tạo cân bằng
ion. Các cation này được bổ xung lại khi có mưa và khi thực vật phân huỷ hoặc
chết. Nhưng nếu cây và vụ mùa được thu hoạch, các ion này sẽ bị mất và độ axit
sẽ nổi trội hơn.
Sự lắng đọng a xít có thể ảnh hưởng trực tiếp tói cây trồng, phá huỷ lá cây, ngăn
cản quá trình tạo thành tạo thành chồi, rụng hạt. Những kim loại nặng độc tính
cao bị rửa giải vào trong đất ở pH thấp có thể phá huỷ hệ thống dể cây và làm
cho cây không có khả năng hấp phụ chất dinh dưỡng và nước. Sự rửa trôi các
chất dinh dưỡng trong đất có thể dẫn tới giảm năng suất cây trồng.
- Ảnh hưởng tới nước ngầm: lắng đọng a xít làm giảm chất lượng nước ngầm.
Vấn đề này có thể nhận thấy ở một số nơi trên thế giói với hàm lượng kim loại
nặng như chì và các chất độc khác bị rửa từ đất, đá, quặng ở pH thấp. .
- Ánh hưởng tới các vật liệu, công trình: Lắng đọng a xít là một trong những
nguyên nhân làm hư hỏng rất nhiều công trình, vật liệu. Nó phá hủy các vật liệu
như sắt, thép, kẽm, sơn và đá làm thiệt hại kinh tế khá nghiêm trọng. Nước mưa
làm tăng nhanh sự gặm mòn lớp bề mặt của các vật liệu, công trình xây dựng,
nghệ thuật,
- Ảnh hưởng tới sức khoẻ: lắng đọng axít có ảnh hưởng gián tiếp tới sức khoẻ do
nước ngầm hoặc nước bề mặt bị axít hoá. Bên cạnh đó ở hàm lượng cao sulphate
có thể gây trầm trọng thêm các bệnh về tim và phổi.
III. THỰC N GHIỆM
1. Các thiết bị, dụng cụ, hóa chất
- Điện cực thuỷ tinh đo pH, Metrohm- Swiszerland.
- Máy đo độ dẫn, Metrohm - Swiszerland.
- Máy lọc chân không, Buchi - Swiszerland.
- Máy sắc ký lỏng, LC 10 AD, Conductivity detector CDD-6A, Shimadzu, Japan
- Máy siêu âm, pipet, ống đong, bình định mức.
Hóa chất: 8 mM p-Hydroxybenzoic acid; 3,2 mM Tris-(hydroxymethyl)-
4. Phân tích định tính và định lượng
Các khí sau khi giải hấp, được định tính và định lượng trên thiết bị sắc ký lỏng cao áp
HPLC - 10A với detector độ dẫn CDD-6A của hãng Shimadzu, Nhật Bản.
4.1. Pha động:
a. Pha động cho anion (N 0 2\ NO3', S 0 42', Cl'):
Pha động là hỗn hợp 8 mM p-Hydroxybenzoic acid và 3,2 mM Tris-(hydroxymethyl)-
aminomethan. Cân 1,105 g 8 mM p-Hydroxybenzoic và 0,3877 g Tris-
(hydroxymethyl)-aminomethan vào bình định mức 1 lít. Sau khi định mức bằn nước
đeion, dung dịch được lọc qua giấy lọc Nylon và siêu âm trong 30 phút. Pha động dùng
tối đa là 3 ngày sau khi pha.
b. Pha động cho cation (NH4+, K+, Na+):
Dung dịch HNO1 5mM: Lấy 6,95 ml dung dịch HNO3 65% vào bình định mức 100ml
(đã có nước đeion) định mức đến vạch bằng nước đeion ta được dung dịch HNO3 IM.
Sau đó lấy 5ml HNO, IM vào bình định mức ÌOOO ml ta được pha động HNO3 5.lO'3M
c. Pha động cho cation (Ca2+, Mg2+):
Hỗn hợp 4 mM Tartaric acid và 2 mM Etylenediamine. Cân 0,6 g Tartaric acid và lấy
0,1252 ml Etylenediamine vào bình định mức 1 lít. Sau khi định mức bằng nước đeion,
- A: Từ ngày hôm trước, lượng mưa >=1 mm (30ml)
- B: Từ ngày trưóc, lượng mưa <1 mm
- C: Ngày hôm trước, không mưa
- D: Đẩu tháng
( Mẫu được lấy)
(Loại bỏ, không lấy mẫu)
(Không phải lấy mẫu)
(Thay BC)
- F: 7 ngày sau trận mưa cuối cùng (Rửa WO, thu mẫu bụi trên BC)
dung dịch được lọc qua giấy lọc Nylon và siêu âm trong 30 phút. Pha động dùng tối đa
là 3 ngày sau khi pha
4.2. Dung dịch chuẩn
4.2.1. Pha chuẩn gốc:
4.2.2. Pha hỗn hợp chuẩn cho các anion cr, NO'2, NO3', S 0 42' :
- Hỗn hợp A: từ các chuẩn gốc 1000 ppm lấy 4 ml dung dịch c r, lấy 2 ml dung dịch
NO 2, lấy 4 ml dung dịch N 0 3 , lấy 40 ml dung dịch S 042 tất cả cho vào bình định mức
100 ml, sau đó định mức bằng nước đeion. Ta được hỗn hợp dung dịch có nồng độ C1
40 ppm; NO'2 20 ppm; N 0 3 40 ppm; SO42" 400 ppm (40 ppm; 20 ppm; 40 ppm; 400
ppm).
- Từ hỗn hợp A pha loãng lần lượt các dung dịch hỗn hợp để dựng đường chuẩn:
+ C1 (4 ppm; 2 ppm; 4 ppm; 40 ppm),
+ C2 (1 ppm; 0,5 ppm; lppm; 10 ppm),
+ C3 (0,5 ppm; 0,25 ppm; 0,5 ppm; 5 ppm),
+ C4 (0,1 ppm; 0,05 ppm; 0,1 ppm; 1 ppm).
Ta được dãy chuẩn các hỗn hợp C4 -> C l, sau đó bơm lên HPLC cùng lúc bơm mẫu.
Bảng: Pha đường chuẩn cho các Anion (Cl\ N 0 2, NO3 , SO42)
Hỗn hợp C1
C2
C3 C4
Nổng độ
(ppm)
Cl
4 1
0,5
0,1
NO‘2
2
0,5 0,25
0,05
NO3-
4 1
0,5
0,1
Hỗn hợp lấy
A Cl C2 C2
Thể tích lấy (ml) 1 2
5 1
4.2.4. Pha hỗn hợp chuẩn cho các cation nhóm II Ca2+, Mg2+:
Dung dịch A: Từ các chuẩn gốc 1000 ppm; lấy 10 ml dung dịch Ca2+, lấy 5 ml
dung dịch Mg2+ cho vào bình định mức 100 ml, sau đó định mức bằng nước đeion. Ta
được hỗn hợp dung dịch có nồng độ Ca2+ 100 ppm, Mg2+ 20 ppm (100 ppm, 20 ppm)
- Từ hỗn hợp dung dịch A lần lượt pha loãng được các hỗn họp C1 (25 ppm; 5 ppm),
C2 (5 ppm; 1 ppm), C3 (1 ppm; 0,2 ppm), C4 (0,5 ppm; 0,1 ppm), C5 (0,1 ppm; 0,02
ppm).
Ta được dãy chuẩn các hỗn hợp C5 -> C l, sau đó bơm lên HPLC cùng lúc bơm mẫu.
Bảng: Pha đường chuẩn cho các cation nhóm II (Ca2+, Mg2+)
Hỗn hợp
Cl C2
C3 C4
C5
Nồng độ
(ppm)
Ca2+
25 5 1
0,5
0,1
Mg2+
5 1 0,2
0,1
0,02
Bình định mức (ml)
10 10
10 10
IV. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1. Lượng mưa và pH, độ dẫn theo tháng
Bảng 1. Thời gian lấy mẫu, pH và độ dẫn của nước mưa
được thu gom bởi w o and BC
WO
BC-RW
Tháng
Lượng mưa
(mm)
pH
Độ dẫn
((iS/cm)
pH
Độ dẫn
(fiS/cm)
1
3,2 6,0
179,2
6,6
194,4
2
21,7
Không lấy được mẫu
7,7
26,8
3
31,2 5,5 79,5
5,9 78,8
4 137,6 4,8 30,9 4,9 33,9
5
Ghi chú: WO: Mẫu nước mưa được lấy bằng hệ rliống WO,
BC-RW: Mẫu nước mưa được lấy bằng BC,
BC: Mẩu bụi được láy bỏng BC khi không có mưa.
Lượng mưa được tính toán theo luận văn cao học cùa P.M. Hoài SỐ.EV-97-34, Air, Thái Lan:
Thể tích mẫu(ml)* 1000
Lượng mưa = ịmm)
31400 (mm2)
Đường kính phễu hứng: d = 20 cm, Diện tích phễu = 7Ĩ.R2 = 3.14* (100 mm)2 = 31400 rnm2
Trong nghiên cứu này, mẫu nước mưa được thu thập từ trong năm 2004. Số liệu đo đạc
cho thấy tổng lượng mưa trong năm ỉà 1856,4 mm với trận mưa nhỏ nhất là 2,0 mm và
trận mưa lớn nhất với lượng mưa đo được là 187,3 mm. Tháng 7 là tháng có lượng mưa
cao nhất (379,8 ram) nhưng tháng 8 lại là tháng có số trận mưa nhiều nhât 10 trận.
Mưa đặc biệt ít vào những tháng đầu năm và cuối năm. Mùa mưa ở miền Bắc thường
bắt đầu vào tháng 4 và kết thúc vào tháng 9 hoặc tháng 10. Với tổng số 51 trận mưa
được lấy trong năm, trong đó có 12 trận có pH < 5,6, chiếm 23,5 %. So sánh với giá trị
trung bình pH năm 2003 hiện tượng mưa a xít đã xảy ra có chiều hướng tãng gấp hơn 2
lần (năm 2003 số trận mưa pH<5,6 là 11,6%).
Độ dẫn trung bình của nước mưa theo hàng tháng trong khoảng 12,2 đến 179,2 |iS/cm
lấy bằng WO và 19,3 đến 194,4 |j.s/cm đối với mẫu lấy bằng BC. Nhinh chung độ dẫn
của BC-RW cao hơn WO khoảng vài đơn vị dến hàng chục đơn vị |aS/cm . Điều này rõ
ràng vì BC-RW có chứa các bụi lắng làm cho độ dẫn trong nước mưa được thu gom
cao hơn hẳn. Đặc biệt độ dẫn cao vào những trận mưa trong mùa khô.
So sánh độ dẫn của nước mưa được lấy bằng BC và WO
Tháng lấy mẫu
Hình 2. Sự khác nhau về độ dẫn của nước mưa được
thu gom bằng hệ thống WO và BC
2. Thành phần hoá học của nước mưa
Qua phân tích thành phần hoá học của các trận mưa theo tháng, thứ tự nồng độ của các
anion và cation trong nước mưa theo thứ tự sau:
Mẫu WO: S042 > Cl> NO3- và Ca2+> N H /> Na+> Mg2+ > K+.
5
5/ 2004
22,8 30,6 123,6 7,7
31,1
0,5 4,3
113,6
6 6/2004 5,5 8,5 33,3
13,0 27,6 <0,1
1,5
29,2
7
7/2004
0,8
2,7
69,0 2,4
21,0 <0,1
0,3
19,6
8 8/2003.
1,3
6,7
33,8
1,8
37,2 <0,1
0,6
11,1
9
9/2003 5,0
8,1
68,5 2,6
187.8 <0,1
11,9 338,1
4 4/2004
23,9
46,3
155,7 30,0
55,0 <0,1
2,0
115,5
5 5/2004 14,8 12,0 68,3 4,6
29,8 0.6
0,4
134,2
6 6/2004 6,0 10,4 48,8 15,6
31,0
<0,1 2,5
83,7
7 7/2004 11,1
1,1
76,9
3,5
18,9
<0,1
0,2
37,3
8 8/2003
2,8 8,5 54,5 4,7
48,5 <0,1
0,4
28,9
1,1
1,4
Nồng độ trung bình các ion của lắng đọng ướt đối với lấy mẫu bằng BC sấp xỉ hoặc cao
hơn lấy mẫu bằng WO ngoại trừ Na+ và N 0 3\ Đặc biệt Ca2+ trong BC cao gần gấp rưỡi
WO. Chúng ta có thể nhận thấy sự khác biệt này rõ ràng hơn trong hình 2. Lượng
Calcium cao trong BC có nguồn gốc từ bụi lắng đọng trong không khí. Trong khi hàm
lượng sunphate của BC chỉ cao hơn WO chút ít điều này cho thấy các muối của Ca2+ và
Mg2+ trong bụi ngoài các muối sunphat còn có các muối cácbonat hoặc phốtphát và các
muối khác.
Nồng độ các cation và anion trong lắng đọng ướt
300.0
250.0
> 200.0
^3
■o- 150.0
oe
' I 100.0
50.0
0.0
El W O collector
■ RC collector
' ị •• • r'
ỉ*
ị
i
• !
-■ ■;
n I I
a
— — 1 ■■
1039,9
4594,2
87,9 389,1
28,0
45,5 5348,3
4
BC-0427 26.05.04 57,0 271,1 1363,3
66,5 13,9
38,0 3,8
1843,0
5
BC-0436 23.06.04 12,7
130,9
501,0 268,3
49,9
33,0 56,1
1466,3
6
BC-0439
05.07.04
256,9
270,3 202,8 575,3 13,0 39,3 62,1
1663,0
Hai ion Ca2+ và S042' vẫn là những ion chiếm thành phần nổi trội so với các ion khác
với hàm lượng trên một nghìn ^Ig. Hà Nội nói chung và khu công nghiệp Thượng Đình
nói riêng đang bị ô nhiễm bụi lơ lửng, Nhưng những năm gần đây, hàm lượng bụi
(TSP) tại thành phố Hà Nội cao hom từ 3-5 lần tiêu chuẩn cho phép (Báo cáo Hiện trạng
mỏi trường, Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất, 2004). Lượng bụi lơ lửng tăng trong
không khí tại Hà Nội chủ yếu là từ các hoạt động xây đựng, giao thông và công nghiệp.
Nhìn chung số liệu cho thấy vào những tháng của mùa mưa (tháng 5, 6,7) lượng ion
Việt Nam bâng sắc ký ion. Tạp chí phân tích Hoá, Lý và Sinh học, tập 2, số 4, 439-460.
[3]. Khoa học Môi trường, Lé Văn Khoa, Nhà xuất bản giáo dục, 2002.
[4], Chu Văn Thăng, Báo cáo “ Ảnh hưởng của ô nhiễm không khí tới sức khoẻ dân cư tại khu
công nghiệp Thượng Đình, ĐH khoa học Tự nhiên và Đại học Y Hà Nội, 12/2003.
[5]. Tài liệu: Điều tra đánh giá tình trạng ô nhiễm môi trường do cồng nghiệp gây ra ờ thành
phố Hà Nội Trung tâm kỹ thuật Môi trường đô thị và khu công nghiệp CEETIA
[6], TS Chu Văn Thăng, TS.Lê Thị Tài, trường ĐH Y Hà Nội. PGS.TS Hoàng Xuân Cơ, TS.
Vũ Quyết Thắng Trường ĐHKHTN."Ảnh hưởng của ỏ nhiễm không khí tới sức khỏe dân cư
tại khu công nghiệp Thượng Đình." Hà Nội 3-2004 (tr.90)].
[7Ị. Báo cáo Hiện trạng mồi trường, Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất, 2004
[8], P.M.Hoai, Chemical composition and acidity of atmospheric deposition in the northern
part of Vietnam. The thesis No. EV-97-34, AIT, Thailand.
/9/. Guidelines for acid deposition monitoring in East Asia, adopted at The second Interim
Scientific Advisory Group meeting o f Acid deposition M onitoring network in East Asia.,
March 2000.
ỊỈ0Ị. N.H. Khánh, 2000, Air emission and the acidity of rain water of Hanoi city, Progress in
Nuclear Energy, Vol.37, No. 1-4, 41-46.
[11]. L. Granat, K. Suksomsankh, S.Simachaya, M. Tabucanon and H. Rodhe.1996. Regional
background acidity and chemical composition of precipitation in Thailand, Atmosphere
Environment Vol.30, 1589-1596.
Ị12Ị. L.Granat, S.N.Das, R.s. Tharkur, and H. Rodhe, 2001. Atmospheric deposition in a rural
area in India-net and potential acidity. Water, Air and Soil pollution 130, 469-474.
Phụ lục
Phụ lục
1. Thiết bị phân tích HPLC , SCL-10A Shimadzu, Nhật Bản
2. Sắc đổ một số mẫu khi phân tích:
ŨJti:A-eCố1.0*0 Hethod:A-BC61.Mto Ch-1
Chron: A-BCÓ1 .CiG 0ack chron: RT 1812 L«v®t 29522 fit ten: 5
Sắc đồ của các Anion (cr, N 0 3‘, S 0 42)
ì OAI HO C QU Ố C GIA HÀ NỎ'