Cải thiện điều kiện lao động trong Công ty Cổ phần Chế tạo Bơm Hải Dương - Pdf 29

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
1.Sự cần thiết của đề tài
Vốn, nguyên vật liệu, trang thiết bị và sức lao động luôn được coi là điều kiện
kiên quyết của hoạt động sản xuất. Vì vậy mà người sử dụng lao động, nhà quản lý
các Doanh nghiệp luôn quan tâm và coi trọng việc đầu tư duy trì và phát triển sản
xuất.
Trong quá trình sản xuất, các chủ Doanh nghiệp luôn coi nguyên vật liệu trong
đó có năng lượng, lúc nào cũng được tìm cách để đưa ra giá thấp nhất trên thị trường
mà ít khi tính đến việc khai thác yếu tố về môi trường và con người. Việc sử dụng
sức lao động được thuê với giá rẻ của các chủ Doanh nghiệp không hề tính đến các
nguy hiểm có hại có thể xảy ra khi điều kiện lao động căng thẳng đã ảnh hưởng xấu
tới sức khoẻ và năng suất lao động của người lao động. Thực trạng này đang diễn ra
đối với tất cả các nước có nền công nghiệp phát triển và các nước có nền công nghiệp
chưa phát triển. Và như vậy tầm quan trọng của cải thiện điều kiện lao động và hạnh
phúc của người lao động đã bị bỏ qua và các vấn đề về môi trường cũng bị lãng quên.
Điều này đòi hỏi tổ chức Công đoàn, các nhà chính trị - xã hội, các phong trào phi
chính phủ phải đặc biệt quan tâm và làm tốt hơn nữa việc cân bằng giữa việc làm,
tiền lương, chất lượng, khối lượng công việc, sức khoẻ người lao động.
Hiện nay môi trường và điều kiện lao động đã được quan tâm, cải thiện, được
nhận thức và chấp nhận là một giá trị xã hội cũng như là một yêu cầu vô điều kiện
cho sự phát triển bền vững. Vì vậy, tôi chọn đề tài “Cải thiện điều kiện lao động
trong Công ty Cổ phần Chế tạo Bơm Hải Dương” để từ đó có lời khuyên, góp ý
tới công ty nhằm cải thiện điều kiện lao động giúp người lao động và người sử dụng
lao động hài lòng.
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Tổ chức lao động tại Công ty
- Điều kiện lao động tại các phân xưởng sản xuất bao gồm các yếu tố : ánh
sáng, tiếng ồn, vi khí hậu, bụi, hơi khí độc
- Tình hình sức khỏe của cán bộ công nhân viên trong Công ty, đặc biệt là

toán – tài vụ và đặc biệt là phòng Tổ chức Lao động đã tạo điều kiện thuận lợi để
chuyên đề này được hoàn thành.
Vì khoảng thời gian thực tập tại Công ty cổ phần chế tạo Bơm Hải Dương chỉ
kéo dài 15 tuần, nên những nhận định về điều kiện lao động và các biện pháp cải
thiện điều kiện lao động có thể còn nhiều thiếu sót. Do vậy, tác giả rất mong nhận
được sự đóng góp ý kiến để đề tài được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn !
Nguyễn Thị Bích Ngọc_CQ482026 Lớp: QTNL 48
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chương I
Cơ sở lý luận của cải thiện điều kiện lao động trong
doanh nghiệp
1. Vai trò của cải thiện điều kiện lao động trong doanh nghiệp
1.1. Khái niệm về điều kiện lao động
Lao động tạo ra của cải vật chất nhằm thỏa mãn nhu cầu về đời sống của con
người. Không những thế lao động còn là điều kiện cần thiết để con người khỏe mạnh.
Tuy nhiên, lao động phải dựa trên cơ sở có khoa học có nghĩa là trong quá trình lao
động, cơ thể phải thích ứng với tốt nhất với môi trường xung quanh cũng như điều
kiện lao động.
Khái niệm điều kiện lao động đã được nói đến nhiều trong các công trình khoa
học trong và ngoài nước với nhiều cách diễn giải khác nhau nhưng đều thống nhất ở
khái niệm : “Điều kiện lao động là tổng thể các yếu tố tồn tại trong môi trường làm
việc bao gồm các yếu tố vệ sinh, tâm lý xã hội và thẩm mỹ có tác động lên trạng thái
chức năng của cơ thể con người, khả năng làm việc, thái độ lao động, sức khỏe, quá
trình tái sản xuất sức lao động và hiệu quả lao động của họ trong hiện tại cũng như về
lâu dài.”
1.2. Các nhân tố của điều kiện lao động
Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội nói chung và bộ môn Tổ chức lao
động khoa học nói riêng, điều kiện lao động trong thực tế hiện nay rất phong phú và

quan xung quanh phù hợp với quá trình sản xuất sẽ có tác dụng làm tăng chất lượng
của sản phẩm làm ra, giảm bớt phế phẩm, tăng năng suất lao động. Nhóm điều kiện
thẩm mỹ của lao động bao gồm các yếu tố :
 Bố trí không gian sản xuất và sự phù hợp với thẩm mỹ
 Sự phù hợp của trang thiết bị với yêu cầu của thẩm mỹ
 Một số nhân tố khác của thẩm mỹ : âm nhạc, trang trí, cảnh quan môi trường
1.2.4. Nhóm điều kiện tâm lý xã hội
Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thì con người luôn muốn
nhận được nhiều thứ từ công việc chứ không phải chỉ có tiền và các thành tựu nhìn
thấy, họ muốn thỏa mãn các nhu cầu được quan hệ với những người khác để có thể
thể hiện và chấp nhận tình cảm, sự chăm sóc và sự hiệp tác, họ muốn được tôn trọng,
được trưởng thành và phát triển, được biến các năng lực của mình thành hiện thực
hoặc đạt được các thành tích mới. Vì vậy, các nhà quản lý cần cải thiện nhóm điều
kiện tâm lý xã hội gồm :
 Bầu không khí tâm lý trong tập thể, tác phong của người lãnh đạo, khen
thưởng và kỷ luật
 Điều kiện để thể hiện thái độ đối với người lao động, thi đua, phát huy sáng
kiến
Nguyễn Thị Bích Ngọc_CQ482026 Lớp: QTNL 48
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.2.5. Nhóm điều kiện chế độ làm việc và nghỉ ngơi
Nhóm điều kiện chế độ làm việc và nghỉ ngơi gồm các yếu tố :
 Sự luân phiên giữa làm việc và nghỉ giải lao
 Độ dài thời gian nghỉ, hình thức nghỉ
1.3. Tầm quan trọng của cải thiện điều kiện lao động trong doanh nghiệp
Mục đích của cải thiện điều kiện lao động là đạt kết quả lao động đồng thời
đảm bảo sức khỏe, an toàn cho người lao động, phát triển toàn diện người lao động
và góp phần củng cố mối quan hệ xã hội của người lao động, giúp doanh nghiệp phát
triển.

Từ những lý do trên có thể thấy được vai trò quan trọng của cải thiện điều
kiện lao động trong doanh nghiệp. Vì vậy, các nhà quản lý cần phải thường xuyên
quan tâm và đưa ra thảo luận tại các cuộc trao đổi khi xây dựng chương trình, chiến
lược phát triển của doanh nghiệp.
2. Các phương pháp đánh giá về điều kiện lao động
2.1. Phương pháp khảo sát
Phương pháp khảo sát là phương pháp dùng phương tiện kỹ thuật đo lường để
ghi chép, theo dõi về hiện trạng các yếu tố điều kiện lao động, tương ứng với nó là
ghi chép các mức đọ tác động lên trạng thái cơ thể con người trong quá trình làm
việc.
Phương pháp này có ưu điểm là cho phép đánh giá chính xác về điều kiện lao
động, biết được ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện lao động lên trạng thái sức khỏe
của người lao động, biết được nguyên nhân gây ra các điều kiện không tốt đối với
người lao động, biết được mức độ ảnh hưởng của điều kiện lao động – mức độ nặng
nhọc của lao động. Nhưng phương pháp này có nhược điểm là tốn thời gian và chi
phí.
Mức độ nặng nhọc của điều kiện lao động là mức độ ảnh hưởng của tổng thể
các yếu tố thuộc môi trường làm việc lên trạng thái, chức năng cơ thể của con người
và ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sản xuất và tái sản xuất của người lao động.
Tùy thuộc vào tình hình phát triển của mỗi quốc gia, mức độ nặng nhọc của
điều kiện lao động ở mỗi quốc gia gồm nhiều loại khác nhau. Ở Việt Nam, Viện
Khoa học lao động và các vấn đề xã hội của Bộ Lao động đã chia mức độ nặng nhọc
của điều kiện lao động thành 6 loại sau :
- Điều kiện lao động ở mức độ nặng nhọc loại 1 : Điều kiện lao động ở mức
độ nặng nhọc loại 1 khi nó được thực hiện trong điều kiện lao động nhẹ nhàng thoải
mái, những công việc loại này thường có tác dụng tập luyện, nâng cao khả năng làm
việc và góp phần nâng cao sức khỏe người lao động.
- Điều kiện lao động ở mức độ nặng nhọc loại 2 : Điều kiện lao động ở mức
độ nặng nhọc loại 2 là điều kiện làm việc phù hợp với điều kiện vệ sinh an toàn lao
động và mức tiêu chuẩn sinh lý ở mức độ cho phép của điều kiện cơ thể của người

Đây là phương pháp đánh giá điều kiện lao động dựa theo báo cáo định kỳ về
tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tình trạng sức khỏe của người lao động.
- Tai nạn lao động là tai nạn xảy ra trong quá trình trực tiếp hoặc liên quan
đến lao động, công tác do tác động đột ngột của các yếu tố nguy hiểm từ bên ngoài
làm chết người hoặc làm tổn thương hoặc hủy hoại chức năng hoạt động bình thường
của một bộ phận nào đó của cơ thể.
Theo tình trạng chấn thương, tai nạn lao động được chia thành 3 loại : tai nạn
lao động chết người, tai nạn lao động nặng, tai nạn lao động nhẹ.
Nguyễn Thị Bích Ngọc_CQ482026 Lớp: QTNL 48
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Để đánh giá tình hình tai nạn lao động, ngoài con số tuyệt đối thống kê được,
người ta còn xác định tần suất tai nạn lao động :
K
TNLĐ
= n/N * 1000
Trong đó : n : số trường hợp bị tai nạn lao động trong doanh nghiệp
N : tổng số lao động trong doanh nghiệp trong thời điểm thống kê
Đơn vị : phần nghìn (%
0
).
- Bệnh nghề nghiệp là một hiện trạng bệnh lý mang tính chất đặc trưng nghề
nghiệp hoặc liên quan đến nghề nghiệp mà nguyên nhân sinh ra bệnh là do tác hại
thường xuyên và kéo dài của điều kiện lao động xấu. Cũng có thể nói rằng đó là do
sự suy yếu dần về sức khỏe gây nên bệnh tật cho người lao động do tác động của các
yếu tố nguy hiểm và có hại phát sinh trong quá trình sản xuất.
Đánh giá tình hình mắc bệnh nghề nghiệp người ta dùng chỉ tiêu tần suất mắc
bệnh nghề nghiệp :
K
BNN

đảm bảo điều ấy sẽ làm cho mắt chóng mệt mỏi, dẫn đến cận thị làm giảm khả năng
lao động và có thể dẫn đến tai nạn lao động.
3.1.2. Tác hại của việc chiếu sáng không hợp lý
Nếu làm việc trong điều kiện chiếu sáng không đạt tiêu chuẩn, mắt phải điều
tiết nhiều dẫn đến mệt mỏi. Tình trạng mắt bị mệt mỏi kéo dài sẽ gây căng thẳng và
khả năng phân biệt của mắt đối với sự vật dần dần bị sút kém. Đó là nguyên nhân làm
tăng mức phế phẩm trong sản xuất và làm giảm năng suất lao động. Người lao động
trẻ tuổi nếu làm việc trong điều kiện thiếu ánh sáng kéo dài sẽ sinh ra tật cận thị.
Ngoài ra do ánh sáng quá thiếu, sự phân biệt các vật bị nhầm lẫn dẫn đến làm sai các
động tác và do đó sẽ xảy ra tai nạn lao động.
Nếu cường độ chiếu sáng quá lớn hoặc bố trí chiếu sáng không hợp lý sẽ dẫn
đến tình trạng lóa mắt tức là tình trạng mắt bị chói quá là nhức mắt và do đó cũng
làm giảm thị lực của người lao động. Tác hại do chiếu sáng quá chói hoặc bố trí
không hợp lý cũng dẫn đến giảm năng suất lao động và tăng tai nạn lao động.
.
Tiêu chuẩn chiếu sáng
Sự tương
phản giữa
vật và nền
Đặc điểm
của nền
Độ rọi nhỏ nhất (lux)
Dùng đèn huỳnh quang Dùng đèn sợi đốt
Chiếu sáng
hỗn hợp
Chiếu sáng
chung
Chiếu sáng
hỗn hợp
Chiếu sáng

- Tiếng ồn khí động do hơi chuyển động với vận tốc cao : tiếng động cơ phản
lực, tiếng máy nén hút khí,…
- Tiếng nổ hoặc xung động khi động cơ đốt trong hoặc diesel làm việc.
• Theo tần số âm thanh : căn cứ vào sức nghe của tai người có các loại :
- Hạ âm có tần số < 20Hz, tai người không nghe thấy.
- Âm tai người nghe được có tần số 20Hz – 16KHz.
- Siêu âm có tần số > 20KHz, tai người không nghe thấy.
Ngoài ra người ta có thể phân loại tiếng ồn theo dải tần số, cách lan truyền
nguồn ồn, theo phổ,…
3.2.2. Tác hại của tiếng ồn
Nếu làm việc tiếp xúc với tiếng ồn quá lâu sẽ làm cho cơ quan thính giác bị
mệt mỏi. Lúc đầu chức năng thính giác vẫn thích nghi tốt để làm việc. Nhưng nếu
tiếng ồn liên tục làm cho ngưỡng nghe tăng lên, cảm giác nghe dần dần bị sút kém và
trở nên kém thích nghi. Thính giác bị mệt mỏi lâu ngày không phục hồi sẽ là nguyên
nhân dẫn đến điếc nghề nghiệp.
Đối với toàn thân, làm việc tiếp xúc với tiếng ồn quá nhiều cơ thể dần bị mệt
mỏi, ăn uống sút kém và không ngủ được. Tình trạng đó kéo dài dẫn đến bệnh suy
nhược thần kinh và suy nhược cơ thể, dẫn đến giảm sút khả năng lao động của người
lao động, làm tăng phế phẩm, tai nạn lao động.
Tiêu chuẩn tiếng ồn cho phép
Dải tần 63 125 250 500 1000 2000 4000 8000
Nguyễn Thị Bích Ngọc_CQ482026 Lớp: QTNL 48
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
số (Hz)
Mức âm
(dBA)
103 96 91 88 85 83 81 80
3.3. Rung động trong sản xuất
Trong lao động sản xuất, các thiết bị máy móc, dây chuyền công nghệ thường

Vi khí hậu là nhân tố thường gặp trong sản xuất và có ảnh hưởng lớn tới khả
năng làm việc và sức khỏe của người lao động. Vi khí hậu được hiểu là khí hậu trong
giới hạn môi trường sản xuất. Vi khí hậu là tình trạng vật lý của không khí bao gồm
các yếu tố về nhiệt độ không khí, độ ẩm, bức xạ nhiệt và luồng không khí trong phạm
vi môi trường sản xuất của Doanh nghiệp.
Những yếu tố của vi khí hậu trong sản xuất tác động trực tiếp đến cơ thể
người lao động gây ảnh hưởng đên sức khỏe nên làm giảm khả năng lao động của
người lao động.
3.4.1. Những yếu tố của vi khí hậu
• Nhiệt độ
Nhiệt độ là nguồn nhiệt được tạo nên bởi năng lượng tự nhiên hoặc nhân tạo
trong quá trình hoạt động sản xuất. Nhiệt độ thay đổi theo các địa dư khác nhau, theo
thời gian trong ngày, theo mùa và theo quy trình sản xuất. Nhiệt độ thể hiện sự hấp
thụ nhiệt của không khí và các vật thể xung quanh con người.
Trong sản xuất có các nguồn sinh nhiệt chủ yếu sau :
- Nhiệt độ do cơ năng máy móc hoạt động sinh ra
- Các lò đun, nồi hơi
- Hơi nóng từ các ống dẫn vật đựng, khe hở lò cao
- Ánh sáng mặt trời, hệ thống chiếu sáng nhân tạo
- Cơ thể công nhân tỏa ra khi làm việc
• Độ ẩm
Độ ẩm là lượng hơi nước có trong 1m³ không khí. Nếu độ ẩm không khí cao,
hơi nước trong không khí khi bão hòa sẽ đông lại thành sương mù, nếu gặp lạnh sẽ bị
đọng lại thành từng giọt rơi xuống. Đây là yếu tố thường kết hợp với nhiệt độ tạo nên
cảm giác dễ chịu hoặc khó chịu đối với cơ thể con người.
• Bức xạ nhiệt
Nhiệt là một dạng động năng luôn truyền từ vật có nhiệt độ cao sang vật có
nhiệt độ thấp, sự truyền nhiệt được tiến hành đến khi nhiệt độ của các vật cân bằng
mới thôi.
Có ba hình thức truyền nhiệt là : dẫn nhiệt, đối lưu và bức xạ nhiệt. Trong môi

Nguyễn Thị Bích Ngọc_CQ482026 Lớp: QTNL 48
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tiêu chuẩn vi khí hậu cho phép
Thời
gian
(mùa)
Loại lao
động
Nhiệt độ không
khí (độ C)
Độ ẩm
không
khí
(%)
Tốc độ
không
khí
(m/s)
Cường độ bức xạ nhiệt
(W/m²)
Tối đa Tối
thiểu
Mùa
lạnh
Nhẹ 20 ≤ 80 0,2
0,4
35 – khi tiếp xúc trên 50%
diện tích cơ thể con người
Trung bình 18

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Ngoài ra còn có các cách phân loại bụi như : theo tính chất xâm nhập vào
đường hô hấp, theo tác hại, độ phân tán, độ hòa tan,…
3.5.2. Tác hại của bụi đối với cơ thể
Bụi gây nên tổn thương, suy giảm chức năng đường hô hấp, gây biến chứng
lao phổi, suy phổi, tâm phế mãn, viêm phổi,… do xơ hóa hoặc giãn phổi. Các bệnh
bụi phổi rất nguy hiểm do tác hậu gây ung thư và tiếp tục tiến triển kể cả sau khi
không hít thêm bụi và có thể dẫn đến tử vong. Bụi gây các tác hại về đường hô hấp
như : viêm mũi, họng, khí phế quản; viêm phù thũng, viêm loét lòng khí phế quản;
viêm loét thủng vách mũi; viêm mũi, viêm phế quản dạng hen, gây ung thư,...
Bụi bám vào da và niêm mạc gây ra viêm các bộ phận này, gây dị ứng, kích
thích da và nhiễm trùng.
Bụi bám vào mắt gây ra các bệnh về mắt như viêm màng tiếp hợp, viêm giác
mạc. Bụi kim loại có cạnh sắc nhọn khi bám vào mắt làm sây sát hoặc thủng giác
mạc làm giảm thị lực mắt của người lao động. Nếu là bụi vôi khi bắn vào mắt gây ra
bỏng ở mắt.
Bụi vào miệng gây ra viêm lợi và gây bệnh sâu răng. Bụi có thể gây ra sây sát
niêm mạc dạ dày, viêm loét dạ dày hoặc gây những rối loạn tiêu hóa.
Nếu bị nhiễm các bụi độc như hóa chất, thuốc trừ sâu, chì, thủy ngân, thạch
tín,... khi vào cơ thể, bụi được hòa tan vào máu và gây nhiễm độc cho toàn cơ thể.
Tiêu chuẩn cho phép về bụi
Hàm lượng
Silic (%)
Nồng độ bụi toàn phần (mg/m³) Nồng độ bụi (5µmg/m³)
Lấy theo ca Lấy theo thời
điểm
Lấy theo ca Lấy theo thời
điểm
100 0,3 0,5 0,1 0,3
>50 – 100 1, 2, 0,5 1,

2
của máu
hoặc chất độc có thể làm tan huyết gây ra bệnh vàng da thiếu máu.
Hoá chất độc gây ra viêm da; kích thích niêm mạc đường hô hấp gây ra ho, hắt
hơi,…; làm viêm dây thần kinh, các hội chứng về tinh thần như : tinh thần sa sút,
hưng phấn tinh thần, bệnh tinh thần phân lập,…; hóa chất độc làm cho viêm đường
tiết niệu, đặc biệt rất dễ viêm thận, viêm bàng quang, một số hóa chất độc còn gây ra
ung thư bàng quang.
Nguyễn Thị Bích Ngọc_CQ482026 Lớp: QTNL 48
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tiêu chuẩn cho phép về một số hóa chất độc trong không khí tại cơ sở sản xuất
Tên hóa chất Công thức Dạng Nồng độ
cho phép
(mg/l)
Hơi khí và
khí dung
Bụi
Anhydrit cacbonic CO
2
+ 0,1%
0
Oxyt cacbon CO + 0,030
Anhydrit sunfuro SO
2
+ 0,020
Focmandhyt HCHC + 0,005
Nitrit kim loại NO
2
+ + 0,001

môi trường do bụi, tiếng ồn, chiếm 5,14 – 16,72%; hơi khí độc có số mẫu vượt tiêu
chuẩn cho phép chiếm 20,63%, có doanh nghiệp hơi khí độc vượt quá 10 lần so với
tiêu chuẩn vệ sinh cho phép.
Kết quả kiểm tra môi trường lao động theo ngành nghề cho thấy : về nhiệt độ,
ngành gốm sứ chiếm tỷ lệ cao nhất (36,6% không đạt tiêu chuẩn cho phép), tiếp theo
là ngành gỗ 34,1%, ngành giày da 21,4%. Chỉ tiêu về ánh sáng : ngành gỗ chiếm
9,44% không đạt tiêu chuẩn cho phép, rồi đến ngành gốm và ngành may mặc. Ô
nhiễm do tiếng ồn, cao nhất là nhành cơ khí sắt thép, tiếp theo là ngành gỗ và ngành
gốm sứ từ 18,85 – 28,93%. Còn về ô nhiễm do bụi thì ngành xây dựng là ô nhiễm cao
nhất 24,40%, sau đó là ngành gốm sứ và gỗ 7,10% hay ô nhiễm về khí độc thì ngành
gỗ chiếm tỷ lệ cao nhất (36,54%), sau đó là ngành giày da,…
Tất cả các điều kiện lao động nêu trên sẽ tăng nguy cơ tai nạn lao động và
nguy cơ tiềm tàng gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, đặc biệt là gây nguy cơ mắc các
bệnh nghề nghiệp cao, từ đó dẫn đến giảm năng suất lao động.
5. Phương hướng cải thiện điều kiện lao động
Công nghiệp hóa – hiện đại hóa đặt ra vấn đề cải thiện điều kiện lao động,
nâng cao hiệu quả công tác an toàn - vệ sinh lao động, bảo vệ tốt hơn sức khoẻ và
tính mạng của người lao động trong các quá trình lao động xã hội. Đồng thời, đảm
bảo lợi ích hài hoà giữa người sử dụng lao động, người lao động, Nhà nước và xã
hội, tạo môi trường sinh sống thuận lợi của dân cư. Để đạt được mục tiêu này, các
doanh nghiệp cần chú trọng vào một số biện pháp cải thiện điều kiện lao động sau :
5.1. Biện pháp về mặt kỹ thuật
Cơ giới hóa, tự động quá trình lao động như sử dụng các phương tiện điều
khiển từ xa ở nơi làm việc có thể thay thế được với mục đích là tách người lao động
ra khỏi môi trường làm việc độc hại từ đó tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả
thực hiện công việc.
Sử dụng công nghệ sạch, công nghệ cao nhằm hạn chế những tác động xấu
của công nghệ ảnh hưởng tới sức khỏe người lao động.
Sử dụng công nghệ - máy móc thiết bị hiện đại, đảm bảo tiêu chuẩn an toàn -
vệ sinh lao động. Đối với một số ngành (điện tử, viễn thông, hàng không, chế tạo

sung và hoàn chỉnh những điều còn thiếu hoặc không phù hợp.
Tiến hành kiểm tra định kỳ về an toàn lao động và bảo hộ lao động ( theo
tháng, quý, 6 tháng hoặc 1 năm ).
Thanh tra về an toàn lao động và bảo hộ lao động phải nghiêm minh hơn trong
việc kiểm tra an toàn lao động và bảo hộ lao động.
Nâng cao năng lực tổ chức Công đoàn trong Công ty nhằm bảo vệ người lao
động, đảm bảo điều kiện lao động cho người lao động.
Hợp tác với cơ quan quản lý lao động địa phương.
Nguyễn Thị Bích Ngọc_CQ482026 Lớp: QTNL 48
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
5.4. Biện pháp về mặt kinh tế
Sử dụng hợp lý, nghiêm túc các hình thức thưởng phạt để khuyến khích, động
viên cá nhân, tập thể thực hiện tốt công tác cải thiện điều kiện lao động và có tính
chất răn đe để ngăn chặn các trường hợp vi phạm an toàn và bảo hộ lao động.
6. Sự cần thiết cải thiện điều kiện lao động trong doanh nghiệp
Cải thiện điều kiện lao động trong doanh nghiệp là một trong những điều kiện
quyết định để một doanh nghiệp tồn tại và đi lên trong cạnh tranh. Sự cần thiết đó
được thể hiện trên ba mặt kinh tế, xã hội, tâm sinh lý.
Về mặt kinh tế, cải thiện điều kiện lao động cho phép nâng cao năng suất lao
động và tăng cường hiệu quả sản xuất do người lao động có sức khỏe, tâm lý ổn định
sẽ sử dụng tối đa công suất máy móc làm giảm thời gian khấu hao hữu hình và vô
hình. Khi điều kiện lao động tốt còn giảm được thời gian ngừng việc, nghỉ việc do
người lao động bị tai nạn lao động hoặc mắc bệnh nghề nghiệp hoặc bị chấn thương
giúp doanh nghiệp giảm tải được chi phí sản xuất. Mặt khác, điều kiện lao động xấu
có thể khiến người lao động gây ra sự cố tai nạn có thể gây hỏng nhà xưởng, máy
móc thiết bị, sản phẩm, bán sản phẩm,…khiến cho sản xuất bị gián đoạn gây thiệt hại
cho doanh nghiệp.
Về mặt xã hội, cải thiện điều kiện lao động giúp doanh nghiệp giảm sức ép
trong công việc, tăng cường an toàn và vệ sinh lao động trong sản xuất, loại trừ yếu

Tỉnh Hải Dương.
- Công ty có một chi nhánh hoạt động phụ thuộc tại Số 9C – Quốc lộ 22 - P
Trung Mỹ Tây – Quận 12 – Thành phố Hồ Chí Minh, hoạt động theo giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh số 41130116896 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ
Chí Minh cấp ngày 14/12/2004.
Ngày 28/7/2006 theo Giấy chứng nhận đăng ký giao dịch cổ phiếu số
13/TTGDHN-ĐKGD của Giám đốc Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà Nội, Công
ty chính thức đăng ký giao dịch cổ phiếu phổ thông tại Trung tâm Giao dịch chứng
khoán Hà Nội kể từ ngày 28/7/2006 với mã chứng khoán: CTB.
Ngày 29/7/2006 Công ty được cấp Giấy chứng nhận Đăng ký lưu ký chứng
khoán số 06/2006/GCNCP-TTLK do Giám đốc Trung tâm lưu ký chứng khoán thuộc
Ủy ban chứng khoán Nhà nước cấp.
Nguyễn Thị Bích Ngọc_CQ482026 Lớp: QTNL 48
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.1.1.Quá trình hình thành và phát triển
Được thành lập từ năm 1960, Công ty cổ phần chế tạo bơm Hải Dương là một
trong những doanh nghiệp công nghiệp nặng đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa. Từ đó đến nay, Công ty đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển với nhiều
thăng trầm cùng đất nước.
- Giai đoạn 1960 - 1975:
Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, Thủ tướng Chính phủ đã ra chỉ thị
114/TTg ngày 24/5/1960 về việc tiếp nhận các tập đoàn sản xuất miền Nam vào quốc
doanh. Bộ Công nghiệp nặng lúc bấy giờ đã tiếp nhận và hợp nhất hai tập đoàn cơ
khí Tiền Giang và Hậu Giang ở Hà Nội thành Nhà máy cơ khí Đống Đa Hà Nội vào
ngày 01/8/1960, với trên 40 cán bộ công nhân viên chuyên sửa chữa ô tô và sản xuất
các mặt hàng cơ khí đơn giản như ê-tô nguội, quạt lò rèn, kìm, búa,… rồi tiến đến
những máy bơm cỡ nhỏ mang ký hiệu BN8K. Đây chính là tiền thân của Công ty cổ
phần chế tạo bơm Hải Dương ngày nay. Cũng từ đó ngày 01/8 hàng năm được lấy
làm ngày kỉ niệm thành lập Công ty.

bay Mỹ luôn rình rập ném bom đã biết bao khó khăn, lại gặp hai trận lụt lớn vào các
năm 1968 và 1971, gây nhiều khó khăn và tổn thất cho sản xuất, song cán bộ công
nhân viên Nhà máy đã bảo vệ an toàn được máy móc, giữ vững sản xuất, góp phần
cùng cả nước bảo vệ vững chắc miền Bắc Xã hội chủ nghĩa và hết lòng chi viện cho
miền Nam.
Trong thời kỳ này, công nghệ kỹ thuật của sản phẩm của Nhà máy được cải
tiến từ loại máy bơm có lưu lượng từ 182 m³/h lên 400 m³/h (1969), và từ chỗ chạy
bằng Diesel đến chạy bằng động cơ điện, vừa tiết kiệm được chi phí, vừa nâng cao
hiệu suất sử dụng.
Với những đóng góp vào sự nghiệp chung của cả nước, thời kỳ này Nhà máy
đã vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương lao động hạng III (1963) và
nhiều phần thưởng cao quý khác.
- Giai đoạn 1975 – 1990:
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Nhà máy bước vào thời kỳ phát
triển mới. Số lượng cán bộ công nhân viên đông thêm, có năm lên đến 1200 người,
sản phẩm cũng đa dạng hơn, gồm nhiều loại máy bơm, chủ yếu là bơm nông nghiệp,
các loại van, quạt và tuốc-bin cỡ nhỏ. Năm 1975, Nhà máy vinh dự được Nhà nước
giao thực hiện công trình KT75 góp phần cùng nhân dân cả nước xây dựng Lăng Chủ
tịch Hồ Chí Minh kính yêu. Năm 1976, chiếc bơm 8000m³/h đầu tiên được chế tạo
thành công lắp tại trạm My Động – Hải Hưng đánh dấu bước tiến mới về khoa học
kỹ thuật của Nhà máy. Từ đó chủng loại sản phẩm ngày càng tăng lên, chất lượng sản
phẩm không ngừng nâng cao, góp phần tích cực vào công cuộc hàn gắn vết thương
chiến tranh và phát triển kinh tế đất nước. Hàng năm Nhà máy đều hoàn thành vượt mức
kế hoạch Nhà nước giao.
Tháng 2/1985 Nhà máy được Bộ Công nghiệp nặng cấp bổ sung 2,8 triệu đồng vốn
lưu động để tạo điều kiện cho Nhà máy thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.
Nguyễn Thị Bích Ngọc_CQ482026 Lớp: QTNL 48
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đến thời gian này do những bất cập của cơ chế bao cấp, kế hoạch hóa tập

nhập.
Từ chỗ trang thiết bị cũ kĩ, lạc hậu, cơ sở vật chất quá xuống cấp, thiếu thốn
nghiêm trọng, đến nay Nhà máy đã tự đầu tư một số máy móc quan trọng, chủ yếu để
nâng cao năng lực sản xuất, điều tiết cân đối các nguồn vốn, tạo đủ vốn cho sản xuất
kinh doanh. Cụ thể, Nhà máy đã tạo ra công ăn việc làm cho hơn 500 lao động với
mức thu nhập ngày càng được cải thiện; tốc độ tăng trưởng trên dưới 15%, trong mỗi
năm các chỉ tiêu kinh tế đều tăng từ 4,5 – 5 lần so với những năm đầu bước sang cơ
Nguyễn Thị Bích Ngọc_CQ482026 Lớp: QTNL 48
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
chế quản lý mới. Sản xuất ổn định và phát triển, doanh thu ngày càng tăng; đến năm
1993 doanh thu đã đạt trên 10 tỷ đồng và năm 2002 đạt trên 30 tỷ đồng. Công ty đã
dần từng bước mở rộng thị trường, đã trúng thầu và thực hiện nhiều gói thầu quốc tế,
bắt đầu có sản phẩm xuất khẩu sang một số nước trong khu vực và thế giới.
Tháng 10/1996, sản phẩm của Nhà máy giành giải thưởng bạc chất lượng vàng
Việt Nam; đến năm 1998, giành giải “Huy chương vàng bạn của nhà nông”.
Đến ngày 24/02/1997, theo quyết định của Công ty Máy và thiết bị công
nghiệp – Bộ Công nghiệp, Nhà máy chế tạo bơm Hải Dương được đổi tên thành
Công ty chế tạo bơm Hải Dương, có địa chỉ tại 37 – Đại lộ Hồ Chí Minh – Thành
phố Hải Dương – Tỉnh Hải Dương.
Năm 1999, Công ty được Chính phủ tặng cờ thi đua đơn vị dẫn đầu ngành cơ
khí Việt Nam. Cùng năm, sản phẩm của Công ty đạt nhiều giải thưởng tạo các hội
chợ hàng công nghiệp, hàng phục vụ nông nghiệp, giải bạc chất lượng vàng Việt
Nam.
Năm 2000, Công ty đạt giải Bông lúa vàng Việt Nam. Ngày 23/4 cùng năm,
Công ty được hãng BVC cấp chứng chỉ ISO 9001, 9002 cho sản phẩm bơm và van
công nghiệp của Công ty. Trong năm này, Nhà máy cũng bắt đầu áp dụng Hệ thống
quản lý môi trường ISO 14000 với những cam kết bảo vệ môi trường, xử lý chất thải
theo tiêu chuẩn quốc tế.
Với những đóng góp cho sự phát triển của đất nước cùng những thành công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status