Nghiên cứu, đề xuất mô hình quản lý các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương đến năm 2020 - Pdf 29

MỞ ĐẦU
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Xây dựng và phát triển các KCN tập trung là xu hướng chung của nhiều
nước trên thế giới, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển, nhằm tạo bước
chuyển biến tích cực trong nền kinh tế của mỗi quốc gia. Tại Việt Nam, các KCN
được hình thành và phát triển mạnh mẽ cả về số lượng lẫn quy mô và chất lượng.
Tuy mới được phát triển vào những năm 90 của thế kỷ 20 nhưng các KCN đã ở Việt
Nam đã khảng định được vai trò của mình trong quá trình phát triển kinh tế chung
của đất nước.
Đối với tỉnh Bình Dương là một tỉnh thuộc miền Đông Nam bộ và nằm
trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, khu vực kinh tế năng động nhất trong cả
nước. Với lợi thế về vị trí địa lý cũng như tiềm năng về đất đai và nguồn nhân lực,
trong thời gian qua tỉnh Bình Dương đã thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài
nước để phát triển kinh tế, đặc biệt là phát triển các KCN. Tính đến thời điểm hiện
nay, trên địa bàn tỉnh Bình Dương đã có 28 KCN được thành lập với tổng diện tích
là 9.013 ha, trong đó có 25 KCN đã đi vào hoạt động với diện tích 8.236 ha, tỉ lệ
cho thuê đất đạt 58,8%. Hiện nay, có hơn 1.500 dự án đầu tư vào các KCN với tổng
vốn đầu tư là 6.434 triệu USD và 29.091 tỷ đồng. Việc hình thành các KCN đã tạo
động lực lớn cho phát triển công nghiệp, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo
công ăn việc làm cho người lao động và thúc đẩy hình thành khu đô thị mới, các
ngành công nghiệp phụ trợ và dịch vụ. Nhờ phát triển các KCN đã giúp cho sự tăng
trưởng kinh tế của tỉnh Bình Dương trong những năm qua luôn duy trì ở tốc độ cao,
GDP tăng bình quân hàng năm khoảng 14% và công nghiệp chiếm 63% trong cơ
cấu kinh tế của tỉnh.
Bên cạnh việc đóng góp rất lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội thì quá
trình phát triển các KCN làm nảy sinh nhiều vấn đề môi trường phức tạp cần quan
tâm giải quyết. Các vấn đề môi trường phát sinh từ hoạt động của các KCN đó là:
làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên, suy giảm tính đa dạng sinh học, phát
sinh một lượng lớn nước thải, khí thải và chất thải rắn gây ô nhiễm nguồn nước, ô
1
nhiễm không khí, ô nhiễm đất và những tổn thất kinh tế - xã hội. Do vậy, để đảm

môi trường, dẫn đến việc quản lý môi trường các KCN còn bị động.
Công tác quản lý môi trường các KCN còn nhiều hạn chế đã làm ảnh hưởng
đến hoạt động BVMT tại các KCN. Mặc dù các KCN đã xây dựng hệ thống xử lý
nước thải nhưng vẫn còn nhiều KCN chưa xử lý nước thải đạt quy chuẩn môi
trường. Kết quả quan trắc nước thải của các KCN của Sở Tài nguyên và Môi trường
trong thời gian qua cho thấy, tỷ lệ các KCN còn thải nước thải vượt quy chuẩn cho
phép khoảng 28%. Việc nước thải chưa xử lý nước thải đạt quy chuẩn môi trường
cùng với một số doanh nghiệp chưa đấu nối vào hệ thống xử lý tập trung đã gây ra
tình trạng ô nhiễm môi trường nguồn tiếp nhận. Nhận thức về quản lý chất thải
nguy hại của doanh nghiệp trong KCN chưa cao, thiếu sự đầu tư cần thiết để phân
loại, lưu giữ, bảo quản và xử lý chất thải nguy hại theo quy định, thậm chí tại một
số doanh nghiệp thải bỏ chất thải nguy hại chung với rác sinh hoạt. Tình trạng một
số doanh nghiệp trong KCN chưa đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải, khí
thải gây ô nhiễm môi trường vẫn còn xảy ra.
Từ thực tế nêu trên cho thấy “Nghiên cứu, đề xuất mô hình quản lý môi
trường các KCN trên địa bàn tỉnh Bình Dương đến năm 2020“ là vấn đề cấp thiết
trong quản lý môi trường và phát triển bền vững của tỉnh Bình Dương
2. MỤC TIÊU CỦA LUẬN VĂN
- Đánh giá được hiện trạng môi trường cũng như thực trạng quản lý môi
trường tại các KCN trên địa bàn tỉnh Bình Dương, những tồn tại và hạn chế trong
công tác quản lý môi trường KCN hiện nay;
- Dự báo một cách đầy đủ tải lượng các chất ô nhiễm phát sinh từ các KCN
trên địa bàn tỉnh Bình Dương đến năm 2020;
- Đề xuất được mô hình quản lý môi trường các KCN thích hợp đối với tỉnh
Bình Dương nhằm đảm bảo cho quá trình phát triển bền vững của tỉnh.
3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Để đạt được các mục tiêu nêu trên, các nội dung nghiên cứu mà luận văn
cần thực hiện bao gồm:
3
3.1. Nội dung 1: Thu thập các số liệu và khảo sát hiện trạng môi trường

có nghĩa rằng, các nghiên cứu khoa học cần phải có những nguyên tắc và phương
pháp cụ thể, mà dựa theo đó các vấn đề sẽ được giải quyết.
Nghiên cứu, đề xuất mô hình quản lý môi trường KCN trên địa bàn tỉnh
Bình Dương là nghiên cứu các khía cạnh môi trường của các KCN trên địa bàn tỉnh,
mối quan hệ giữa các cơ quan quản lý nhà nước về BVMT với chủ đầu tư KCN và
các doanh nghiệp nằm KCN từ đó đề xuất ra một mô hình quản lý thích hợp nhằm
bảo vệ môi trường và phát triển bền vững cho các KCN.
4.2. Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình triển khai thực hiện đề tài, các phương pháp nghiên cứu sẽ
được sử dụng như sau:
4.2.1. Phương pháp thu thập và tổng hợp tài liệu:
- Thu thập các tài liệu về tình hình hoạt động và quy hoạch phát triển các
KCN trên địa bàn tỉnh Bình Dương đến năm 2020;
- Thu thập các số liệu về hiện trạng các thành phần môi trường của các KCN
và các doanh nghiệp trong KCN;
- Thu thập các tài liệu, báo cáo về hoạt động quản lý môi trường tại các
KCN.
4.2.2. Phương pháp thống kê và xử lý số liệu:
Thống kê các số liệu điều tra, khảo sát và thu thập được làm cơ sở để xây
dựng hệ số phát thải chất ô nhiễm cho các KCN trên địa bàn tỉnh. Từ số liệu khảo
sát và thu thập, đề tài sử dụng phần mềm Excel để thống kê các nguồn phát thải,
lượng chất thải phát sinh của từng KCN và các doanh nghiệp trong KCN. Dựa vào
quy trình xử lý số liệu thống kê cổ điển và trên cơ sở nguồn dữ liệu để xác định hệ
số phát thải chất thải trung bình theo diện tích của các KCN tỉnh Bình Dương.
 Xác định hệ số phát thải của chất thải
Hệ số phát thải được xây dựng bằng quá trình thống kê khối lượng chất thải
(kg hay tấn) từ nhiều nguồn thải tương tự đã và đang hoạt động, tính trên một đơn
5
vị sản xuất như: diện tích đất công nghiệp (m
2

phép nâng cao độ phủ dữ liệu, cải thiện sai số toàn phương và điều chỉnh, chuẩn hoá
các hệ số phát thải trung bình nhận được với độ tin cậy và chính xác cao, nhất là đối
với các nguồn số liệu cơ sở gây ra nhiều sai số.
6
Các nguồn dữ liệu cơ sở về hệ số phát thải trung bình tại các KCN hoặc tại
các doanh nghiệp trong KCN có thể được chuẩn hoá theo phép biến đổi nguồn dữ
liệu bằng hàm toán tử logx, trong đó việc chuẩn hoá các nguồn dữ liệu cơ sở bao
gồm quy trình như sau:
- Phân loại các nguồn dữ liệu theo cơ cấu số liệu thống kê.
- Xác định các nguồn dữ liệu thống kê gây ra sai số.
- Chuẩn hoá nguồn số liệu theo hàm logarit 10: log(y
i
); i=1,2,3,4,5,6,…

- Tính giá trị trung bình (logy)
tb
của log(y
i
), rồi lấy độ lệch chuẩn: Δ
i
=
log(y
i
) – (logy)
tb
.
- Tính độ lệch chuẩn sai số tương đối theo độ lệch chuẩn đường phân phối
dữ liệu trung bình:
- Chuẩn hoá lại nguồn số liệu theo
phương pháp:

.
Mục tiêu của phép chuẩn hoá các nguồn dữ liệu cơ sở nghiên cứu là nhằm :
loại trừ tất cả các loại sai số hệ thống và ngẫu nhiên, bảo đảm sử dụng tất cả nguồn
dữ liệu cơ sở một cách thông minh, minh bạch, chính xác và công bằng; bảo đảm
chất lượng nguồn dữ liệu sử dụng cho các phép tính toán hệ số phát thải tiếp theo,
đáp ứng tiêu chuẩn của phương pháp thống kê cổ điển cải tiến; nguồn dữ liệu sau
chuẩn hoá đáp ứng cao nhất quy luật thống kê và thực tiễn phát thải tại mỗi nhà
máy và ngành sản xuất nghiên cứu.
7
Δ
i
δ
i = *
100%
(logy)
tb
(1)
Như vậy, đề tài sẽ tính toán được hệ số phát thải chất thải trung bình các
KCN từ dữ liệu đã được chuẩn hoá (độ bao phủ dữ liệu là 100%), độ tin cậy đáp
ứng 95%, độ biến động của dữ liệu < 45%.
4.2.3. Phương pháp phân tính, đánh giá:
- Phân tích, đánh giá hiện trạng môi trường và thực trạng công tác quản lý
môi trường tại các KCN trên địa bàn tỉnh Bình Dương;
- Phân tích và xác định những nội dung và nhiệm vụ cơ bản, cần thiết của
công tác quản lý môi trường các KCN tỉnh Bình Dương.
4.2.4. Phương pháp đánh giá nhanh:
Dựa trên hệ số phát thải trung bình của các KCN và tốc độ phát triển của các
KCN, dự báo tải lượng chất thải phát sinh từ các KCN tỉnh Bình Dương đến năm
2020.
4.2.5. Phương pháp so sánh:

đề tài có nghiên cứu đến việc áp dụng mô hình KCN thân thiện với môi trường vào
các KCN tỉnh Bình Dương, tuy nhiên đó mới chỉ là nghiên cứu sơ bộ. Vấn đề quản
lý môi trường các KCN chưa được chú trọng nghiên cứu. Đề tài luận văn này đã
nghiên cứu đầy đủ các khía cạnh môi trường của các KCN, trong đó tập trung vào
quản lý môi trường các KCN và đề xuất mô hình quản lý môi trường các KCN thích
hợp. Có thể nói đây là một nghiên cứu mới so với các nghiên cứu trước đây nhằm
giải quyết những khó khăn, vướng mắc và bất cập trong quản lý môi trường các
KCN trên địa bàn tỉnh Bình Dương hiện nay.
9
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG KCN
1.1. CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG CỦA KCN
[8]
KCN bao gồm nhiều doanh nghiệp sản xuất kinh doanh với nhiều ngành
nghề khác nhau. Như bất kỳ ngành nghề sản xuất nào khác, các KCN cũng dẫn đến
các vấn đề môi trường, sức khỏe và an toàn của cộng đồng với mức độ ảnh hưởng
khác nhau về hủy hoại môi trường sống, hủy diệt các sinh vật, lan truyền ô nhiễm
không khí, nước thải, chất thải rắn, chất thải độc hại, tiếng ồn, phóng xạ, các chất
hóa học độc hại, ô nhiễm đất, các sự cố công nghiệp, thẩm lậu các chất hóa học và
nhiên liệu, biến đổi khí hậu. nhận thức các tác động môi trường của KCN gắn liền
với các giai đoạn quy hoạch, xây dựng, phát triển và hoạt động của chúng. Đánh giá
sai các tác động môi trường khi chọn địa điểm xây dựng KCN và bố trí doanh
nghiệp công nghiệp có thể gây ô nhiễm môi trường ngay trong hàng rào KCN và cả
một vùng rộng lớn ngoài KCN, đặc biệt đối với việc di dân ra khỏi địa bàn KCN và
sự tập trung công nhân làm việc trong KCN có nhu cầu lớn về nhà ở và các dịch vụ
khác. Việc di dời và tập trung này nếu không lưu ý đúng mức chuẩn bị chu đáo có
thể gây ra các vấn đề sức khỏe cộng đồng, căng thẳng môi trường và các vấn đề xã
hội khác.
Các KCN khi đi vào hoạt động tập trung hàng trăm doanh nghiệp sản xuất
công nghiệp, nếu tình trạng quản lý yếu kém thì sẽ là nguồn gây ô nhiễm không khí,

nghiệp mà chất thải của ngành này là nguyên liệu của ngành kia, không nên bố trí
ngành sản xuất các sản phẩm có độ vệ sinh cao như ngành công nghiệp thực phẩm,
dược phẩm lẫn với các ngành công nghiệp có những chất nguy hại…;
- Quy hoạch tổng thể từng khu vực chức năng của KCN: Phân khu KCN
theo từng ngành công nghiệp để quá trình hoạt động của các ngành công nghiệp
không bị ảnh hưởng và tác động qua lại lẫn nhau; bố trí các khu kỹ thuật đầu mối,
văn phòng; khu xử lý nước thải; khu cây xanh…đảm bảo đúng quy định và phù hợp
môi trường;
11
- Thực hiện lập và thẩm định đánh giá tác động môi trường cho dự án đầu tư
xây dựng KCN.
1.2.2. Giai đoạn quy hoạch chi tiết và xây dựng cơ sở hạ tầng KCN:
Đây là giai đoạn đòi hỏi nhà đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN, cũng như
các nhà quản lý phải xem xét, tính toán, quy hoạch, thiết kế chi tiết và huy động
nguồn vốn để xây dựng hạ tầng kỹ thuật. Những nội dung và công việc chính liên
quan đến công tác quản lý và BVMT trong giai đoạn này là:
- Quy hoạch và xây dựng hệ thống đường giao thông nội bộ, hệ thống cung
cấp nước sạch, cung cấp điện, hệ thống thông tin, hệ thống dịch vụ y tế và ứng cứu
sự cố khẩn cấp trong KCN;
- Quy hoạch và xây dựng hệ thống thoát nước mưa;
- Quy hoạch mặt bằng, xác định quy mô và xây dựng hệ thống thu gom và
xử lý nước thải tập trung;
- Quy hoạch và xây dựng hệ thống thu gom, vận chuyển, quản lý, xử lý chất
thải rắn, đặc biệt là chất thải nguy hại;
- Quy hoạch hệ thống cây xanh (đảm bảo ít nhất 15% tổng diện tích đất
KCN), quy định diện tích cây xanh cần thiết đối với mỗi nhà máy, tiến hành trồng
cây xanh ngay sau khi có quy hoạch;
- Xây dựng hệ thống quan trắc môi trường chung cho KCN;
- Thu gom và xử lý các chất thải phát sinh từ quá trình thi công xây dựng;
- Quan trắc các nguồn thải phát sinh trong quá trình xây dựng và chất lượng

:
Các hệ thống và kỹ thuật BVMT phục vụ phát triển bền vững đã được ứng
dụng rất hữu hiệu trong việc thiết kế và quản lý KCN tại các nước phát triển trong
vòng hơn một nửa thế kỷ vừa qua. Hiện nay, quản lý môi trường các KCN trên thế
giới phần lớn thực hiện theo Tiêu chuẩn ISO 14000. Tiêu chuẩn ISO 14000 là tiêu
chuẩn về hệ thống quản lý môi trường để khuyến khích các tổ chức sản xuất (các
doanh nghiệp, các khu công nghiệp) không ngừng cải thiện và ngăn ngừa ô nhiễm
môi trường bằng hệ thống quản lý môi trường của mình, như luôn luôn tiến hành
đánh giá và cải tiến sự thực hiện BVMT của doanh nghiệp. Nó đòi hỏi mỗi một tổ
13
chức sản xuất phải tự thiết lập mục tiêu và nhiệm vụ của mình, nhằm thực hiện có
hiệu quả toàn bộ quá trình sản xuất để liên tục cải thiện môi trường và thu hút toàn
bộ người trực tiếp sản xuất cũng như người quản lý tham gia vào hệ thống quản lý
môi trường với sự giác ngộ, nhận thức và trách nhiệm cao đối với việc thực hiện
BVMT.
Bên cạnh Tiêu chuẩn ISO 14000, trong những năm gần đây các nước phát
triển hướng đến việc xây dựng KCN trở thành KCN sinh thái và một số nghiên cứu
về lĩnh vực này như sau: Nghiên cứu Coté (2001) về xây dựng KCN sinh thái
Burnside, Nova Scotia, Canada; Cohen-Rosenthal và công sự (2003) về xây dựng
KCN sinh thái Fairfield, Baltimor, Maryland, USD; Lowe (2003) về xây dựng KCN
sinh thái East Bay, San Fancisco Bay, California; Ứng dụng thuyết sinh thái công
nghiệp vào quá trình phát triển KCN; hình thành trung tâm hiệu quả sinh thái; trao
đổi chất thải giữa hai hoặc nhiều cơ sở sản xuất; thành lập những cơ sở sản xuất mới
có khả năng tái sử dụng, cho thuê, sửa chữa, tái sinh và tái chế chất thải.
1.3.2. Tình hình nghiên cứu trong nước:
Sự hình thành và phát triển mạnh các KCN đã làm cho vấn đề BVMT các
KCN trở thành mối quan tâm hàng đầu trong công tác BVMT của nước ta hiện nay.
Trong thời gian qua, nhiều đề tài, dự án nghiên cứu về BVMT tại các KCN được
triển khai thực hiện, chỉ tính riêng Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đã có hàng
chục đề tài, dự án với chủ đề tập trung xung quanh vấn đề này. Các công trình

Phan Thị Thu Nga (2006). Hiện trạng môi trường và đề xuất các giải pháp thích
hợp nhằm bảo vệ môi trường, phát triển bền vững các khu công nghiệp ở vùng kinh
tế trọng điểm phía Nam. Báo cáo này đã đánh giá được tình hình đầu tư và phát
triển các KCN ở Việt Nam và Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, những vấn đề
môi trường bức xúc trong quá trình phát triển các KCN trong vùng, thực trạng quản
lý môi trường tại các KCN và những giải pháp thích hợp nhằm BVMT, phát triển
bền vững các KCN trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước;
15
- Phan Thu Nga (2006). Nghiên cứu xây dựng hệ thống quản lý môi trường
thống nhất trong KCN. Luận án Tiến sĩ. Viện Môi trường và Tài nguyên - Đại học
Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh. Luận án đã đánh giá các khía cạnh môi trường,
hệ thống quản lý môi trường các KCN tại Việt Nam và Vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam và đề xuất hệ thống quản lý môi trường trong KCN, cùng các giải pháp
thực hiện;
- Viện Môi trường và Tài nguyên (2010). Nghiên cứu đề xuất các mô hình
phát triển các khu dân cư tập trung, các khu và cụm công nghiệp thân thiện môi
trường tại Bình Dương đến năm 2020. Đề tài khoa học công nghệ tỉnh Bình Dương.
Đề tài đã đề xuất được các tiêu chí đánh giá mức độ thân thiện với môi trường và
mô hình quản lý theo hướng thân thiện môi trường cho các khu dân cư, cụm công
nghiệp và khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương;
1.4. CÁC MÔ HÌNH QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG KCN
Trên thế giới hiện nay, có rất nhiều mô hình quản lý môi trường các KCN
được triển khai áp dụng và các mô hình này được phân thành 3 loại, đó là: Mô hình
quản lý môi trường theo hướng xử lý chất thải (KCN cổ điển), mô hình quản lý môi
trường theo hướng thân thiện môi trường (KCN sinh thái) và mô hình quản lý theo
chuỗi sản xuất (KCN chuyên ngành).
1.4.1. Khu công nghiệp cổ điển
[14]
:
Đối với mô hình KCN cổ điển cho phép tiếp nhận tất cả các loại hình công

17
Trạm xử lý tập trung
Xi mạ
Trạm tập trung
chất thải tái chế
May mặc
Dệt nhuộm
Thực phẩm
chrome; 10. Chất thải rắn; 11. Điện; 12. Những hoạt động được khuyến khích; 13.
Xử phạt; 14. Quy định về bổ sung. Quy định này yêu cầu các doanh nghiệp phải
chuẩn bị một chính sách về môi trường, áp dụng các phương pháp sản xuất sạch
hơn trong phạm vi khuôn viên của mình, các biện pháp khuyến khích những hành
động có lợi cho môi trường và xử phạt các vi phạm.
1.4.3. Khu công nghiệp sinh thái
[14]
:
KCN sinh thái là một KCN có các cơ sở sản xuất cùng hoạt động như một
cộng đồng các nhà máy có quan hệ mắc xích với nhau thông qua một số trao đổi
chất trong các quá trình sản xuất và giải quyết các vấn đề môi trường để hướng đến
một mục đích cuối cùng là sản xuất hiệu quả nhất, sử dụng ít nguyên vật liệu và
năng lượng nhất, ít ô nhiễm môi trường nhất và bảo đảm điều kiện làm việc tốt nhất
cho công nhân. Ngoài ra, KCN sinh thái còn có tác động lan toả tích cực đến hoạt
động kinh tế, xã hội và môi trường của các doanh nghiệp, ngành, địa phương, khu
vực xung quanh. Như vậy các doanh nghiệp trong KCN sinh thái cố gắng đạt được
những lợi ích kinh tế và hiệu quả BVMT chung thông qua việc quản lý hiệu quả
năng lượng, nước và nguyên liệu sử dụng. Trong KCN sinh thái, các doanh nghiệp
cộng tác với nhau trên cơ sở phối hợp:
- Trao đổi các sản phẩm phụ; tái sinh, tái chế, tái sử dụng các sản phẩm phụ
tại nhà máy, với các nhà máy khác theo hướng bảo toàn tài nguyên thiên nhiên;
- Nhà máy phấn đấu sản xuất sản phẩm thân thiện với môi trường (sản phẩm

Công ty làm ván
trát tường
Gyproc
Sản xuất acid
sulphuric
Nhà máy sản xuất dược phẩm
và emzyme Novo Nordisk
Nông Trại
Vật liệu xây
dựng và làm
đường
Cấp nhiệt cho
Nông trại nuôi cá
14.000 tấn hơi/năm
900 kg methane &
Ethane/giờ
170.000 tấn tro &
xỉ/năm
80.000 tấn
Thạch cao/năm
215.000 tấn
Hơi/năm
Bùn
Bùn giàu dinh dưỡng
225.000 tấn
Hơi/năm
Methane và Ethane
1.5. MÔ HÌNH QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG KCN TẠI VIỆT NAM
[9]
Đối với Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, các KCN mới được hình

các Sở TN&MT và UBND huyện, cụ thể: Sở TN&MT trực tiếp quản lý đối với
Công ty đầu tư kinh doanh hạ tầng cơ sở KCN và các doanh nghiệp trong KCN
thuộc thẩm quyền quản lý của tỉnh từ việc tuyên truyền phổ biến pháp luật về
BVMT; thẩm định báo cáo ĐTM; kiểm tra, xác nhận các công trình xử lý chất thải
theo ĐTM, theo dõi và kiểm tra việc thực hiện các biện pháp khống chế ô nhiễm và
BVMT theo ĐTM, thanh kiểm tra và xử lý các vi phạm về BVMT, giải quyết các
khiếu nại tố cáo về BVMT, cấp sổ đăng ký chủ nguồn thải đối với chất thải nguy
hại, cấp giấy phép xả thải và thu phí BVMT đối với nước thải. UBND huyện quản
lý đối với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ với các nội dung như: xác nhận bản cam
21
kết BVMT; kiểm tra, giám sát việc thực hiện bản cam kết BVMT của các doanh
nghiệp; thanh kiểm tra và xử lý vi phạm đối với các doanh nghiệp thuộc đối tượng
lập bản cam kết BVMT. Ban quản lý các KCN có trách nhiệm phối hợp với Sở
TN&MT thực hiện các nhiệm vụ trên. Mô hình này có những ưu, nhược điểm như
sau:
 Ưu điểm:
- Mô hình này phù hợp với những tỉnh mới thành lập Ban quản lý KCN và
còn ít các KCN;
- Sở TN&MT là cơ quan quản lý môi trường chung của tỉnh nắm rõ mọi vấn
đề môi trường chung có kinh nghiệm, có chuyên môn vững vàng;
 Nhược điểm
- Sở TN&MT thường ở xa các KCN vì vậy nhiều vụ việc vi phạm về BVMT
không được giải quyết kịp thời.
- Sở TN&MT là cơ quan quản lý môi trường của cả tỉnh, khối lượng công
việc nhiều, phải đảm nhận thêm công việc quản lý môi trường KCN mà số lượng
cán bộ hạn chế sẽ khó khăn trong việc quản lý;
- Ban quản lý các KCN là chủ thể quản lý hoạt động của KCN, việc quản lý
môi trường không được giao chủ thể chính để quản lý khó tránh khỏi quản lý không
tốt, đùn đẩy công việc, thiếu trách nhiệm và thiếu chủ động trong việc quản lý.
1.4.2 Mô hình quản lý 2:

theo mô hình 1. Trách nhiệm chính trong quản lý môi trường các KCN thuộc về Bộ
TN&MT, Sở TN&MT và UBND các huyện, thị, Ban quản lý các KCN chỉ là cơ
quan phối hợp thực hiện.
23
CHƯƠNG 2
HIỆN TRẠNG VÀ QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN CÁC KCN
TỈNH BÌNH DƯƠNG ĐẾN NĂM 2020
2.1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ
Bình Dương là một tỉnh thuộc miền Đông Nam bộ, có tọa độ địa lý
10
0
51'46" - 11
0
30' vĩ độ Bắc và 106
0
20' - 106
0
58' kinh độ Đông và có ranh giới hành
chính như sau: Phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai; Phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và
thành phố Hồ Chí Minh; Phía Nam giáp thành phố Hồ Chí Minh; Phía Bắc giáp tỉnh
Bình Phước.
Hình 2.1 : Bản đồ hành chính tỉnh Bình Dương
24
Bình Dương có diện tích tự nhiên là 269.442,84 ha (chiếm 0.83% diện tích
cả nước) và được chia thành các đơn vị hành chính như sau : 01 thành phố, 02 thị
xã, 04 huyện với 91 xã, phường, thị trấn. Là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ
nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam nên Bình Dương có rất nhiều lợi thế
về địa lý kinh tế, cụ thể:
- Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có nhiều cửa ngõ ra vào thuận lợi với
các nước khu vực và thế giới, đã có hệ thống kết cấu hạ tầng hiện đại tầm cỡ khu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status