BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
PHẠM LƢƠNG THUẦN
NGHIÊN CỨU BÀO CHẾ PELLET
LANSOPRAZOL BAO TAN Ở RUỘT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ KHÓA 2008- 2013
HÀ NỘI – 2013
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
PHẠM LƢƠNG THUẦN NGHIÊN CỨU BÀO CHẾ PELLET
LANSOPRAZOL BAO TAN Ở RUỘT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ KHÓA 2008-2013
Ngƣời hƣớng dẫn:
T.S Nguyễn Ngọc Chiến
D.S Đỗ Thị Phƣơng
Nơi thực hiện:
1.
Viện Công nghệ dƣợc phẩm Quốc gia
Phạm Lƣơng Thuần MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ
1
CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN
2
1.1
SƠ LƢỢC VỀ PELLET
2
1.1.1
Khái niệm
2
1.1.2
Ƣu nhƣợc điểm của pellet
2
1.1.3
Thành phần của pellet
3
1.1.4
Các phƣơng pháp bào chế pellet
3
1.1.5
Đánh giá chất lƣợng pellet
4
1.2
SƠ LƢỢC VỀ MÀNG BAO
Chỉ định, tác dụng không mong muốn, chống chỉ định
11
1.3.6.
Chế phẩm và liều lƣợng
11
1.3.7.
Các phƣơng pháp định lƣợng lansoprazol
12
1.3.8.
Một số nghiên cứu về bào chế pellet lansoprazol
13
CHƢƠNG 2 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
17
2.1
NGUYÊN LIỆU VÀ TRANG THIẾT BỊ
17
2.1.1
Nguyên liệu
17
2.1.2
Trang thiết bị
18
2.2
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
18
2.3
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
18
2.3.1
29
3.3
Đánh giá chỉ tiêu chất lƣợng pellet bồi dần mẻ 500g nhân trơ
Sugletss (710/850)
30
3.4
Kết quả theo dõi độ ổn định của pellet lansoprazol bồi dần mẻ
500g nhân trơ Suglets (710/850)
30
3.5
Kết quả xây dựng công thức màng bao cách ly
31
3.5.1
Kết quả khảo sát tỷ lệ polyethylen glycol 6000
32
3.5.2
Kết quả khảo sát tỷ lệ chất ổn định : cetyl alcol
32
3.5.3
Kết quả khảo sát khối lƣợng chất ổn định và cetyl alcol so với
polyme
33
3.5.4
Kết quả khảo sát tỷ lệ talc
34
3.5.5
Kết quả khảo sát lƣợng chất rắn trong dịch bao
34
3.5.6
Kết quả khảo sát độ dày màng bao
% GP
: Phần trăm giải phóng
AUC
: Area under curve (Diện tích dƣới đƣờng cong)
BP
: The Bristish Pharmacopoeia (Dƣợc điển Anh)
CAP
: Cellulose acetatphtalat
COĐ
: Chất ổn định
CT
: Công thức
CTTƢ
: Công thức tối ƣu
DĐVN
: Dƣợc điển Việt Nam
EtOH
: Ethanol
GP
: Giải phóng
HPLC
: High perfomance liquid chromatography (Sắc ký lỏng hiệu
năng cao )
HPMC
: Hydroxypropyl methylcellulose
HPTLC
: High performance thin layer chromatography (Sắc kí lớp mỏng hiệu năng
cao)
MeOH
: Methanol
Bảng 2.1
Nguyên liệu và hóa chất dùng trong nghiên cứu
17
Bảng 2.2
Thành phần hỗn dịch bồi
19
Bảng 2.3
Thông số kĩ thuật quá trình bồi
19
Bảng 2.4
Thành phần màng bao cách ly
20
Bảng 2.5
Thông số kĩ thuật quá trình bao cách ly
20
Bảng 2.6
Thành phần màng bao tan trong ruột
21
Bảng 2.7
Thông số kĩ thuật quá trình bao tan trong ruột
21
Bảng 3.1
Mật độ quang của dung dịch lansoprazol ở các nồng độ khác
nhau trong môi trường đệm phosphat pH 6,8
28
Bảng 3.2
Mật độ quang của dung dịch lansoprazol ở các nồng độ khác
nhau trong môi trường đệm pH 6,8
29
Bảng 3.3
năng giải phóng dược chất
35
Bảng 3.12
Ảnh hưởng của độ dày màng bao đến hiệu suất và khả năng giải
phóng dược chất
35
Bảng 3.14
Công thức màng bao tan trong ruột
36
Bảng 3.15
Ảnh hưởng của độ dày màng bao cách ly và dung môi đến tính
kháng acid của màng bao tan trong ruột
37
Bảng 3.16
Biến độc lập và khoảng biến thiên
37
Bảng 3.17
Thiết kế thí nghiệm
38
Bảng 3.18
Phần trăm dược chất giải phóng trong 2 môi trường của pellet
bao tan ở ruột với các công thức thực nghiệm
39
Bảng 3.19
Giá trị R
2
39
Bảng 3.20
Công thức tối ưu
40
Hình 3.5
Ảnh hưởng của độ dầy màng bao và tỷ lệ TEC đến khả năng
giải phóng dược chất trong đệm pH 6,8
41
Hình 3.6
Ảnh hưởng của tỷ lệ talc đến khả giải phóng dược chất của
pellet trong đệm phosphat pH 6,8
42
Hình 3.7
Đồ thị biểu diên khả năng giải phóng dược chất của pellet
lansoprazol bao tan trong ruột (CTTƯ) trong môi trường pH
6,8
44 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Loét dạ dày tá tràng là một bệnh lý khá phổ biến và đang không ngừng gia
tăng ở nƣớc ta. Có nhiều nhóm thuốc dùng để điều trị loét dạ dày tá tràng với những
cơ chế khác nhau, trong đó, lansoprazol là một thuốc thuộc nhóm ức chế bơm
proton, có tác dụng ức chế đặc hiệu sự tăng tiết acid hydroclorid đem lại hiệu quả
cao không chỉ trong điều trị loét dạ dày tá tràng mà trong cả các chứng viêm loét
thực quản, trào ngƣợc dạ dày - thực quản…
Các chế phẩm chứa lansoprazol đang lƣu hành trên thị trƣờng Việt Nam khá
phong phú với nhiều dạng bào chế nhƣ viên nén, viên nang nhƣng phần lớn trong số
đó là thuốc nhập ngoại. Do đặc tính kém ổn định và ít tan trong nƣớc nên để bào
chế đƣợc các dạng thuốc chứa lansoprazol có độ ổn định cao và giải phóng dƣợc
chất tốt là rất khó khăn. Hiện nay, các xí nghiệp dƣợc phẩm trong nƣớc chủ yếu
nhanh hơn và triệt để hơn, làm tăng sinh khả dụng của thuốc.
- Sử dụng viên nén hoặc nang thuốc bào chế từ pellet bao tan ở ruột sẽ
khắc phục đƣợc hiện tƣợng dồn liều hoặc viên không rã nhƣ đã từng gặp ở viên nén
bao tan ở ruột.
- Việc bao màng cho pellet thuận lợi hơn nhiều so với bao màng viên nén
hay bao hạt (do pellet có hình cầu). Pellet có khả năng trơn chảy tốt nên dễ dàng thu
đƣợc viên nén hay nang thuốc có khối lƣợng hoặc hàm lƣợng dƣợc chất có độ đồng
nhất và độ lặp lại cao.
- Nhờ công nghệ pellet mà các dƣợc chất tƣơng kị nhau vẫn có thể kết hợp
trong cùng một viên nén hoặc nang thuốc. Ngoài ra còn có thể bào chế các chế
phẩm thuốc tác dụng kéo dài từ pellet [1].
* Nhược điểm:
- Quy trình bào chế thƣờng kéo dài và chi phí khá cao. Thời gian để hoàn
thành một mẻ pellet có thể kéo dài nhiều giờ hay nhiều ngày phụ thuộc vào loại
3
thiết bị và phƣơng pháp bào chế đƣợc áp dụng. Để bào chế pellet cần phải đầu tƣ
những thiết bị chuyên dụng phù hợp [1].
- Trong quá trình bào chế có rất nhiều yếu tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng
của pellet thu đƣợc, do vậy đòi hỏi phải có quá trình nghiên cứu đầy đủ mới có thể
bào chế đƣợc pellet có chất lƣợng nhƣ mong muốn [15].
- Pellet mới chỉ là sản phẩm trung gian nên bắt buộc phải đƣa vào dạng
nang cứng hoặc dập thành viên. Do đó độ đồng đều về khối lƣợng và hàm lƣợng
dƣợc chất trong từng viên chịu ảnh hƣởng trực tiếp của mức độ đồng đều về kích
thƣớc, khối lƣợng riêng biểu kiến, trạng thái bề mặt, hàm lƣợng dƣợc chất trong
pellet [1].
1.1.3 .Thành phần của pellet
Pellet có thành phần cơ bản tƣơng tự nhƣ viên nén về dƣợc chất và các loại
tá dƣợc. Các loại tá dƣợc thƣờng đƣợc dùng trong bào chế pellet bao gồm [1]:
- Tá dƣợc độn
kích thƣớc hạt; cũng có thể dùng kính hiển vi quang học hoặc kính hiển vi điện tử
quét; cũng có thể dùng thiết bị phân tích hình ảnh.
Khối lượng riêng biểu kiến: đây là thông số cần thiết để tính toán khi
đóng nang pellet, xác định bằng máy đo tỷ trọng hạt.
Độ mài mòn: dùng máy xác định độ mài mòn, đây là thông số cần thiết
để đảm bảo pellet không bị bở vụn trong quá trình bao màng hay đóng nang.
Độ ẩm: có thể dùng cân xác định độ ẩm nhanh hoặc sấy đến khối lƣợng
không đổi và cân. Pellet phải đạt độ ẩm qui định đối với từng sản phẩm cụ thể, để
đảm bảo độ ổn định của chế phẩm, đặc biệt với những dƣợc chất nhạy cảm với ẩm
nhƣ lansoprazol.
Hàm lượng dược chất: xác định bằng phƣơng pháp thích hợp, pellet phải
đạt hàm lƣợng dƣợc chất qui định.
Thử nghiệm hòa tan: sử dụng thiết bị thử độ hòa tan ghi trong các Dƣợc
điển hoặc các thiết bị đã đƣợc thay đổi ít nhiều cho phù hợp với dạng pellet.
5
Các thử nghiệm khác: xác định độ trơn chảy, mức độ đồng đều về hàm
lƣợng dƣợc chất trong từng mẻ pellet và các dạng thuốc sau đó (nang thuốc, viên
nén), giới hạn tạp chất… tùy từng chuyên luận cụ thể.
1.2. SƠ LƢỢC VỀ MÀNG BAO
Tùy theo tính chất của dƣợc chất cũng nhƣ yêu cầu về bào chế, pellet đƣợc
bao nhằm mục đích che giấu mùi vị, bảo vệ dƣợc chất , tránh ảnh hƣởng của các
yếu tố ngoại môi nhƣ nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng đến độ ổn định của dƣợc chất hoặc
nhằm cải thiện sinh khả dụng của dƣợc chất: bao tan ở ruột, bao giải phóng dƣợc
kéo dài, bao viên thẩm thấu [4].
Các phƣơng pháp bao viên có thể phân loại nhƣ sau [1]:
- Bao đƣờng.
- Bao màng mỏng, bao film.
- Vi nang.
- Bao bằng phƣơng pháp dập viên.
khoảng cách của chúng do lực đẩy của các điện tích âm của nhóm cacboxylat nên
polyme tan đƣợc ở các pH cao. Ở pH thấp, các nhóm cacboxylic không bị ion hóa,
hình dạng và khoảng cách của chúng làm cho khoảng cách gần nhau đủ để các
polyme kết lắng lại trong môi trƣờng này [1].
Chất hóa dẻo: cùng với các polyme, chất hóa dẻo có tác dụng làm tăng độ
mềm dẻo của màng bao, tránh nứt vỡ và tăng độ bám dính của màng bao và nhân
bao. Ngƣời ta phối hợp với các chất hóa dẻo và các polyme tƣơng đối giống nhau
về mặt hóa học. Một số chất hóa dẻo thƣờng đƣợc hay sử dụng nhƣ: glycerin,
polyethylen glycol (PEG) 200-6000, dibutyl phtalat, triethyl acetat…
Chất rắn vô cơ: có tác dụng cải thiện màu sắc màng bao, chống dính khi bao
và tăng độ dày màng bao, giảm lƣợng polyme cần sử dụng.
Chất màu: làm tăng vẻ đẹp cho sản phẩm, dễ dàng phân biệt sản phẩm, cản
sáng để làm tăng độ ổn định của thuốc.
Dung môi: Có vai trò quan trọng trong quá trình bao, vì chúng là phƣơng tiện
để hình thành lớp màng bao trên nhân, dung môi hòa tan và phân tán polyme và các
chất khác để thu đƣợc màng bao liên tục, nhẵn và có độ bền thích hợp. Có thể dùng
nƣớc hay dung môi hữu cơ nhƣ methanol, ethanol, isopropanol
1.2.2. Bao bảo vệ
Mục đích: do các polyme sử dụng để bao tan ở ruột thƣờng có tính acid do
chứa các nhóm cacboxyl tự do nên có thể gây ảnh hƣởng đến độ ổn định của dƣợc
7
chất, đặc biệt là các dƣợc chất kém bền trong môi trƣờng acid nhƣ omeprazol,
lansoprazol, pantoprazol…Vì thế phải thêm một lớp màng bao bảo vệ nhằm mục
đích ngăn dƣợc chất thấm ra ngoài và bảo vệ dƣợc chất tránh tiếp xúc với lớp bao
ngoài và với môi trƣờng [32].
Polyme thƣờng sử dụng nhƣ HPMC E6, E15; PVA, Eudragit E…
1.2.3. Sơ lƣợc về Eudragit L100 và một số polyme sử dụng để bao tan ở ruột
khác
1.2.3.1. Eudragit L100
tan trong môi trƣờng acid nhƣng tan đƣợc trong môi trƣờng kiềm nên có thể sử
dụng làm polyme bao tan ở ruột. Tuy nhiên trong quá trình bảo quản, màng bao
shellac có xu hƣớng làm tăng thời gian rã, thay đổi tốc độ giải phóng dƣợc chất từ
viên [1].
Cellulose acetatphtalat (CAP) đƣợc tổng hợp bằng phản ứng một phần este
acetat của cellulose với anhydridphtalic. Polyme thu đƣợc là một cellulose trong đó
có khoảng một nửa các nhóm hydroxyl đƣợc acetyl hóa, và khoảng một phần tƣ
đƣợc este hóa với một trong hai nhóm acid của acid phtalic [15]. CAP đƣợc dùng
cho các dạng thuốc rắn bẳng phân tán và dung môi nƣớc hay dung môi hữu cơ để
bao tan ở ruột hoặc nén trực tiếp với các tá dƣợc khác [35].
Polyvinyl acetatphtalat (PVAP) đƣợc tổng hợp bởi phản ứng của alcol
polyvinyl với acid acetic và anhydridphtalic. Khi dùng cho công thức bao tan ở
ruột, PVAP thƣờng đƣợc phân tán trong dung môi cùng với các chất nhƣ
diethylphtalat và acid stearic.
1.2.4. Phƣơng pháp bao.
- Phân loại theo thiết bị: bao bằng nồi bao truyền thống hay thiết bị bao tầng
sôi. Thông dụng nhất là nồi bao có kèm theo thiết bị phun dịch bao và thổi gió
nóng. Bao pellet tốt nhất là bao bằng thiết bị bao tầng sôi.
- Phân loại theo trạng thái polyme: bao hỗn dịch hay bao dung dịch [1].
1.3. ĐẠI CƢƠNG VỀ LANSOPRAZOL
1.3.1. Cấu trúc hóa học
- Lansoprazol là một thuốc điều trị loét dạ dày - tá tràng thuộc nhóm ức chế
bơm proton, về bản chất là dẫn xuất benzimidazol có công thức phân tử
C
16
H
14
F
3
N
của nhân benzimidazol) [32].
Bảng 1.1: Độ tan của lansoprazol trong nước ở 25°C và trong đệm
phosphat pH 6,8 ở 37°C [28]
Môi trƣờng
Độ tan (µg/ml) ± RSD (%)
Nƣớc (n = 3)
34,478 ± 0,413 (18 giờ) 33,571 ± 5,46 (24 giờ)
pH 6,8 (n = 3)
44,162 ± 8,259 (24 giờ) 43,892 ± 1,46 (32 giờ)
- Lansoprazol rất không bền dƣới tác động của hơi ẩm, nhiệt độ và ánh sáng
[18], [28]. Chính vì thế, Dƣợc điển Mỹ quy định bảo quản lansoprazol trong bao bì
kín, tránh ánh sáng và nhiệt độ cao. Đồng thời giới hạn hàm ẩm đối với nguyên liệu
rất thấp, dƣới 0,1% [37].
- Do đặc tính không ổn định với nhiệt và ẩm, đây lại là hai yếu tố thƣờng
xuyên tác động trong quá trình bào chế các dạng thuốc rắn, nên việc bào chế pellet
lansoprazol sẽ rất khó đảm bảo độ ổn định của dƣợc chất ngay trong quá trình bào
chế [32].
- Lansoprazol bị phân hủy rất nhanh trong môi trƣờng acid. Trong dung dịch
methanol - đệm phosphat (5:95) ở pH 3,0 thì thời gian bán hủy của lansoprazol là 4
phút. Ở nhiệt độ 25
0
C thì thời gian bán hủy của lansoprazol ở pH 5,0 là 30 phút,
tăng lên là 18 giờ ở pH 7,0 và 37 giờ ở pH 8,0 [32]. Lansoprazol ổn định ở pH 7,0
và 9,0 trong 72 giờ nếu để trong bóng tối. Trong môi trƣờng nƣớc thì trên 80%
lansoprazol bị phân hủy sau 72 giờ nếu có ánh sáng nhƣng nếu để trong bóng tối ở
10
pH 4,0 thì lƣợng lansoprazol bị phân hủy giảm xuống còn 40% [16]. Độ ổn định
của lansoprazol trong các dung dịch muối ở pH 4,0, 5,0 và 6,0 theo thứ tự: đệm
phosphat < trinatri citrat ≤ đệm citrat ≤ đệm acetat < acid citric ≤ calci carbonat <
Pantoprazol
Sinh khả dụng (%)
64 - 90
> 80
40
77
Thời gian đạt C
max
(giờ)
1,5
1,7
0,5 - 3,5
2 - 4
t1/2 (giờ)
1,0 - 1,5
1,5
0,5 - 1,0
1,0
Liên kết protein (%)
97
97
95
98
Chuyển hóa qua gan
Có
Có
Có
Có
- Lansoprazol liên kết với protein huyết tƣơng khoảng 97% [4]. Bị chuyển
hóa nhiều ở gan nhờ hệ enzym cytochrom P450 để thành hai chất chuyển hóa chính:
Điều trị các chứng tăng tiết acid bệnh lý nhƣ hội chứng Zollinger -
Ellison, u đa tuyến nội tiết, tăng dƣỡng bào hệ thống: ngƣời lớn bắt đầu từ
60mg/lần/ngày, uống vào buổi sáng trƣớc ăn, sau điều chỉnh liều cho phù hợp mức
độ hấp thu và cần thiết để đạt hiệu quả lâm sàng. Các lần sau cần khoảng 30 -
180mg hàng ngày, liều trên 120mg thì nên chia làm 2 lần.
Lansoprazol không bền trong môi trƣờng acid vì vậy nên uống trƣớc khi ăn
và không cắn vỡ hoặc nhai viên [3], [4], [28].
1.3.7. Các phƣơng pháp định lƣợng lansoprazol
Để định lƣợng lansoprazol trong nguyên liệu cũng nhƣ trong các dạng bào
chế thì Dƣợc điển Mỹ quy định sử dụng phƣơng pháp sắc kí lỏng hiệu năng cao
(HPLC), pha động là nƣớc : acetonitril : triethylamin (60:40:1), điều chỉnh pH 7,0
bằng acid phosphoric, sử dụng chuẩn nội là 4-ethoxyacetophenon [37]. Phƣơng
pháp HPLC có ƣu điểm là phân tích chính xác hàm lƣợng dƣợc chất cũng nhƣ các
sản phẩm phân huỷ của nó nên phƣơng pháp này có thể sử dụng để nghiên cứu độ
ổn định của chế phẩm.
Ngoài ra còn định lƣợng lansoprazol bằng phƣơng pháp quang phổ UV - VIS
[25], [27], [37], sắc kí lớp mỏng hiệu năng cao (HPTLC). Trong đó, phƣơng pháp
quang phổ UV - VIS là phƣơng pháp đơn giản nhƣng có độ chính xác cao nên có
13
thể sử dụng phƣơng pháp này để xác định hàm lƣợng lansoprazol có trong dung
dịch.
1.3.8. Một số nghiên cứu về bào chế pellet lansoprazol
* Các nghiên cứu trên thế giới:
Deshpande J.V và cộng sự sử dụng phƣơng pháp bồi dần từng lớp hỗn dịch
lansoprazol và tá dƣợc lên pellet trơ có cho thêm 2 tá dƣợc ổn định là Na
2
HPO
4
và
60 phút là dƣới 5%, trong môi trƣờng pH 6,8 là từ 96 - 100% đạt yêu cầu của Dƣợc
điển Mỹ [33].
He W và cộng sự nghiên cứu ảnh hƣởng của Na
2
CO
3
tới độ ổn định và khả
năng giải phóng của pellet lansoprazol. Pellet trơ đƣợc bao hỗn dịch dƣợc chất và tá
dƣợc dính có thêm chất ổn định là Na
2
CO
3
. Sau đó bao thêm 3 lớp: màng bao tá
dƣợc kiềm (Na
2
CO
3
), màng bao bảo vệ bằng HPMC và màng bao tan ở ruột bằng
Eudragit L30D55, sử dụng thiết bị tầng sôi Wurster. Pellet bao tan ở ruột đƣợc đánh
giá về khả năng kháng dịch vị và tốc độ giải phóng hoạt chất cũng nhƣ độ ổn định.
Kết quả cho thấy sự có mặt của Na
2
CO
3
đã cải thiện đáng kể khả năng kháng dịch
vị của pellet, chỉ có 1% hoạt chất giải phóng sau 60 phút. Tỷ lệ Na
2
CO
3
tƣơng quan
giảm. Điều này đƣợc giải thích là do Na
2
CO
3
trong quá trình bảo quản đã tham gia
vào thành phần của màng bao tan ở ruột và làm kéo dãn cấu trúc của màng polyme
[23].
15
Singh S.K và cộng sự nghiên cứu bào chế micropellet chứa lansoprazol bao
tan ở ruột. Pellet nhân đƣợc bào chế bằng phƣơng pháp bồi dần với dung môi là
dung dịch NaOH, sử dụng tá dƣợc dính HPMC E5 hoặc PVP. Sau đó bao tan ở ruột
bằng dung dịch Acrycoat L30D. Kết quả nghiên cứu cho thấy công thức pellet nhân
với lƣợng NaOH và HPMC E5 so với dƣợc chất có tỷ lệ lần lƣợt là 12% và 60%
đƣợc bao tăng 60% khối lƣợng pellet sau khi bao cách ly bằng HPMC E5 tăng 12%
khối lƣợng pellet nhân có khả năng kháng acid dịch vị tốt nhất và độ hoà tan trong
môi trƣờng đệm phosphat pH 6,8 cao nhất (89,24%) sau 60 phút. Pellet bao tan ở
ruột ổn định ở điều kiện lão hoá cấp tốc sau 3 tháng [36].
Young C và cộng sự bào chế pellet lansoprazol bằng phƣơng pháp bồi dần,
tiến hành bao tan ở ruột bằng Acryl EZE (là sản phẩm thƣơng mại có thành phần
chính là Eudragit L100-55, ngoài ra còn có thêm chất hóa dẻo, chất chống dính và
titan dioxyd) tăng 26% khối lƣợng pellet. Đánh giá khả năng giải phóng dƣợc chất
trong môi trƣờng acid HCl pH 1,2 hoặc môi trƣờng đệm phosphat pH 4,5, sau đó
tiếp tục đánh giá khả năng giải phóng dƣợc chất trong môi trƣờng đệm phosphat pH
6,8. Kết quả cho thấy không có lansoprazol giải phóng ở cả 2 môi trƣờng pH 1,2 và
pH 4,5 sau 60 phút trong khi khoảng 80% lansoprazol giải phóng trong môi trƣờng
pH 6,8 sau 15 đến 30 phút [39].
* Các nghiên cứu ở Việt Nam:
Nguyễn Thị Hoà nghiên cứu bào chế pellet lansoprazol bằng phƣơng pháp
đùn - tạo cầu sử dụng tá dƣợc ổn định là Na