Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam - Pdf 29


ĐỀ TÀI: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

I. Thể chế kinh tế là gì?
1. Định nghĩa
- Thể chế kinh tế là một bộ phận cấu thành của hệ thống thể chế xã hội, tồn tại bên
cạnh các bộ phận khác như thể chế chính trị, thể chế giáo dục…
- Thể chế kinh tế nói chung là một hệ thống các quy phạm pháp luật nhằm điều
chỉnh các chủ thể kinh tế, các hành vi sản xuất kinh doanh và các quan hệ kinh tế.
Nó bao gồm các yếu tố chủ yếu là các đạo luật, quy chế, quy tắc, chuẩn mực về
kinh tế gắn với các chế tài về xử lý vi phạm, các tổ chức kinh tế, các cơ quan quản
lý nhà nước về kinh tế, truyền thống văn hóa và văn minh kinh doanh, cơ chế vận
hành nền kinh tế.
Ví dụ: Việt Nam đi theo thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là loại hình thể chế
kinh tế trong đó có sự thống nhất biện chứng giữa cái chung là kinh tế thị trường
với các đặc thù là định hướng xã hội chủ nghĩa. Thuộc về cái chung có các yếu tố
như: đa dạng chủ thể kinh tế và các chủ thể tự do sản xuất kinh doanh, cạnh tranh
theo pháp luật; thừa nhận các phạm trù hàng hoá, tiền tệ, thị trường, cạnh tranh,
cung cầu, giá cả thị trường, lợi nhuận; sự hoạt động của quy luật kinh tế thị trường;
nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường. Thuộc về cái đặc thù có các yếu tố: tư
tưởng kinh tế xã hội chủ nghĩa dựa trên nền tảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, quan điểm của Đảng cộng sản; các mục tiêu,
nguyên tắc và nhiệm vụ cơ bản trong phát triển nền kinh tế gắn với mục tiêu và đặc
trưng của chủ nghĩa xã hội. Trong sự kết hợp giữa các chung và cái đặc thù này
chúng tạo thành sự giao thoa, cái chung không nằm ngoài ngoài mà nằm trong cái
đặc thù, nhưng không bao quát hết cái đặc thù, trong đó kinh tế thị trường là động
lực và phương tiện để phát triển kinh tế, định hướng xã hội chủ nghĩa giữ vai trò
dẫn dắt quá trình phát triển nền kinh tế.
 Các yếu tố cấu thành thể chế kinh tế thị trường

o v.v.

 Các nhân tố tác động đến thể chế kinh tế
Có rất nhiều nhân tố tác động tới việc hình thành và phát triển thể chế kinh tế,
nhưng trong đó các nhân tố dưới đây được coi là quan trọng nhất.
- Phương thức sản xuất là một trong những yếu tố rất quan trọng làm thay đổi phần
lớn thể chế kinh tế. Việc chuyển từ phương thức sản xuất này sang phương thức
sản xuất khác sẽ làm thay đổi căn bản thể chế nói chung của một thuốc gia, do sự
khác biệt cơ bản về tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, sự thay đổi các
quan hệ về sở hữu, phân phối, trao đổi và tiêu dùng, sự khác biệt về cơ cấu bộ máy

ĐỀ TÀI: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

nhà nước, sự thay đổi trong địa vị của những người ban hành và cả những người
thực thi thể chế
- Chế độ sở hữu và cơ cấu quyền tài sản là những yếu tố rất quan trọng tác động tới
thể chế kinh tế.
- Hệ tư tưởng là nền tảng tinh thần làm thay đổi nhận thức của con người về thế
giới quan, nhân sinh quan. Hệ tư tưởng có tác động lớn tới việc giải thích thế giới
xung quanh và các hoạt động kinh tế. Chính vì vậy, hệ tư tưởng có tác động rất lớn
tới thể chế quản lý kinh tế.
- Mô hình kinh tế cũng có tác động mạnh tới thể chế kinh tế. Sự khác biệt giữa các
mô hình kinh tế, chẳng hạn như giữa mô hình kinh tế thị trường với mô hình kinh
tế kế hoạch hoá tập trung cũng tạo ra sự khác biệt lớn trong thể chế kinh tế. Ngoài
ra, sự khác nhau giữa các mô hình kinh tế thị trường (kinh tế thị trường tự do, kinh
tế thị trường xã hội, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ) cũng tạo ra
sự khác biệt lớn trong thể chế kinh tế.
- Cơ cấu quyền lực chính trị, sự tập trung quyền lực hay phân quyền sẽ tạo ra sự
khác nhau cơ bản dẫn tới khác nhau đáng kể trong cả tổ chức nhà nước lẫn thể chế

nhấn mạnh đến chức năng quản lý, điều hành trực tiếp sang chức năng kiến tạo môi
trường để mọi nguồn lực trong xã hội được sử dụng bằng cơ chế tối ưu, phát huy
được mọi nguồn lực một cách có hiệu quả. Theo đó, Nhà nước thay đổi theo hướng
thiết lập và hoàn thiện khung khổ pháp lý, làm cho các loại thị trường hoạt động
đầy đủ theo nguyên tắc và quy luật của chúng, đồng thời bổ sung, sửa chữa khiếm
khuyết của thị trường. Như vậy, cải cách thể chế nhanh hay chậm, ở quy mô lớn
hay quy mô nhỏ phụ thuộc vào việc liệu Nhà nước thực sự muốn thay đổi vai trò,
vị trí và chức năng của mình hay không!
+ Thứ ba, không chỉ 3 năm nay mà vấn đề cải cách thể chế đã được thực hiện từ
hơn 10 năm nay, trong đó nhiều luật lệ được ban hành, sửa đổi, nhưng vẫn còn tình
trạng luật này chồng chéo luật kia, luật này “đá” luật kia… khiến môi trường kinh

ĐỀ TÀI: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

doanh, môi trường luật pháp vẫn phức tạp, không thông thoáng, lắm phiền hà…
Như vậy thì đúng là có nhiều thay đổi, có cải cách nhưng hóa ra chả thay đổi được
gì, chả cải cách được gì vì nó không đủ đồng bộ tạo ra một môi trường mới về
chất.
- Ở Trung Quốc
+ Cải cách Kinh tế Trung Quốc ( Cải cách giải phóng) là một chương trình thực
hiện các thay đổi về kinh tế gọi là "Chủ nghĩa Xã hội mang màu sắc Trung Quốc"
ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được những người theo chủ nghĩa thực dụng bên
trong Đảng Cộng sản Trung Quốc do Đặng Tiểu Bình lãnh đạo và vẫn đang tiếp
diễn cho đên đầu thế kỷ 21. Mục tiêu của cải tổ kinh tế Trung Quốc là tạo ra giá trị
thặng dư đủ để cung cấp tài chính cho quá trình hiện đại hóa nền kinh tế của Trung
Hoa Đại lục.
+ Cả nền kinh tế chỉ huy xã hội chủ nghĩa được những người bảo thủ trong Đảng
Cộng sản Trung Quốc và nỗ lực của Chủ nghĩa Mao trong một cuộc Đại nhảy vọt
từ xã hội chủ nghĩa sang cộng sản chủ nghĩa trong nông nghiệp (với chế độ công

II. Vai trò của thể chế kinh tế
- Một là, định hướng, hướng dẫn, tạo khung khổ cho việc tổ chức, hoạt động
của nền kinh tế.Thể chế kinh tế là những luật lệ, qui tắc nên vai trò hàng đầu của
nó là định hướng, hướng dẫn hành vi và tạo khung khổ pháp lý cho việc tổ chức
hoạt động của nền kinh tế, tác động lớn đến sự lựa chọn và việc quyết định sản
xuất cái gì, đầu tư như thế nào vào lĩnh vực nào, ở đâu của các chủ thể kinh tế.
Ngoài ra thể chế có tác dụng hướng dẫn trong mối quan hệ qua lại của con người
để khi làm bất cứ việc gì, mỗi người sẽ biết được cách thức thực hiện những việc
đó như thế nào.
- Hai là, thể chế kinh tế tạo ra nền tảng kinh tế xã hội của một nền kinh tế
như: chế độ sỡ hữu, các thành phần kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất kinh
doanh của nền kinh tế.
- Ba là, thể chế kinh tế đóng vai trò chủ thể quản lý kinh tế, và các công cụ
quản lý nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Nhà nước với tư cách là một thể chế kinh tế, trong quá trình tổ chức quản lý vĩ mô

ĐỀ TÀI: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

nền kinh tế, đóng vai trò chủ thể quản lý kinh tế trong nền KTTT định hướng
XHCN.
Hệ thống pháp luật, các công cụ kế hoạch hoá, tài chính, tiền tệ trong nền KTTT
luôn có vai trò hết sức quan trọng việc tạo ra khung khổ pháp lý, tác động đến điều
tiết, định hướng nền kinh tế.
- Bốn là, thể chế kinh tế hình thành góp phần đồng bộ hoá hệ thống thị trường,
từng bước hoàn thiện và phát triển hệ thống thị trường của nền KTTT nước ta.
Theo quan niệm hiện nay hệ thống thị trường đồng bộ bao gồm hai vấn đề:
 Thứ nhất, phải có đẩy đủ các loại thị trường sản phẩm và thị trường yếu tố
hay thị trường đầu vào hay thị trường đầu ra.
 Thứ hai, bảo đảm cho các loại thị trường này phát triển cân đối cả về qui mô,

- Các doanh nghiệp hoạt động trên cơ sở các quyết định của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền và các chỉ tiêu pháp lệnh được giao. Các doanh nghiệp không có
quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh, cũng không bị ràng buộc trách nhiệm đối với
kết quả sản xuất kinh doanh.
- Thủ tiêu cạnh tranh, kìm hãm tiến bộ công nghệ - khoa học triệt tiêu động
lực kinh tế với người lao động, không kích thích tính năng động, sáng tạo của các
đơn vị sản xuất kinh doanh,
- Quan hệ hàng hóa tiền tệ bị coi nhẹ, quan hệ hiện vật là chủ yếu, Nhà nước
quản lí nền kinh tế thông qua chế độ “cấp phát-giao nộp” nên nhiều hàng hóa như

ĐỀ TÀI: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

sức lao động, phát minh sáng chế, tư liệu sản xuất quan trọng không được coi là
hàng hóa về mặt pháp lí.

2. Thể chế kinh tế thị trường
a, Khái niệm: Thể chế kinh tế là một bộ phận cấu thành của hệ thống thể chế xã
hội, tồn tại bên cạnh các bộ phận khác như thể chế chính trị, thể chế giáo dục…
Thể chế kinh tế nói chung là một hệ thống các quy phạm pháp luật nhằm điều
chỉnh các chủ thể kinh tế, các hành vi sản xuất kinh doanh và các quan hệ kinh tế.
Nó bao gồm các yếu tố chủ yếu là các đạo luật, quy chế, quy tắc, chuẩn mực về
kinh tế gắn với các chế tài về xử lý vi phạm, các tổ chức kinh tế, các cơ quan quản
lý nhà nước về kinh tế, truyền thống văn hóa và văn minh kinh doanh, cơ chế vận
hành nền kinh tế.

Thể chế kinh tế thị trường là một tổng thể bao gồm các bộ quy tắc, luật lệ và hệ
thống các thực thể, tổ chức kinh tế được tạo lập nhằm điều chỉnh hoạt động giao
dịch, trao đổi trên thị trường.



*So sánh thể chế kinh tế thị trường TBCN và thể chế kinh tế định hướng
XHCN
- Giống nhau
+ Thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển tạo ra sự cạnh trạnh gắt gao giữa các nhà
sản xuất. Người tiêu dùng được thỏa mãn nhu cầu cũng như được đáp ứng đầy đủ
cái chủng loại dịch vụ.
+ Phân công lao động ngày càng xã hội hóa cao. Mở rộng quan hệ nhiều loại thị
trường từ thị trường địa phương, thị trường khu vực và dân tộc, thị trường quốc tế.
+ Tạo xu thế liên doanh, liên kết đẩy mạnh giao lưu kinh tế, các nước đang phát
triển có cơ hội được tiếp xúc chuyển giao công nghệ sản xuất, chuyển giao công
nghệ quản lí từ các nước phát triển để thúc đẩy công cuộc xây dựng và phát triển
kinh tế nước nhà.
+ Kinh tế thị trường góp phần thúc đẩy giao lưu giữa các nước dưới sự thể hiện
qua các sản phẩm, dịch vụ mang bản sắc của từng dân tộc, từng địa phương, từng
quốc gia. ĐỀ TÀI: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

- Khác nhau

Thể chế kinh tế tư bản chủ nghĩa
Thể chế kinh tế thị trường định hướng
XHCN.
Trong hệ thống quy phạm pháp luật vai
trò kinh tế của nhà nước bị giảm sút
chịu sức ép mạnh mẽ từ các thành phần
kinh tế khác

của thị trường và cơ chế thị trường, tạo các điều kiện thuận lợi cho các chủ thể
kinh tế hoạt động.
- Có hệ thống pháp luật thích ứng và thúc đẩy sự vận hành có hiệu quả thể chế kinh
tế thị trường, mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong bài phát biểu của Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh tại phiên khai mạc hội
thảo “Cải cách kinh tế vì tăng trưởng bao trùm và bền vững” diễn ra ngày
24/3/2014 tại Hà Nội cũng nói rõ hai nội dung cải cách cốt lõi của Việt Nam hiện
nay là chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị
trường và chuyển từ nền kinh tế khép kín sang nền kinh tế mở và chủ động hội
nhập quốc tế. Trong đó, nhiệm vụ trọng tâm là đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế gắn với
chuyển đổi mô hình tăng trưởng, coi chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh là ưu
tiên hàng đầu. Đồng thời phát huy tối đa nhân tố con người, bảo đảm quyền con
người, quyền công dân.
Quá trình chuyển đổi từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường là việc Nhà
nước chủ động thay đổi vai trò, vị trí và chức năng của mình, từ việc nhấn mạnh
đến chức năng quản lý, điều hành trực tiếp sang chức năng kiến tạo môi trường để
mọi nguồn lực trong xã hội được sử dụng bằng cơ chế tối ưu, phát huy được mọi
nguồn lực một cách có hiệu quả. Theo đó, Nhà nước thay đổi theo hướng thiết lập
và hoàn thiện khung khổ pháp lý, làm cho các loại thị trường hoạt động đầy đủ
theo nguyên tắc và quy luật của chúng, đồng thời bổ sung, sửa chữa khiếm khuyết
của thị trường.
2. Các nhân tố tác động đến thể chế kinh tế
Có rất nhiều nhân tố tác động tới việc hình thành và phát triển thể chế kinh tế,
nhưng trong đó các nhân tố dưới đây được coi là quan trọng nhất.
- Phương thức sản xuất là một trong những yếu tố rất quan trọng làm thay đổi phần
lớn các thể chế chính thức, trong đó có thể chế kinh tế. Việc chuyển từ phương
thức sản xuất này sang phương thức sản xuất khác sẽ làm thay đổi căn bản thể chế

ĐỀ TÀI: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam


ĐỀ TÀI: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Trước khi đi vào việc đề ra các giải pháp để hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam , nhóm muốn đưa tới các bạn cái nhìn
khái quát nhất về mô hình thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam
Công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế Việt Nam do Đảng ta khởi xướng và
chính thức khẳng định từ đại hội VI cuả Đảng cộng sản Việt Nam năm 1986 , đánh
dấu sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang mô hình nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Hay hiểu đơn giản, kinh tế thị trường trước tiên là phải tôn trọng đầy đủ các quy
luật của kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa là có công cụ điều tiết
và chính sách phân phối để bảo đảm công bằng và tiến bộ xã hội  Đây hoàn toàn
là một thể chế tích cực có tác dụng tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng, trong
đó không những các pháp nhân kinh tế được tôn trọng mà các cá nhân kinh tế được
tạo điều kiện để phát triển hết năng lực của mình, không một ai bị bỏ lại đằng sau
trên con đường phát triển.

 Điều này đảm bảo đạt hiệu quả kinh tế cao, vừa đảm bảo thực hiện công bằng
xã hội ngày càng tốt hơn.( So sánh sự đảm bảo công bằng này tốt hơn so vs hình
thức kinh tế thị trường định hướng tư bản )
Thực chất Cho đến nay, chính Đảng Cộng sản Việt Nam cũng thừa nhận rằng
chưa có nhận thức rõ, cụ thể và đầy đủ về thế nào là nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa mà chỉ có giải thích nguyên lý chung rằng, đó là một nền
kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý chặt chẽ của nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh. Đến hội nghị lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung ương

2.1 Thành tựu
a. Về phát triển kinh tế

ĐỀ TÀI: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Hoàn thiện hệ thống pháp luật pháp luật kinh tế
Ngay từ khi công cuộc cải cách kinh tế mới bắt đầu, Việt Nam đã xây dựng và ban
hành nhiều văn bản pháp luật dưới dạng Bộ luật, Luật và Pháp lệnh liên quan trực
tiếp đến phát triển kinh tế thị trường và khuyến khích kinh doanh . khung luật pháp
của nền kinh tế thị trường đã dần được định hình và ngày càng hoàn thiện hơn :
+ Tạo dựng khung pháp lý cho việc thực hiện quyền tự do kinh doanh, phát triển
nền kinh tế nhiều thành phần, khai thác hiệu quả nguồn lực xã hội
+ Khung pháp lý về thị trường hàng hoá, dịch vụ đã và đang tạo điều kiện cho cơ
chế thị trường vận hành có hiệu quả
+Hình thành khung luật pháp cho việc xây dựng và vận hành thị trường các yếu tố
sản xuất quan trọng nhất
+ Tạo dựng và làm hài hòa hệ thống luật pháp nhằm thúc đẩy quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế

Đất nước ra khỏi khủng hoảng, kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng nhanh :
Cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội sâu rộng tiềm ẩn từ cuối những năm
1970, bùng phát trong những năm 1980, kéo dài đến đầu những năm 1990
của thế kỷ trước đã khiến tăng trưởng kinh tế chậm, có năm bị suy thoái.
GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái, nếu năm
1985 còn đạt 233,3 USD, thì năm 1988 chỉ còn 86 USD/người, thuộc loại
thấp nhất thế giới. Lạm phát và nhập siêu rất cao; tỷ lệ thất nghiệp năm
1989 lên đến trên 13%
Nhờ đổi mới, mở cửa hội nhập (bắt đầu từ năm 1986), cơ cấu thành phần
kinh tế đã có sự chuyển dịch khá rõ.

nhanh; các ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng, tư vấn pháp lý; có bước phát triển
theo hướng tiến bộ, hiệu quả.

Thực hiện có kết quả chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần,
phát huy ngày càng tốt hơn tiềm năng của các thành phần kinh tế

Kinh tế và doanh nghiệp nhà nước được sắp xếp, đổi mới, nâng cao chất lượng và
hiệu quả, tập trung hơn vào những ngành then chốt và những lĩnh vực trọng yếu
của nền kinh tế. Cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước được đổi mới một bước
quan trọng theo hướng xóa bao cấp, thực hiện mô hình công ty, phát huy quyền tự
chủ và trách nhiệm của doanh nghiệp trong kinh doanh. Kinh tế tư nhân phát triển
mạnh, huy động ngày càng tốt hơn các nguồn lực và tiềm năng trong nhân dân, là
một động lực rất quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế Kinh tế có
vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, trở thành một bộ phận
cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân; là cầu nối quan trọng với thế giới
về chuyển giao công nghệ, giao thông quốc tế, đóng góp vào ngân sách nhà nước
và tạo việc làm cho nhiều người dân.

Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dần dần được hình
thành, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định

Trải qua hơn 25 năm đổi mới, hệ thống pháp luật, chính sách và cơ chế vận hành
của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựng tương đối
đồng bộ. Hoạt động của các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế nhiều thành

ĐỀ TÀI: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

phần và bộ máy quản lý của Nhà nước được đổi mới một bước quan trọng. Với chủ
trương tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, quan hệ kinh tế của Việt


quân đầu người chỉ đạt 86 USD/người/năm - là một trong những nước thấp nhất
thế giới, nhưng đã tăng gần như liên tục ở những năm sau đó, giai đoạn 2005 -
2010 đạt 1.168 USD/người/năm ,nước ta đã ra khỏi nhóm nước thu thập thấp để
trở thành nước có thu nhập trung bình .

Trong lĩnh vực lao động và việc làm: Từ năm 1991 đến năm 2000, trung bình mỗi
năm cả nước đã giải quyết cho khoảng 1 - 1,2 triệu người lao động có công ăn việc
làm; những năm 2001 - 2005, mức giải quyết việc làm trung bình hằng năm đạt
khoảng 1,4 - 1,5 triệu người; những năm 2006 - 2010, con số đó lại tăng lên đến
1,6 triệu người. Công tác dạy nghề từng bước phát triển, góp phần đưa tỷ lệ lao
động qua đào tạo từ dưới 10% năm 1990 lên khoảng 40% năm 2010 (13).

Công tác xóa đói giảm nghèo đạt được kết quả đầy ấn tượng. Theo chuẩn quốc gia,
tỷ lệ hộ đói nghèo đã giảm từ 30% năm 1992 xuống khoảng 9,5% năm 2010. Còn
theo chuẩn do Ngân hàng thế giới (WB) phối hợp với Tổng cục Thống kê tính
toán, thì tỷ lệ nghèo chung (bao gồm cả nghèo lương thực, thực phẩm và nghèo phi
lương thực, thực phẩm) đã giảm từ 58% năm 1993 xuống 29% năm 2002 và còn
khoảng 17% năm 2008. Như vậy, Việt Nam đã “hoàn thành sớm hơn so với kế
hoạch toàn cầu: giảm một nửa tỷ lệ nghèo vào năm 2015”, mà Mục tiêu Thiên niên
kỷ (MDGs) của Liên hợp quốc đã đề ra (14). Tại cuộc Hội thảo quốc tế với tiêu đề
Xóa đói, giảm nghèo: Kinh nghiệm Việt Nam và một số nước châu Á do Bộ Ngoại
giao Việt Nam tổ chức tại Hà Nội vào giữa tháng 6-2004, Việt Nam được đánh giá
là nước có tốc độ giảm nghèo nhanh nhất khu vực Đông Nam Á (15).

Sự nghiệp giáo dục có bước phát triển mới về quy mô, đa dạng hóa về loại hình
trường lớp từ mầm non, tiểu học đến cao đẳng, đại học. Năm 2000, cả nước đã đạt
chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học; dự tính đến cuối năm
2010, hầu hết các tỉnh, thành sẽ đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Tỷ lệ
người lớn (từ 15 tuổi trở lên) biết chữ đã tăng từ 84% cuối những năm 1980 lên

GDP bình quân đầu người xếp thứ 129 trên tổng số 182 nước được thống kê, còn
HDI thì xếp thứ 116/182. Điều đó chứng tỏ sự phát triển kinh tế - xã hội của nước
ta có xu hướng phục vụ sự phát triển con người, thực hiện tiến bộ và công bằng xã
hội khá hơn một số nước đang phát triển có GDP bình quân đầu người cao hơn
Việt Nam. Như vậy, tổng quát nhất là chỉ số phát triển con người (HDI) của nước

ĐỀ TÀI: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

ta đã đạt được ba sự vượt trội: chỉ số đã tăng lên qua các năm; thứ bậc về HDI tăng
lên qua các năm; chỉ số và thứ bậc về tuổi thọ và học vấn cao hơn chỉ số về kinh tế.

 Tóm lại, sau gần 30 năm thực hiện đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành
tựu to lớn, toàn diện. Cùng với tăng trưởng kinh tế, sự ổn định kinh tế vĩ mô được
duy trì, các mặt: chính trị, xã hội, quốc phòng và an ninh được bảo đảm và ổn định.
Thành tựu đó ngày càng khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố
quyết định thành công của đổi mới, khích lệ, động viên nhân dân tiếp tục hưởng
ứng, góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tiếp tục thúc
đẩy sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước với những bước tiến cao hơn.
2.2 Chủ trương và giải pháp tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa
Bộ Chính trị ngày 12.9 tổ chức cuộc họp cho ý kiến về việc sơ kết năm năm thực
hiện Nghị quyết số 21 của Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa X về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đánh giá Kết quả triển khai, thực thi thể chế
kinh tế thị trường còn chưa có đột phá lớn trong huy động, phân bổ và sử
dụng hiệu quả nguồn lực phát triển. Doanh nghiệp nhà nước chưa thể hiện
đầy đủ vai trò nòng cốt trên thực tế. Sự phát triển về quy mô, cơ cấu, trình
độ các loại thị trường như thị trường hàng hóa và dịch vụ, thị trường lao
động, thị trường bất động sản, thị trường tài chính, thị trường khoa học -

tế quốc dân. Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm
nghèo; từng bước làm cho mọi thành viên xã hội đều có cuộc sống ấm
no, hạnh phúc, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng
bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát
triển văn hóa, y tế, giáo dục, bảo vệ môi trường , giải quyết tốt các vấn
đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người. Thực hiện chế độ phân phối
chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng
góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội. Phát huy
quyền làm chủ xã hội của nhân dân, bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết nền
kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của
Ðảng.
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một
nền kinh tế vừa tuân theo quy luật của kinh tế thị trường, vừa chịu sự chi
phối bởi các quy luật kinh tế của chủ nghĩa xã hội và các yếu tố bảo đảm
tính định hướng xã hội chủ nghĩa.

ĐỀ TÀI: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

2- Hoàn thiện thể chế về sở hữu, phát triển các thành phần kinh tế,
các loại hình doanh nghiệp và các tổ chức sản xuất kinh doanh
- Hoàn thiện thể chế về sở hữu
+ Tiếp tục hoàn thiện thể chế về sở hữu trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa theo hướng khẳng định sự tồn tại khách quan,
lâu dài và khuyến khích sự phát triển đa dạng các hình thức sở hữu, các
loại hình doanh nghiệp, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của các
chủ sở hữu khác nhau trong nền kinh tế; xây dựng, hoàn thiện luật pháp
về sở hữu đối với các loại tài sản mới, như trí tuệ, cổ phiếu, trái phiếu, tài
nguyên nước, khoáng sản
+ Khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân mà đại diện là Nhà nước; các

- Hoàn thiện thể chế về phân phối
+ Hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách về phân bổ nguồn lực, phân
phối và phân phối lại theo hướng bảo đảm tăng trưởng kinh tế gắn với
tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách phát
triển. Các nguồn lực xã hội được phân bổ theo cơ chế thị trường và theo
chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển của Nhà nước bảo đảm đạt
hiệu quả kinh tế - xã hội cao. Tập trung vốn đầu tư nhà nước phát triển
kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, dịch vụ công quan trọng, một số ngành
sản xuất thiết yếu, then chốt, đóng vai trò chủ đạo và lĩnh vực mà tư nhân
không thể hoặc chưa thể đảm đương được; quan tâm đến các vùng, đối
tượng còn nhiều khó khăn, thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển
giữa các vùng, các địa phương.
+ Chính sách phân phối và phân phối lại phải bảo đảm hài hòa lợi ích của
Nhà nước, người lao động và doanh nghiệp, tạo động lực cho người lao
động, doanh nghiệp và bảo đảm lợi ích quốc gia. Chú trọng phân phối lại
qua phúc lợi xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, y tế; bảo đảm đời
sống, ít nhất là ở mức trung bình của xã hội, cho các đối tượng chính
sách. Ðổi mới cơ chế phân bổ chi ngân sách cho phát triển xã hội, củng
cố và mở rộng hơn nữa hệ thống an sinh xã hội. Tiếp tục hoàn thiện luật
pháp về thuế theo hướng vừa bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà
nước, vừa khuyến khích đầu tư, đổi mới công nghệ, phát triển sản xuất,
nuôi dưỡng nguồn thu và thực hiện công bằng xã hội.
- Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các chủ
thể trong nền kinh tế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status