HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC
KHOA QUẢN LÝ
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
BIÖN PH¸P N¢NG CAO N¡NG LùC Sö DôNG INTERNET
PHôC Vô QU¸ TR×NH HäC TËP CñA SINH VI£N KHOA QU¶N Lý -
HäC VIÖN QU¶N Lý GI¸O DôC
Mã số:
Giảng viên hướng dẫn
TS. Nguyễn Thị Tuyết Hạnh
Chủ nhiệm đề tài
(ký, họ tên)
Lê Thị Bé
Xác nhận của cơ quan chủ trì đề tài
(ký, họ tên, đóng dấu)
Hà Nội, 4/2014
1
DANH SÁCH NHỮNG THÀNH VIÊN THAM GIA
NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI VÀ ĐƠN VỊ PHỐI HỢP CHÍNH
1. Danh sách những thành viên tham gia nghiên cứu.
Lê Thị Bé - lớp QLGDK4B - Chủ nhiệm đề tài
Nguyễn Thị Nhung - lớp QLGDK4B - Thành viên
Lương Thị Duyên- lớp QLGDK4B - Thành viên
2. Đơn vị phối hợp chính.
Tên đơn vị phối hợp chính Nội dung phối hợp nghiên cứu
Khoa Quản lý
Phỏng vấn, xin ý kiến đánh giá của một
số Giảng viên khoa Quản lý về thực trạng
năng lực sử dụng Internet của sinh viên
khoa Quản lý.
thống trong giảng dạy và học tập ở đa số các trường Đại học Việt Nam hiện nay.
Bên cạnh giáo trình, để học tập tốt, SV phải tham khảo thêm thông tin từ nhiều
nguồn tài liệu học tập khác. Sau khi vào Việt Nam từ năm 1997 đến nay, Internet
đã phát triển với tốc độ chóng mặt. Từ một thứ công nghệ xa lạ và đắt đỏ đối với
đại bộ phận nhân dân, thì đến nay Internet đã trở nên khá phổ biến. Đặc biệt là
đối với SV, Internet lại càng thiết thực và gần gũi hơn bao giờ hết. Một trong
những lợi ích mà Internet mang lại đó là trở thành một công cụ hữu dụng cho
việc học tập và nghiên cứu của sinh viên. Internet giúp sinh viên có những hiểu
biết sâu rộng trong mọi lĩnh vực, cập nhật được thông tin cách nhanh chóng, tiện
lợi. Internet thực sự là một nguồn dự trữ thông tin khổng lồ mà trong đó có sẵn
mọi kiến thức trên hầu hết các lĩnh vực, đây có thể là một công cụ trợ giúp tích
cực nếu người dùng biết cách chọn lựa và tiếp nhận thông tin. Không chỉ vậy,
qua Internet sinh viên có thể học tập ở bất kỳ đâu, bất kỳ lúc nào. Bằng việc
thường xuyên lên mạng, tham gia các mạng xã hội, các diễn đàn lành mạnh, SV
có thể tăng cường khả năng giao tiếp, trở nên năng động, tự tin, tạo hứng thú và
6
say mê, thực hành khả năng làm việc độc lập và quan trọng hơn hết là luôn cập
nhật cho mình những kiến thức mới và bổ ích.
Không nằm ngoài xu thế chung đó, SV HV QLGD những năm gần đây
cũng đã từng bước sử dụng Internet vào phục vụ quá trình học tập của mình.
Cho đến nay, Internet đã trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực cho việc học tập của
SV Học viện nói chung và khoa QL nói riêng. Internet được sinh viên khoa QL
sử dụng trong việc cập nhật thông tin, trao đổi thông tin trong học tập, tìm kiếm
tài liệu và học qua mạng.
Thực tế hiện nay cũng cho thấy, số lượng SV Học viện sử dụng Internet
ngày càng tăng lên nhanh chóng. Riêng đối với các SV Khoa Quản lý, thì việc
học qua mạng đã trở nên quen thuộc. Các lớp học đều có những trang blog, mail
hay qua facebook để trao đổi thông tin, các vấn đề xung quanh việc học tập…
Tuy nhiên, Internet cũng có tính hai mặt. Bên cạnh việc khai thác những
lợi ích to lớn từ mạng, mỗi SV đều gặp phải những khó khăn, những mặt trái khi
trình học tập của SV khoa Quản lý - Học viện Quản lý giáo dục.
3. Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện thực tế, nhóm chỉ tiến hành khảo sát thực trạng thông qua
khảo sát 200 SV khoa quản lý đang học tại Học viện QLGD và đề xuất các biện
pháp giúp SV khoa QL sử dụng Internet phục vụ học tập hiệu quả
4. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp nâng cao năng lực sử dụng Internet phục vụ quá
trình học tập của SV khoa Quản lý- Học viện quản lý giáo dục, nhằm góp phần
nâng cao chất lượng đào tạo.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài có một số nhiệm vụ như sau:
- Thứ nhất, nghiên cứu cơ sở lý luận về việc sử dụng Internet phục vụ học
tập của SV trong trường ĐH.
- Thứ hai, tìm hiểu thực trạng việc ứng dụng Internet vào việc học của SV
khoa Quản lý - HVQLGD
- Thứ ba, đề xuất một số biện pháp nâng cao năng lực sử dụng Internet
phục vụ quá trình học tập cho SV KQL - HVQLGD
8
6. Giả thuyết khoa học
Nếu đề tài đưa ra được những biện pháp hướng dẫn SV biết cách sử dụng
Internet thiết thực thì có thể giúp nâng cao hơn nữa năng lực sử dụng Internet
phục vụ quá trình học tập của SV Khoa Quản lý - Học viện QLGD.
7. Phương pháp nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu sử dụng các nhóm phương pháp nghiên cứu:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Tìm hiểu các tài liệu khoa học có liên
quan để tổng hợp hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa các vấn đề lý luận về biện
pháp sử dụng internet phục vụ học tập của SV đại học.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp quan sát: Quan sát các hoạt động học tập, nghiên cứu, tra
cứu, tìm kiếm, chọn lọc, trao đổi, thảo luận thông tin… trên internet của các SV
Một số đề tài nước ngoài:
Từ khi xuất hiện lần đầu tiên trên thế giới vào năm 1968 đến nay, Internet
đã không ngừng phát triển, tạo ra cho nhân loại một thời kỳ mới: kỷ nguyên
thương mại điện tử trên Internet. Cho đến nay, Internet đã thực sự trở thành một
mạng lớn nhất trên thế giới - mạng của các mạng, xuất hiện trong mọi lĩnh vực
thương mại, chính trị, quân sự, nghiên cứu, văn hoá, xã hội và giáo dục,…
Những năm 1986, trên thế giới có sự bùng nổ kết nối, đặc biệt là các
trường đại học lần lượt đưa Internet vào giảng dạy và học tập. Cùng với đó, vấn
đề làm thế nào để sinh viên sử dụng hiệu quả những lợi ích mà Internet mang lại
được rất nhiều người quan tâm. Có rất nhiều công trình, bài viết của các tác giả
nghiên cứu và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao khả năng ứng dụng
Internet vào học tập cho sinh viên các trường Đại học trên toàn Thế giới.
Qua tìm hiểu, nhóm nghiên cứu xin nêu một vài bài viết có liên quan như
sau:
10
- Trên một số trang web nước ngoài đã có những khảo sát dưới dạng bảng
hỏi nhằm mục đích đo lường năng lực áp dụng công nghệ thông tin. Cụ thể như
website: http://www2.unescobkk.org/education/itc/v2_v/suvey/asp?frm=10485
đã khảo sát những chỉ số về kiến thức và kỹ năng CNTT đo theo các mức sử
dụng: sử dụng phầm mềm soạn thảo văn bản, phần mềm bảng tính, công cụ trình
diễn, lập trình, phần mềm đồ họa, quản lý cơ sở dữ liệu, trình duyệt web, lập
trình, thống kê, quản lý dự án.
- Arnon Hershkovitz and Rafi Nachmias “Learning about Online Learning
Processes and Students' Motivation through Web Usage Mining” -
Interdisciplinary Journal of E-Learning and Learning Objects, Volume 5, 2009
đã nghiên cứu về quá trình học trực tuyến của sinh viên và động lực của sinh
viên thông qua khai thác sử dụng web. Ở những nước phát triển như Châu Âu
thì vấn đề học trực tuyến hoàn toàn không hề xa lạ và đã trở thành một hình thức
học tập phổ biến, tránh những bất tiện về địa lý và những yếu tố khác. Qua đề tài
này tác giả cũng đã tìm hiểu được những động lực của sinh viên thông qua khai
tài gần với đề tài mà nhóm nghiên cứu đang tiến hành nghiên cứu. Tuy nhiên,
phương pháp và hướng đi cũng như mục tiêu cuối cùng của hai đề tài là khác
nhau vì đặc điểm của sinh viên mỗi trường là khác nhau, cũng như mục đích
nghiên cứu của hai đề tài không giống nhau, từ đó sẽ có những đề xuất biện
pháp khác nhau.
- Tác giả Phạm Thị Mai Lan “Tìm hiểu cộng đồng blog như một môi
trường xã hội hóa đối với học sinh phổ thông trung học” trong luận văn tốt
nghiệp 2008, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM.
- Tập đoàn thông tin thị trường toàn cầu (TNS) nghiên cứu “Xu hướng sử
dụng Internet ở Việt Nam” thực hiện tháng 12 năm 2008. Cuộc nghiên cứu
phỏng vấn 12000 người tại Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần
Thơ. Qua đó cho thấy thông tin về thói quen sử dụng Internet của người Việt
Nam và nhu cầu sử dụng Internet đang ngày càng được tăng lên.
12
- “Thực trạng sử dụng Internet ở thanh thiếu niên Việt Nam “ 2004 trên
trang web http://www.chungta.com , bài viết đã có những con số thống kê cụ thể
về số lượng thanh thiếu niên sử dụng internet cũng như sự khác nhau về cách sử
dụng internet. Đây là những con số tổng quan nhất trong cả nước về giới tính và
độ tuổi của thanh thiếu niên trong cả nước nói chung từ đó cho thấy rằng bên
cạnh những ưu điểm, internet cũng có những mặt hạn chế, nếu không kịp thời
can thiệp sẽ có những hậu quả không mong muốn. Bài viết này giúp nhóm
nghiên cứu có những con số tổng quan nhất về internet để từ đó có những bước
khi tiến hành điều tra thực tế trong đề tài của mình. Đây là con số mang tính
chất vĩ mô nên nhóm nghiên cứu chỉ làm tài liệu tham khảo cho quá trình nghiên
cứu.
- Được cung cấp bởi IGURU Việt Nam, bài viết có tựa “Đánh giá tình
hình sử dụng Internet của thanh niên Việt Nam” trên trang web
http://myopera.com. Qua bài viết cho thấy thanh thiếu niên Việt Nam sử dụng
Internet hầu hết là do họ tự mày mò, không có sự chỉ dẫn bài bản. Cũng qua bài
viết cho thấy nam giới có tỉ lệ truy cập cao hơn nữ giới, sự khác biệt của sử dụng
nước dân tộc tôi. Kết quả nghiên cứu cho thấy những tác động tích cực và tiêu
cực của Internet tới đời sống và học tập của học sinh, sinh viên. Qua đó cho thấy
việc sử dụng của giới trẻ vẫn chưa thật sự tận dụng hết tác dụng của kho tàng tri
thức này.
- Nguyễn Ngọc Nam nghiên cứu “ Biện pháp và ứng dụng công nghệ
thông tin tại các trường Trung học cơ sỏ huyện Quốc Oai - Thành phố Hà Nội”.
Trên đây chỉ là những đề tài gần nhất với đề tài mà nhóm nghiên cứu đang
nghiên cứu và có thể làm tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu. Qua
tổng quan các tài liệu trên, ta thấy rằng Internet là một sản phầm công nghệ mới
đồng thời dưới góc độ khoa học xã hội nó là một hình thức mang nhiều đặc
trưng mới làm phong phú cho cuộc sống con người. Bên cạnh những tiện ích mà
Internet mang lại là những mặt tiêu cực kèm theo gây ra mối lo ngại cho các nhà
14
quản lý, cho các tổ chức có liên quan trước nhu cầu hiểu biết ngày càng cao qua
phương tiện truyền thông mới mẻ này.
Qua các công trình nghiên cứu trên, nhóm nghiên cứu thấy rằng hầu hết
các tác giả sử dụng phương pháp xã hội học, tùy thuộc vào cách tiếp cận mà nhà
nghiên cứu đưa ra. Một số tác giả như Nguyễn Qúy Thanh, 2006 sử dụng
phương pháp định lượng với công cụ là bảng hỏi. Một số tác giả tiêu biểu là tác
giả Bùi Tá Trương Duyên, 2007, tác giả Lộc Minh, 2008 sử dụng phương pháp
định tính với công cụ như phỏng vấn, phân tích nội dung…
Nhóm nghiên cứu đồng ý với phương pháp nghiên cứu của tác giả Phạm
Thị Mai Lan 2008 là kết hợp cả hai phương pháp để kết quả thu được khách
quan, phong phú và chính xác hơn.
1.2. Các khái niệm làm cơ sở cho đề tài
1.2.1. Biện pháp
Theo từ điển Tiếng Việt năm 1992 của Viện khoa học xã hội Việt Nam,
biện pháp có nghĩa là: cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể.
Như vậy có thể hiểu: Biện pháp là cách thức, con đường để đạt tới mục
đích nhất định trong nhận thức và trong thực tiễn.
ảnh, tiếng nói, hình ảnh động…
Một khái niệm khác về Internet đó là “Internet là mạng toàn cầu liên kết
các máy tính thông qua hệ thống đường điện thoại và cáp quang”.
Ở góc độ thông tin và ứng dụng: Internet là tên của một nhóm tài nguyên
thông tin như dữ liệu, hình ảnh, hình ảnh động, phim, âm thanh,… trên khắp thế
giới, nó được bổ sung, luân chuyển và sử dụng bởi mọi người trên toàn thế giới.
Mạng của các trường đại học và viện nghiên cứu là những thành viên lâu đời
nhất của internet.
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, nhóm nghiên cứu xin đựơc tiếp cận khái
niệm ở góc độ thông tin và ứng dụng, “Internet” là tên của một nhóm tài nguyên
16
thông tin như dữ liệu, hình ảnh, hình ảnh động, phim, âm thanh,… trên khắp thế
giới, nó được bổ sung, luân chuyển và sử dụng bởi mọi người trên toàn thế giới.
17
1.2.5. Năng lực sử dụng Internet
Từ các khái niệm đã nêu trên, có thể đưa ra được định nghĩa “Năng lực sử
dụng Internet” là khả năng lấy một nhóm tài nguyên thông tin như: dữ liệu, hình
ảnh, hình ảnh động, phim, âm thanh… được đăng tải trên các trang mạng bởi
người dùng trên toàn Thế giới thông qua các hình thức như: tải xuống, sao
chép… để làm phương tiện phục vụ mục đích, nhu cầu của người sử dụng.
Nói cách khác, năng lực sử dụng Internet được hiểu là hệ thống kiến thức,
kỹ năng của người dùng để có thể sử dụng một nhóm tài nguyên thông tin, dữ
liệu có sẵn do người sử dụng trên khắp thế giới bổ sung, luân chuyển.
1.2.6. Học tập
Theo GS Nguyễn Ngọc Quang, nghiên cứu dạy học theo quan điểm quá
trình: “Học là quá trình tự điều khiển tối ưu sự chiếm lĩnh khái niệm khoa học,
bằng cách đó hình thành cấu trúc tâm lý mới, phát triển nhân cách toàn diện. Vai
trò tự điều khiển của quá trình học thể hiện ở sự tự giác, tích cực, tự lực và sáng
tạo dưới sự điều khiển của thầy, nhằm chiếm lĩnh khái niệm khoa học”
Theo từ điển Tiếng Việt của Viện khoa học xã hội Việt Nam - Viện ngôn
cao chứ không đơn thuần chỉ là “ thầy đọc, trò chép” như kiểu truyền thống, học
sinh được khuyến khích và tạo điều kiện để chủ động tìm kiếm tri thức, sắp xếp
hợp lý quá trình tự học tập, tự rèn luyện của bản thân mình. Internet mở ra triển
vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy học. Nói rộng
hơn thì Internet đang dần dần trở thành một cánh cửa góp phần nhanh chóng rút
ngắn khoảng cách trong giáo dục giữa các vùng miền. Internet là công cụ đắc
lực hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập và quản lý, góp phần nâng
cao hiệu quả và chất lượng giáo dục.
● Vai trò cụ thể của Internet trong giáo dục:
- Làm thay đổi nội dung và phương pháp truyền đạt trong dạy học: Nhờ
các công cụ đa phương tiện của máy tính như văn bản, đồ họa, hình ảnh, âm
thanh, hoạt cảnh được đăng tải trên các website giáo viên sẽ xây dựng được
bài giảng sinh động, thu hút sự tập trung của người học dễ dàng thể hiện được
19
các phương pháp sư phạm như: phương pháp dạy học tình huống, phương pháp
dạy học nêu vấn đề, thực hiện đánh giá và lượng giá học tập toàn diện, khách
quan ngay trong quá trình học…tăng khả năng tích cực chủ động tham gia học
tập của người học Bên cạnh đó, góp phần tiết kiệm được thời gian công sức
cho người giáo viên trong việc tìm kiếm, cập nhật thông tin mới vào giáo án
giảng dạy.
- Góp phần thay đổi hình thức dạy và học: Nếu trước kia, người học muốn
đi học nhất định phải tham gia tại các lớp được tổ chức theo quy định thì ngày
nay chúng ta có thể học mà không cần đến lớp. Chỉ cần với chiếc máy tính kết
nối mạng Internet, bất cứ ai cũng có thể thực hiện việc học ngay tại nhà hoặc tại
bất cứ nơi nào mình muốn. Điều này đã mở ra cơ hội cho những trẻ em khuyết
tật, những người không thể đến trường được học tập như bao người khác.
- Góp phần nâng cao năng lực của người dạy bằng cách cung cấp cho họ
những phương tiện làm việc hiện đại (mạng Internet, các loại từ điển điện tử, các
sách điện tử, thư điện tử,…); Góp phần đổi mới cách dạy và cách học, đổi mới
phương pháp dạy học, trao đổi thông tin về đề cương, bài giảng với các đồng
- SV có thể chủ động trong việc xây dựng lộ trình học tập của mình và có
thể mở rộng hoặc giới hạn mối quan tâm của mình.
- Internet là công cụ tuyệt vời trong việc giúp sinh viên thực hành khả
năng làm việc và nghiên cứu độc lập.
- GV có thể liên kết nhiều ngành, kiến thức, kỹ năng và thái độ trong một
bài giảng có sử dụng Internet;
- SV có thể làm việc theo nhóm, độc lập hay kết hợp với nhiều thành viên
bên ngoài lớp học, thành phố thậm chí quốc gia để có thể thực hiện việc học tập
của mình.
Như vậy, không thể phủ nhận được vai trò và tầm quan trọng của việc sử
dụng công nghệ thông tin trong GDĐH. Tuy nhiên, để sử dụng có hiệu quả, cần
tận dụng các thế mạnh và ưu điểm nổi bật của CNTT và tránh những hiệu ứng
21
ngược của nó. Trong tương lai, nhờ Internet chúng ta có thể ứng dụng Công
nghệ hội tụ đa phương tiện (Multimedia convergence technology) xây dựng trạm
học tập tương tác, lớp học ảo, xây dựng mạng trực tuyến (Training-on-line) huấn
luyện từ xa qua mạng máy tính.
1.4. Vai trò của Internet trong học tập đối với sinh viên
1.4.1. Giúp sinh viên tự học
Không nằm ngoài chủ trương “Đổi mới phương pháp dạy và học” của Bộ
GD-ĐT, các trường ĐH đang có nhiều thay đổi trong cách dạy và cách học.
Trong đó, SV phải chủ động tham gia vào hoạt động học tập của mình, GV chỉ
đóng vai trò là người hướng dẫn, định hướng cho SV. Điều này càng được thể
hiện rõ nét hơn trong các trường ĐH đào tạo theo hệ thống tín chỉ, giờ học trên
lớp của SV được giảm xuống tối đa, thay vào đó là tăng thời gian tự học, tự tìm
hiểu của SV. Do đó, nhu cầu sử dụng Internet phục vụ cho việc học tập của SV
ngày càng cao và đa dạng. Việc sử dụng Internet để phục vụ cho hoạt động học
tập ngày càng được nhiều người quan tâm nhiều hơn, nhất là đối với những
người bước vào những năm học cuối việc tự học cần nhất là việc tìm kiếm thông
tin và Internet là một công cụ rất hữu ích và có lợi.
phương tiện khác. Internet giúp xóa bỏ khoảng cách, người sử dụng chỉ cần ngồi
ở nhà cũng có thể học nhóm, trao đổi thông tin,tán gẫu với bạn bè ở những nơi
rất xa. Do đặc điểm của SV là ở trọ rất xa nhau nên điều kiện để gặp nhau
thường xuyên để trao đổi thông tin học tập hay cuộc sống cho nhau là rất khó vì
vậy Internet là một phương tiện hữu hiệu nhất.
1.4.5. Học qua mạng
Với sự phát triển của Internet, chưa bao giờ tiếp cận với việc học lại trở
nên dễ dàng như vậy. Hoạt động học tập ngày nay không nhất thiết phải diễn ra
trên giảng đường, trong lớp học,… Học tập ngày nay diễn ra mọi lúc, mọi nơi,
một trong số những hình thức học tập phổ biến hiện nay đó là: Học qua mạng.
Có rất nhiều các website và các diễn đàn dạy học qua mạng. Việc học qua mạng
giúp chúng ta tiết kiệm thời gian, công sức di chuyển, chúng ta có thể chủ động
23
chọn lựa thời gian thích hợp với bản thân để học, việc học qua mạng có thể tiến
hành ở mọi nơi với giá thành tương đối thấp.
1.5. Tính chất và đặc điểm chủ yếu của Internet trong học tập
1.5.1. Tính khó kiểm soát của thông tin trên Internet
Internet được ví như một thư viện khổng lồ của nhân loại. Song, không
giống như các tài liệu trong thư viện của các trường học đã được trải qua một
quá trình kiểm soát chặt chẽ, thông tin trên Internet được đăng tải từ nhiều
nguồn tài liệu khác nhau, rất nhiều trong số đó chưa được xác định độ chính xác
của thông tin. Chính vì vậy, những thông tin trên mạng Internet mang tính bất
định, nhiều chiều và khó kiểm soát. Do vậy, khi truy cập và sử dụng thông tin
trên Internet phục vụ cho việc học tập, người học cần tham khảo các trang web
đáng tin cậy và biết cách chọn lọc, kiểm chứng độ tin cậy của thông tin.
1.5.2. Tính tiện ích
Nhờ có Internet, việc khai thác, truyền tải, chia sẻ các thông tin trong học
tập có thể dễ dàng, nhanh chóng, tiết kiệm thời gian cho cả nhà quản lý, người
dạy cũng như người học. Thông tin được người học trao đổi với nhau qua nhiều
kênh khác nhau như: yahoo, mail, website, các trang xã hội như facebook…
như sau:
1.6.1. Xác định rõ mục tiêu
Để sử dụng hiệu quả Internet, người sử dụng cần phải xác định rõ mục
tiêu của mình: Vào mạng để làm gì? Điều này giúp giảm chi phí về thời gian và
tiền bạc khi ″lang thang″ trong biển Web. Chẳng hạn, trước khi tìm một thông
tin nào đó, cần phải biết chính xác mục đích tìm kiếm, nguồn gốc, một số đặc
điểm về nội dung muốn tìm kiếm… có như vậy, phạm vi tìm kiếm mới được thu
hẹp. Hoặc nếu sử dụng Interet để trao đổi thông tin hay học qua mạng, người sử
dụng phải xác định rõ mục tiêu của mình mới có thể định lượng được khoảng
thời gian cần thiết cũng như có thể định hướng được hoạt động của mình tập
trung vào mục tiêu đã xác định trước.
25