ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Khoa Tài Chính Doanh Nghiệp
Báo cáo thực tập tốt nghiệp:
Phòng ngừa rủi ro tỷ giá
cho các khoản thu – chi tại
công ty cổ phần hợp tác kinh
tế và xuất nhập khẩu Savimex
Giáo viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Ngọc Đònh
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thò Thanh Triều
Lớp : TCDN 7
Khoá : 27
Tp. Hồ chí minh, ngày 25 tháng 05 năm 2005.
LỜI CẢM ƠN
Bốn năm học trôi qua là bao vất vả và cả sự miệt mài đối với em
và quý thầy cô.
Và hôm nay em đang chuẩn bò những bước cuối cùng trước khi tốt
nghiệp…
Lời đầu tiên em xin gởi lời cảm ơn đến quý thầy cô trong trường
Đại học Kinh tế TPHCM, đặc biệt là các thầy cô trong Khoa Tài
Chính Doanh Nghiệp đã tạo điều kiện và dìu dắt em trong thời
gian học tập vừa qua.
Và TS. Nguyễn Ngọc Đònh, TS. Nguyễn Thò Liên Hoa là những
người thầy luôn theo dõi và giúp em chỉnh sửa cho đề tài của
mình. Em xin cảm ơn quý thầy cô rất nhiều.
Trong giai đoạn cuối này – giai đoạn cọ xát thực tế – nếu không
có sự giúp đỡ và chỉ dẫn của các cô chú trong Công ty Cổ Phần
Hợp Tác Kinh tế và Xuất Nhập Khẩu SAVIMEX thì có lẽ em
khó có thể hoàn thành chuyên đế tốt nghiệp của mình.
Cho phép em được gởi lời cảm ơn chân thành nhất đến Ban Giám
Chuyên đề tốt nghiệp 2
MỤC LỤC TÓM LƯC
SVTH: Nguyễn Thò Thanh Triều GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Đònh
Nhận xét của đơn vò thực tập
CHO CÁC KHOẢN THU VÀ CHI TẠI CÔNG
TY CỔ PHẦN SAVIMEX
KẾT LUẬN
SVTH: Nguyễn Thò Thanh Triều GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Đònh
Chuyên đề tốt nghiệp 4
MỤC LỤC
Lời tựa
PHẦN I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỶ GIÁ
VÀ RỦI RO TỶ GIÁ
I/ Khái niệm tỷ giá và rủi ro tỷ giá 1
1. Tỷ giá hối đoái 1
2. Rủi ro hối đoái 1
2.1 Lý luận chung 1
2.2 Rủi ro hối đoái 2
II/ Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá 3
III/ Các kỹ thuật dự báo tỷ giá 6
1. Mục đích của dự báo 6
2. Các phương pháp dự báo 8
3. Thực trạng áp dụng dự báo tỷ giá trong thời gian qua 10
IV/ Phòng ngừa rủi ro tỷ giá 12
1. Ý nghóa của việc phòng ngừa rủi ro tỷ giá 12
2. Lợi ích của việc phòng ngừa rủi ro tỷ giá 12
3. Các công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro tỷ giá 13
3.1. Phòng ngừa thông qua thò trường kỳ hạn 15
3.1.1. Nghiệp vụ kỳ hạn (Hợp đồng kỳ hạn) 15
3.1.2 Ưu , Nhược điểm 15
3.1.3 Nghiệp vụ ngoại hối kỳ hạn 15
3.1.4. Cơ chế thực hiện giao dòch 16
3.1.5. Thuận lợi của việc sử dụng hợp đồng ngoại hối kỳ hạn 17
3.2. Phòng ngừa trên thò trường giao sau 18
B/ TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CÔNG TY TRONG
NHỮNG NĂM TRỞ LẠI ĐÂY 37
1/ Phân tích sơ lược về tình hình tài chính công ty 41
1.1. Tỷ số thanh toán 41
1.1.1 Tỷ số thanh toán hiện hành 41
1.1.2 Tỷ số thanh toán nhanh 42
1.1.3 Tỷ số thanh toán tức thời 43
SVTH: Nguyễn Thò Thanh Triều GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Đònh
Chuyên đề tốt nghiệp 6
1.2 Tỷ số hoạt động 44
1.2.1 Số vòng quay khoản phải thu 44
1.2.2 Số vòng quay hàng tồn kho 44
1.2.3 Hiệu suất sử dụng TSCĐ 45
1.2.4 Hiệu suất sử dụng Tổng tài sản 45
1.2.5 Hiệu suất sử dụng vốn cổ phần 45
1.3 Tỷ số đòn bẩy 45
1.3.1 Tỷ số nợ /tài sản 45
1.3.2 Tỷ số nợ/vốn cổ phần 46
1.3.3 Khả năng thanh toán lãi vay 46
1.4 Tỷ số sinh lợi 47
1.4.1 Tỷ số sinh lợi/doanh thu 47
1.4.2 Tỷ suất sinh lợi/Tổng tài sản 48
1.4.3 Tỷ suất sinh lợi/vốn cổ phần 48
1.5 Tỷ số giá thò trường 48
1.5.1 Thu nhập trên một cổ phần 48
1.5.2 Tỷ lệ chi trả cổ tức 49
1.5.3 Tỷ số giá thò trường/thu nhập (P/E) 49
2. Các rủi ro công ty gặp phải trong vấn đề tài chính 50
2.1 Rủi ro lãi suất 51
2.2 Rủi ro tỷ giá 52
những hàng hoá và dòch vụ không có lợi thế so sánh. Lợi ích rõ ràng từ thương
mại quốc tế được thể hiện ở chỗ: người tiêu dùng mua được hàng hoá và dòch
vụ rẻ hơn, còn nhà sản xuất thì bán được nhiều hơn.
Trong tiến trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu, thương mại quốc tế
ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn khi Việt Nam đang từng bước gia nhập
vào các tổ chức thương mại thế giới. Điều đó bắt buộc rằng: nền tài chính quốc
gia phải nhanh chóng được tự do hoá. Quá trình này cần phải được thực hiện
nhanh chóng để hoà nhập vào thò trường tài chính thế giới. Đây quả là một
thách thức cho thò trường tài chính Việt Nam. Các doanh nghiệp Việt Nam hôm
nay đang đứng trước những thách thức mới và những cơ hội mới.
Thực tế cho thấy, những thò trường tài chính luôn liên kết chặt chẽ với
nhau không những trong phạm vi quốc gia mà trên cả phạm vi quốc tế, do đó
những công ty và những cá nhân tuy ở các quốc gia khác nhau nhưng luôn phải
đối mặt với những vấn đề trên thò trường tài chính là giống nhau. Quan hệ kinh
tế giữa các quốc gia làm phát sinh nhu cầu sử dụng và trao đổi các đồng tiền
của các quốc gia khác nhau. Tỷ lệ trao đổi giữa hai đồng tiền gọi là tỷ giá.
Những thay đổi của tỷ giá ảnh hưởng sâu sắc đến doanh thu, chi phí và lợi
nhuận của mỗi công ty và mỗi cá nhân. Điều này nói lên rằng: nghiên cứu tài
chính quốc tế là một vấn đề không thể thiếu trong nền kinh tế mở vì nó sẽ giúp
cho nhà quản trò lường trước những sự kiện quốc tế có ảnh hưởng đến họ và
nhanh chóng tận dụng những diễn biến có lợi, mặt khác đưa ra những giải pháp
phòng ngừa rủi ro nhằm tránh những tổn thất cho công ty.
Trong phạm vi đề tài, tôi sẽ đi sâu nghiên cứu về những rủi ro của hoạt
động thương mại quốc tế về mặt tài chính. Làm thế nào để phòng ngừa rủi ro
cho các khoản thu và khoản chi cho các doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh
quốc tế khi sự biến động của tỷ giá hối đoái ngày càng khó lường trước. Bởi thế
cho nên việc áp dụng các công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro tỷ giá là việc
rất đáng quan tâm và cần thiết khi Việt Nam gia nhập vào nền kinh tế toàn cầu
trong xu thế cạnh tranh và chòu rủi ro cao.
SVTH: Nguyễn Thò Thanh Triều GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Đònh
nhà đầu tư có thêm các công cụ phòng ngừa rủi ro để họ có thể yên tâm hoàn
toàn dành toàn bộ sức lực của mình cống hiến cho các hoạt động kinh doanh
mà không phải lo ngại những nguy cơ rủi ro tài chính như các biến động tăng
giá tiềm ẩn bất ngờ có thể ập xuống bất kỳ lúc nào trong thời gian qua.
Theo cá nhân tôi, việc tiếp tục nghiên cứu về các vấn đề có liên quan
đến thực trạng sử dụng và hướng phát triển các công cụ phái sinh này như thế
nào trên thò trường tài chính Việt Nam quả thật là rất có ý nghóa và rất thú vò do
bởi tính cấp thiết và không thể thiếu của nó trong một thế giới hội nhập tài
chính như hiện nay. Đây chính là lý do giúp tôi quyết đònh chọn đề tài này.
SVTH: Nguyễn Thò Thanh Triều GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Đònh
Chuyên đề tốt nghiệp 10
PHẦN I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỶ GIÁ
VÀ RỦI RO TỶ GIÁ
I/ KHÁI NIỆM TỶ GIÁ VÀ RỦI RO TỶ GIÁ
1. Tỷ giá hối đoái:
Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vò tiền tệ nước này được thể hiện
bằng một số đơn vò tiền tệ nước khác. Vì vậy có thể hiểu tỷ giá hối đoái là
thước đo sức mua của đồng tiền nước này so với sức mua của đồng tiền nước
khác tại một thò trường ứng với một thời điểm nhất đònh.
Tỷ giá hối đoái luôn thay đổi hàng ngày, hàng giờ. Sự biến động của nó kéo
theo những ảnh hưởng của nền kinh tế trong nước và hầu hết hoạt động đối
ngoại, đặc biệt là kinh doanh xuất nhập khẩu.
Nếu đồng bản tệ lên giá( tỷ giá giảm) thì hàng hoá, dòch vụ và tài sản
trong nước sẽ đắt lên so với nước ngoài, các nhà sản xuất, người tiêu dùng sẽ
có nhu cầu hàng hoá, dòch vụ của nước ngoài cao hơn dẫn đến nhập khẩu được
kích thích mạnh. Ngược lại, nếu đồng bản tệ giảm xuống (tỷ giá tăng) thì hàng
hoá , dòch vụ trong nước sẽ rẻ đi tương đối so với hàng hoá, dòch vụ nước ngoài
và trở thành có lợi thế hơn trong cạnh tranh quốc tế. Vì vậy, tỷ giá hối đoái trở
thành hình th biểu hiện giá cả tương đối của hàng hoá, dòch vụ trên thò trường
thế giới.
nên bất đònh. Dù với lý do nào đi nữa, với sự gia tăng biến động tỷ giá thì hệ
quả kéo theo đó là sự gia tăng tương ứng tầm rủi ro hối đoái.
2) Rủi ro chính trò:
Có thể đó là sự thay đổi ngoài dự kiến các quy đònh về thuế quan, hoặc
là một chính sách trưng thu hay tòch biên tài sản trong nước của người nước
ngoài nắm giữ. Có thể đó là chính phủ ở các nước có thể tự ý “thay đổi luật
chơi” và các chủ thể liên quan phải gánh chòu và không thể kháng cự.
3) Sự thiếu hoàn hảo của thò trường:
Nền kinh tế quốc tế ngày nay đã mang tính thống nhất rõ rệt hơn nhiều
so với trước đây, song vẫn còn những hàng rào chắn như: những luật hạn
chế, chi phí vận chuyển và giao dòch vượt trội, chính sách thuế phân biệt đối
xử. Do vậy thò trường thế giới vẫn chưa được thông thoáng hoàn hảo.
2.2Rủi ro hối đoái:
Rủi ro hối đoái có thể được đònh nghóa là rủi ro mà hoạt động kinh doanh
của một công ty sẽ bò tác động bởi những thay đổi trong tỷ giá.
SVTH: Nguyễn Thò Thanh Triều GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Đònh
Chuyên đề tốt nghiệp 12
Hay nói rõ hơn là sự không chắc chắn về giá trò của một khoản thu nhập hay
chi trả do sự biến động tỷ giá gây ra, có thể làm tổn thất đến giá trò dự kiến của
hợp đồng. Nói chung bất cứ hoạt động kinh doanh nào có liên quan đến tỷ giá
cũng đều chứa đựng nguy cơ rủi ro hối đoái.
Đối với nhà nhập khẩu rủi ro hối đoái xảy ra khi ngoại tệ mà nhà nhập khẩu
phải trả trong tương lai lên giá so với bản tệ.
Đối với nhà xuất khẩu rủi ro hối đoái xảy ra khi ngoại tệ mà nhà xuất khẩu sẽ
nhận trong tương lai giảm giá so với bản tệ.
Như vậy, các rủi ro trong giao dòch ngoại hối xuất phát từ tỷ giá hối đoái của
các loại tiền tệ khác nhau do tác động của kinh tế và chính trò của một đất
nước. Những biến động ngắn hạn là bình thường và tự chúng có thể đảo ngược
lại trong một giai đoạn ngắn. Tuy nhiên trong thời gian dài hơn, những thay đổi
lớn về giá trò trao đổi có thể xảy ra và có thể chỉ có biến động nhỏ về tỷ giá
thế ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái.
4. Kiểm soát của chính phủ: đây là nhân tố thứ tư có ảnh hưởng đến tỷ giá.
Chính phủ của nước ngoài có thể tác động đến tỷ giá qua nhiều cách khác
nhau như:
+ p đặt những rào cản về ngoại hối
+ p đặt những rào cản về ngoại thương
+ Can thiệp vào thò trường ngoại hối
+ Tác động đến những biến động vó mô khác như lạm phát, lãi suất và thu
nhập quốc dân
5. Kỳ vọng:
đây chúng ta đề cập đến kỳ vọng của thò trường vào tỷ giá tương lai.
Giống như các thò trường tài chính khác, thò trường ngoại hối phản ứng lại
với các thông tin trong tương lai có liên quan đến tỷ giá. Những giao dòch
trong các thò trường ngoại hối làm cho hoặc là dòng thương mại hoặc là
dòng tài chính lưu chuyển dễ dàng hơn. Các giao dòch ngoại hối có liên quan
đến thương mại nhìn chung ít nhạy cảm với các tin tức hơn. Các giao dòch tài
chính rất nhạy cảm với các tin tức bởi lẽ việc quyết đònh nắm giữ chứng
khoán đònh danh bằng một loại tiền cụ thể phụ thuộc vào những thay đổi dự
kiến trong giá trò đồng tiền đó. Khi mà những tin tức ảnh hưởng đến biến
động dự kiến của tiền tệ thì nó sẽ ảnh hưởng đến cung và cầu tiền. Vì những
giao dòch mang tính đầu cơ như thế nên tỷ giá có thể rất bất ổn.
Các nhân tố liên quan đến thương mại và các nhân tố liên quan đến tài
chính ở trên thường tác động lẫn nhau, vì vậy ảnh hưởng đồng thời của
chúng lên tỷ giá rất phức tạp. Phân tích hồi quy thường được sử dụng để
đánh giá ảnh hưởng đã qua của một hay nhiều yếu tố đối với đối tượng
nghiên cứu. Vì vậy do sự tác động khá phức tạp này nên việc dự đoán chính
xác sự biến động của tỷ giá không phải là điều dễ dàng và đôi khi nó còn
đi ngược lại với những dự đoán của chúng ta do các ảnh hưởng khác có thể
bù trừ các ảnh hưởng của một nhân tố nào đó.
SVTH: Nguyễn Thò Thanh Triều GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Đònh
nước
Cung ngoại
tệ
Chênh lệch lãi suất
Những giới hạn chu
chuyển vốn
Cầu chứng
khoán nước
ngoài của cư
dân trong nước.
Cầu của cư dân
nước ngoài về
chứng khoán
trong nước.
Cầu ngoại
tệ của cư
dân trong
nước
Cung ngoại
tệ
Tỷ giá hối đoái
giữa ngoại tệ và
nội tệ
Chuyên đề tốt nghiệp 15
III/ CÁC KỸ THUẬT DỰ BÁO TỶ GIÁ:
1. Mục đích của dự báo?
Đứng trên góc độ các công ty có hoạt động kinh doanh quốc tế và các
đònh chế tài chính cho thấy rõ ràng rằng hầu hết các hoạt động của các tổ
chức này đều có liên quan đến tỷ giá và chòu sự tác động của tỷ giá.
Trong đó có thể kể đến các hoạt động sau:
1.5Quyết đònh tài trợ dài hạn:
Cũng tương tự như các quyết đònh ngắn hạn, các công ty luôn
muốn vay các loại ngoại tệ có xu hướng giảm giá so với các đồng tiền
công ty đang thu vào trong thời gian vay. Do đó việc dự báo là hết sức
cần thiết.
1.6Đánh giá thu nhập:
Các công ty có hoạt động kinh doanh quốc tế khi lập báo cáo tài
chính thì bao giờ cũng chuyển các khoản thu nhập bằng ngoại tệ về đồng
bản tệ. Vì thế mà việc đồng ngoại tệ lúc này tăng giá so với nội tệ thì sẽ
phản ảnh không đúng thu nhập của công ty nếu tính bằng nội tệ.
Tóm lại, dự báo tỷ giá hối đoái một cách chính xác là một nhu cầu quan
trọng đối với các công ty và các nhà đầu tư.
Đứng trên góc độ quản lý vó mô:
Ngân hàng trung ương (NHTW) và chính phủ cần phải dự báo
những biến động trong tỷ giá để có những biện pháp can thiệp vào thò
trường ngoại hối hoặc là sử dụng những công cụ chính sách tài khoá để
tác động đến tỷ giá. Trên thế giới việc dự báo tỷ giá cũng giúp các chính
phủ đưa ra những dàn xếp toàn cầu nhằm mục đích quản lý tỷ giá tuân
theo những cân đối bên trong như các vấn đề công ăn việc làm…và cân
đối bên ngoài trên cán cân thanh toán. Hơn nữa, việc dự báo tỷ giá còn
giúp cho chính phủ đưa ra những chế độ quản lý tỷ giá thích hợp cho thời
kỳ sắp tới nhằm ngăn ngừa những cuộc khủng hoảng tài chính và thất
thoát vốn.
• Tác động trực tiếp của NHTW: thông qua việc mua bán đồng nội
tệ nhằm duy trì tỷ giá cố đònh hay ảnh hưởng làm cho tỷ giá thay
đổi đạt tới một mức nhất đònh theo mục tiêu đã đề ra. Ngoài ra,
NHTW thường phải sử dụng thêm ngiệp vụ thò trường mở để hấp
thụ lượng dư cung hay bổ sung phần thiếu hụt tiền tệ trong lưu
thông. Việc chính phủ quy đònh đối với các chủ thể có nguồn thu
ngoại tệ phải bán một lượng nhất đònh trong một thời hạn nhất
trường ở thời điểm sớm nhất có thể và duy trì một trạng thái đầu tư cho đến
khi có đủ các chứng cứ chứng minh xu hướng hiện tại đã thật sự bò đảo
ngược.
Phân tích kỹ thuật dựa trên quan điểm cho rằng sự biến động của giá cả là
tuân theo các xu hướng nhất đònh của thò trường (xét cho cùng thì có hai xu
hướng cơ bản là tăng và giảm) các xu hướng này hình thành và thay đổi dựa
trên sự biến đổi trong cách nhìn nhận của các nhà đầu tư về một loại ngoại
tệ nào đó trong những điều kiện kinh tế, chính trò, tiền tệ, và xu hướng tâm
lý khác nhau.
2.2 Phân tích cơ bản:
Phân tích cơ bản liên quan đến việc sử dụng các số liệu kinh tế vó mô
như : lạm phát, tăng trưởng GDP, thất nghiệp, lãi suất, thâm hụt ngân sách…
SVTH: Nguyễn Thò Thanh Triều GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Đònh
Chuyên đề tốt nghiệp 18
và số liệu kinh tế vi mô như : sản lượng sản xuất công nghiệp, thu nhập bình
quân, niềm tin tiêu dùng, kỳ vọng sản xuất, cung cầu sản phẩm…và có thể
cả những biến động chính trò đặc biệt như chiến tranh, khủng bố….để dự
đoán biến động tỷ giá. Nguyên tắc cơ bản trong phân tích cơ bản là so sánh
độ mạnh – yếu của các nhân tố kinh tế cơ bản của các đồng tiền với nhau,
để từ đó dự đoán đồng tiền nào sẽ tăng giá, đồng tiền nào sẽ giảm giá.
2.3 Dự báo dựa trên cơ sở thò trường:
Quá trình triển khai dự báo từ các chỉ số thò trường gọi là dự báo dựa trên cơ
sở thò trường.
Chúng ta có thể sử dụng cho cả tỷ giá giao ngay và tỷ giá kỳ hạn
Sử dụng tỷ giá giao ngay:
Dự báo theo cơ sở thò trường ở đây ý nói lên rằng : thò trường dự kiến
một đồng tiền nào đó sẽ tăng hay giảm giá trong tương lai gần, và chính
điều này gây áp lực lên các nhà đầu tư và họ sẽ nhanh chóng thực hiện các
vò thế mua hoặc bán ngoại tệ đó để tạo áp lực lên đồng tiền đó khiến nó
ngay lập tức tăng hay giảm giá như thò trường đã dự kiến. Như vậy giá trò
như thế có thể là do những đặc thù chính trò riêng biệt của từng quốc gia đã
tác động đến tỷ giá chứ không phải do chất lượng của các phương pháp dự
báo, vì vậy các công ty cần phải đưa thêm những cảm nhận của mình về đặc
thù quốc gia cùng với các phương pháp dự báo vào việc dự báo tỷ giá. Điều
này cũng thật dễ hiểu khi đã nói đến thò trường thì những diễn biến nằm
ngoài dự đoán của con người là chuyện hết sức bình thường, có lẽ chúng ta
đang nói đến kinh tế học hành vi.
3. Thực trạng áp dụng dự báo tỷ giá trong thời gian qua:
Ta biết rằng để dự báo tỷ giá ta sử dụng hàng loạt các phương pháp trên
từ đơn lẻ cho đến kết hợp, từ đơn giản cho đến phức tạp. Tuy nhiên việc dự
báo tỷ giá thật không hề đơn giản chút nào, đôi khi nó còn đi ngược với
những gì mà người ta đã dự báo.
Thật vậy, bằng chứng sinh động về những tình huống như thế này chính
là: cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á nổ ra 1997. Người ta dự báo tỷ giá
giao ngay (theo USD) một cách hợp lý cho tỷ giá giao ngay tương lai nhưng
các NHTW luôn can thiệp để duy trì sự ổn đònh tương đối trong giá trò bản tệ
của các quốc gia Đông Nam Á, đơn cử như Thái Lan liên tục giữ bath ở
mức 1$ = 25 bath. Hơn nữa, theo thuyết Ngang Giá lãi suất (IRP) thì tỷ giá
kỳ hạn (theo USD) của các đồng tiền các nước ĐNA đáng lý phải là một dự
báo chính xác bởi vì tỷ giá kỳ hạn phải chứa đựng một suất chiết khấu để
phản ánh chênh lệch lãi suất giữa các nước ĐNA và Mỹ. Tuy nhiên tất cả
các dự báo trên đều không xảy ra do NHTW đã can thiệp để giữ cho tỷ giá
kỳ hạn không phản ánh giá trò thật của chúng nhằm duy trì sự ổn đònh của tỷ
giá.
SVTH: Nguyễn Thò Thanh Triều GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Đònh
Chuyên đề tốt nghiệp 20
Việc sử dụng các nhân tố cơ bản có lẽ cũng không thể dự báo chính xác
trước khi cuộc khủng hoảng xảy ra. Lạm phát cao (do tình trạng nền kinh tế
bong bóng) → áp lực giảm giá trên đồng bản tệ (theo PPP) nhưng chính phủ
đã can thiệp để giữ vững giá trò của đồng bath (Thái lan).
những tham khảo chung của những nhà kinh doanh tiền tệ và kinh doanh
xuất nhập khẩu, họ hầu như chưa sử dụng kết quả dự báo để đầu cơ tiền tệ.
SVTH: Nguyễn Thò Thanh Triều GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Đònh
Chuyên đề tốt nghiệp 21
IV/ PHÒNG NGỪA RỦI RO TỶ GIÁ
1. Ý nghóa của việc phòng ngừa
Sự biến động tỷ giá đột ngột có ảnh hưởng quan trọng đối với doanh
số, giá cả và lợi nhuận của các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu. Biến động
tỷ giá đột ngột khiến cho giá trò tài sản và nguồn vốn tính theo đồng nội tệ
trở nên bất đònh. Rủi ro tỷ giá trở nên nổi bật hơn cả đối với hoạt động
ngoại thương và đầu tư nước ngoài bởi vì tỷ giá ngày càng trở nên bất đònh
với sự biến động liên tục. Bất cứ một sự kiện nổi bật nào trên thế giới về
kinh tế, chính trò, xung đột …cũng đủ để tỷ giá vọt lên hay rớt xuống mạnh
mẽ. Hàng tỷ USD được tạo ra hay mất đi mỗi ngày là kết quả của những lần
tiền tệ “ bay nhảy” như thế. Dù với lý do nào đi nữa, với sự gia tăng biến
động tỷ giá thì hệ quả kéo theo đó là sự gia tăng tương ứng tầm rủi ro hối
đoái.
Trên thò trường tài chính đã phát sinh những công cụ giúp cho các chủ
thể hữu quan đương đầu với những rủi ro trong kinh doanh quốc tế. Chẳng
hạn một số loại hợp đồng hối đoái ra đời cho phép các nhà kinh doanh xuất
nhập khẩu phòng vệ hoặc bảo hiểm trước một số rủi ro từ sự biến động tỷ
giá đột ngột.
Các công ty xuất nhập khẩu thường xuyên phải trực diện với độ nhạy
cảm đối với rủi ro tỷ giá bởi vì các khoản thanh toán bò trì hoãn khi chúng
được đònh danh bằng ngoại tệ. Ngoài ra các khoản đầu tư tài chính quốc tế,
các nhà đầu tư nhận tiền lãi, cổ tức… ở nhiều thời điểm với nhiều loại ngoại
tệ khác nhau cũng gặp rủi ro tương tự. Tất cả độ nhạy cảm đối với rủi ro tỷ
giá có thể được phòng ngừa dưới nhiều hình thức khác nhau.
2. Lợi ích của việc phòng ngừa rủi ro tỷ giá
• Dự đoán tình hình: Tại sao người ta lại phải thoả thuận từ ngày hôm
một thế giới hội nhập về kinh tế quốc tế và vấn đề tài chính quốc tế
đang là vấn đề toàn cầu buộc các nhà chủ thể khi tham gia trên các
thò trường này phải nắm rõ và thành thạo những nghiệp vụ mới có
tính chất phức tạp và tinh vi để chống lại những rủi ro có thể xảy ra.
Ngoài ra, phòng ngừa rủi ro trên thò trường kỳ hạn sẽ làm giảm thuế
nếu thuế suất có khuynh hướng tăng lên, làm giảm đi chi phí phá sản. Việc
sử dụng thò trường kỳ hạn cũng là một hình thức quảng bá tên tuổi công ty
và tạo ra lợi ích. Những lợi ích này sẽ tích góp lại theo thời gian bởi vì việc
phòng ngừa rủi ro làm giảm đi tính bất ổn của các khoản phải thu và phải
trả.
3. Các công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro tỷ giá
Thò trường các dòch vụ tài chính Việt Nam trong thời gian qua hầu
như hoàn toàn thiếu vắng một dạng dòch cụ cao cấp là các sản phẩm phái
sinh. Việc phát triển các dòch vụ tài chính phái sinh nhằm mục đích chính là
giúp cho các nhà đầu tư có thêm các công cụ phòng ngừa rủi ro để họ có thể
yên tâm hoàn toàn dành toàn bộ sức lực của mình cống hiến cho các hoạt
động kinh doanh mà không phải lo ngại ngững nguy cơ rủi ro tài chính như
các biến động tăng giá tiềm ẩn bất ngờ có thể ập xuống bất kỳ lúc nào.
SVTH: Nguyễn Thò Thanh Triều GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Đònh
Chuyên đề tốt nghiệp 23
Thực tế mà nói, trên thò trường hiện nay cũng tồn tại một số các công
cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá như các giao dòch kỳ hạn (Forward, hoán đổi
(Swap), các quyền chọn tiền tệ (currency option). Nhưng hầu hết các công
cụ phòng ngừa chỉ tồn tại cho có và hầu như cũng rất ít các doanh nghiệp sử
dụng các công cụ trên. Nhưng đáng lo ngại hơn cả là có xu hướng một số
các ngân hàng thương mại (NHTM) không quan tâm lắm đến việc triển khai
các giao dòch này. Phải chăng chúng chưa cần thiết hay là bản thân các
NHTM cũng chưa tinh thông trong việc sử dụng các sản phẩm tài chính cao
cấp này?
Hay có lẽ là do các công cụ này vẫn còn quá nhiều khiếm khuyết do có