Tranh chấp lao động tại công ty Taekwang Vina. Thực trạng và giải pháp - Pdf 29

QUYỀN CON NGƯỜI TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM:
THAM CHIẾU TỪ QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT VÀ HOÀNG VIỆT LUẬT LỆ
Đỗ Danh Huấn
*
Cho đến nay, những văn bản có giá trị pháp luật ra đời dưới thời Lý, Trần,
trước khi có các bộ Quốc triều hình luật (thời Hậu Lê) và Hoàng Việt luật lệ (thời
Nguyễn) đều không còn
1
. Do vậy, muốn tìm hiểu về thiết chế nhà nước, chế độ
chính trị, các hoạt động lập pháp và hành pháp trong lịch sử Việt Nam, chúng ta chỉ
có thể dựa vào hai bộ luật vừa nêu là: Quốc triều hình luật (còn gọi là Bộ luật Hồng
Đức) và Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là Bộ luật Gia Long) và một số nguồn tư liệu bổ
trợ khác. Hai bộ luật này được xem là nguồn tư liệu rất có giá trị, giúp ích cho việc
nhận diện bộ máy nhà nước quân chủ trung ương tập quyền; tìm hiểu các mối liên
hệ giữa nhà nước và nhân dân; về văn hóa và phong tục tập quán truyền thống ở
Việt Nam… Đặc biệt hơn, nó còn giúp ích rất nhiều cho việc tìm hiểu sự ra đời của
lịch sử luật pháp Việt Nam.
Bộ Quốc triều hình luật có 6 quyển, 13 chương
2
và 722 điều. Bộ Hoàng Việt
luật lệ có 22 quyển, 398 điều, 34 chương. Bàn về nội dung các điều luật và hình thức
của hai bộ luật vừa nêu, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Quốc triều hình luật và Hoàng
Việt luật lệ chịu ảnh hưởng mạnh từ luật pháp Trung Hoa cổ đại, đặc biệt là luật nhà
Minh và nhà Thanh, thậm chí còn xa hơn nữa là luật của nhà Tống và nhà Đường
3
.
Bỏ qua những phân tích, so sánh hay sự “vay mượn” từ luật pháp Trung Hoa
trong hai bộ luật trên, bài viết này thông qua việc tìm hiểu những quy định trong các
chương Điền sản và Hộ hôn của Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ, qua đó
*
Thạc sỹ, Viện Sử học - Viện Khoa học xã hội Việt Nam

vụ cho mọi đối tượng, cho dù đó là nam hay nữ, con đẻ hay con nuôi, người sang kẻ
hèn, người tàn phế hay người lành lặn… Tinh thần chung của luật pháp dưới triều
Lê có nêu: “Pháp luật rất là giản dị, thi hành cho cả kẻ sang và kẻ hèn […]. Pháp
lịnh rõ ràng, người sang, người hèn cùng một lẽ, luật đều rõ rệt, chủ trước chủ sau
phải tuân theo”
5
.
Trước hết, về quyền được nhận đất đai canh tác, nhà Lê đã quy định con trai
16 tuổi bắt đầu có quyền được nhận ruộng đất: “Con trai mười sáu tuổi, là lệ về niên
hạn được nhận ruộng đất, cho đời đời được phép theo đấy […]. Nếu ai cưỡng nhận
hay cưỡng tranh, thì sẽ bị tội trượng tám chục; quá niên hạn thì mất ruộng đất”
6
.
Pháp luật cũng quy định rằng, bên cạnh việc công dân có quyền sở hữu
ruộng đất, thì nhà nước cho phép họ có quyền chuyển ruộng đất thành một loại hàng
4
Khái niệm Quyền con người theo Đặng Dũng Chí: “Quyền con người thực chất nhằm giải quyết mối quan
hệ giữa cá nhân và nhà nước, thể hiện ở việc nhà nước ghi nhận bằng pháp luật các nhu cầu, lợi ích của các
bộ phận người trong xã hội và trách nhiệm của nhà nước trong việc bảo vệ người dân khỏi sự vi phạm tùy
tiện đến quyền tự do và lợi ích của cá nhân”, xem Đặng Dũng Chí: Những giá trị quyền con người trong bộ
Luật hình triều Lê, in trong Quyền con người ở Trung Quốc và Việt Nam. Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2002, tr. 178. Còn theo Wikipedia thì: “Nhân quyền, hay quyền con người (tiếng Anh: Human rights) là
những quyền tự nhiên của con người và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào”.
5
Hồng Đức thiện chính thư (Nguyễn Sĩ Giác phiên dịch). Nam Hà ấn quán, Sài Gòn, 1959, tr. 9-11; tr. 19-21.
6
Hồng Đức thiện chính thư, sđd, tr. 25.
hóa - người có ruộng đất được bán đổi: “Từ xưa tới nay trước sau như một […],
ruộng dù bán cầm, mà tiền chưa trả cho người chủ cầm, thì theo phép người cầm
trước này, vẫn được cày ruộng đó, chứ chủ sau không được cưỡng tranh. Vậy phải

triều Lê đã đem đến một sự công bằng cho những người thừa kế tài sản, mà cụ thể
là người con nuôi trong gia đình. Thực chất mà nói, người con nuôi cũng là một
7
Hồng Đức thiện chính thư, sđd, tr. 19-21.
8
Cổ luật Việt Nam Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ (Phiên dịch: Nguyễn Ngọc Nhuận, Nguyễn Tá
Nhí và Tổ phiên dịch Viện Sử học; Hiệu chỉnh: Nguyễn Hữu Tâm). Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2009, tr. 82.
thành viên bình đẳng trong gia đình, giữa họ chỉ khác nhau một điều là không có
liên hệ huyết thống.
Pháp luật cũng phân xử công minh tài sản của vợ hoặc chồng, khi một trong
hai người không còn sống với nhau (có thể đã mất hoặc chia tay nhau). Điều 1 và 2
của luật nhà Lê có ghi: “Chồng cùng vợ trước có con, vợ sau không có con, hay vợ
cùng chồng trước có con, chồng sau không có con, mà chồng chết trước, không có
chúc thư, thì điền sản thuộc về con vợ trước, hay con chồng trước; nếu vợ sau, chồng
sau không chia đúng phép thì bị xử phạt 50 roi, biếm một tư”
9
(Điều 1). “Vợ chồng
không có con, hoặc ai chết trước, không có chúc thư, mà điền sản chia về chồng hay
vợ, cùng là để về việc tế tự không đúng phép, thì xử phạt 50 roi, biếm một tư. Người
trong họ không được giữ phần điền sản về việc tế tự ấy nữa”
10
(Điều 2).
Xã hội Việt Nam cổ truyền được xem là “mô hình” của xã hội Trung Hoa,
với những ảnh hưởng về hệ tư tưởng, thiết chế và những tác động qua lại về văn
hóa. Trong dòng chảy lan truyền của học thuyết Nho giáo, địa vị của người phụ nữ
trong xã hội không được coi trọng, điều đó đương nhiên càng quy định và không
thừa nhận họ có quyền được thừa kế bất kỳ tài sản nào của gia đình, gia tộc để lại.
Nhưng thực tế không phải như vậy, luật pháp Việt Nam cổ truyền đã đặt địa vị
người phụ nữ ngang bằng với bất kỳ các đối tượng trong xã hội chịu sự điều chỉnh
của luật pháp, họ đã được pháp luật cho phép hưởng thừa kế tài sản ruộng đất như

.
Trong một nghiên cứu khác của tác giả Kim Jong Ouk về tình sở hữu ruộng đất ở
làng Mễ Trì (Từ Liêm-Hà Nội) trước năm 1945 cho thấy: Chủ sở hữu là phụ nữ ở
làng Mễ Trì có 198 người, chiếm 85 mẫu, 9 sào (60,5%), trong đó số phụ nữ ở nơi
khác đến Mễ Trì xâm canh và cũng được thừa nhận quyền sở hữu là 14 người,
chiếm 48 mẫu (33,8%)
14
.
Người tàn tật là nhóm người chịu nhiều thiệt thòi trong mọi xã hội, có khi bị
cộng đồng xem nhẹ, vì họ không có đóng góp nhiều cho việc sản xuất ra của cải vật
chất và tham gia vào quá trình thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Đối với lớp người
này, nhà nước Lê, Nguyễn đã cho thấy tính nhân văn và bản chất thân dân của mình.
Trong hai bộ luật đang bàn, đã có những điều khoản lên tiếng bảo vệ quyền lợi của họ.
Trong luật nhà Lê quy định: “Người cha lấy vợ trước sinh được một con trai, phần
hương hỏa đã giao cho giữ, nhưng người con trai ấy chỉ sinh được một con gái, mà
cha có vợ lẽ hay nàng hầu lại sinh được một trai nhưng lại bị cố tật, người con cố tật
ấy sinh được cháu trai, thì ruộng đất hương hỏa phải giao cho người cháu trai con kẻ
cố tật”
15
. Đến bộ luật của nhà Nguyễn cũng thừa kế và phát huy tinh thần nhân văn đó
và được thể hiện như sau: “Phàm trai gái lúc mới đính hôn, nếu như gặp phải trương
hợp tàn phế, tật bệnh, già nua, trẻ thơ, con vợ bé, con riêng (đồng tông), con nuôi
(khác họ), hai nhà cần phải xem xét cho kỹ lưỡng, nếu phát hiện ra thì tùy theo ý
nguyện của từng bên (nếu không đồng ý thì thôi, nếu ưng ý thì cũng xếp đặt mối lái),
viết giấy hôn thú rồi tổ chức hỏi cưới theo đúng lễ nghi”
16
.
13
Xem thêm Nguyễn Cảnh Minh-Đào Tố Uyên: Vài nét về tình hình phân bố ruộng đất ở một ấp khai hoang
trong thế kỷ XIX - Ấp Thủ Trung (Kim Sơn), Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 2-1993, tr. 51-52.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status