PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Nhân loại đang bước vào thế kỉ XXI, với sự bùng nổ thông tin và sự phát
triển mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực nhờ công nghệ thông tin. Xã hội đang tiến
dần đến “xã hội học tập”, con người vừa là mục đích vừa là mục tiêu - động lực
của sự phát triển tế - xã hội. Chính vì vậy mà đòi hỏi con người phải phát triển toàn
diện - hài hòa - cân đối, đủ cả đức và tài. Đặc biệt trong giáo dục, thế giới đã và
đang quan tâm đến giáo dục - lấy giáo dục là quốc sách hàng đầu và làm nền tảng
của đất nước. Mỗi một quốc gia đều có những khía cạnh khác nhau, nhưng xu thế
chung của thế giới là đào tạo con người có tri thức - kỹ năng sống, hay chính con
người toàn diện. Để con người có thể tồn tại – phát triển và thích ứng với mọi tình
huống trong cuộc sống.
Nền giáo dục của Việt Nam cũng thực hiện việc nâng cao nền giáo dục toàn
diện cho thế hệ trẻ, đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế. Trong quá trình đổi mới
giáo dục ở Việt Nam, đã đề cập tới nhiệm vụ của giáo dục là phát triển con người
toàn diện về mọi mặt. Đặc biệt giáo dục tiểu học - bậc học nhỏ nhất và cũng là bậc
học đầu tiên trong cuộc đời mỗi con người , đã chú trọng đến việc: giúp cho học
sinh hình thành những cơ sở ban đầu sự phát triển đúng đắn- lâu dài về đạo đức -
trí tuệ - thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học các bậc tiếp theo.
Trong đó nhấn mạnh vào kỹ năng: tự tin - bạo dạn thể hiện mình trước học sinh
tiểu học.
Quyết định số 2994/QĐ - BGD ĐT ngày 20-07-2010 của Bộ GD ĐT đã ban
hành và triển khai cho giáo viên được tập huấn giáo dục kỹ năng sống trong một số
môn học, và hoạt động giáo dục của các cấp học, đặc biệt chú ý đến bậc tiểu học.
Là bậc học nèn tảng, cần cung cấp - rèn luyên - hình thành cho các em những kỹ
năng cơ bản về đạo đức- tiếng việt - khoa học và tự nhiên xã hội.
1
Kỹ năng sống được hiểu chính là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người,
khả năng ứng xử với người khác - với xã hội và khả năng ứng phó tích cực với các
tình huống trong cuộc sống.
Học sinh Việt Nam nói chung từ các cấp bậc: mẫu giáo - tiểu học - trung học
rụt rè - e ngại - không muốn giơ tay phát biểu, lúng túng và thiếu tự tin khi được
gọi lên trả lời câu hỏi, nói lắp bắp không lưu loát. Vì vậy mà dẫn đến tình trạng
quên không nhớ mình nên nói những gì. Các em thường ngại phát biểu trước thầy
cô giáo lạ. Khi nhà trường tổ chức một số hoạt động như: văn nghệ - thể thao -
hoạt động ngoài giờ lên lớp, thì số học sinh tích cực – tự nguyện tham gia là rất ít.
Đa phần các em các em không dám tham gia hoặc ngại đứng trước nơi đông người
“bạn bè – thầy cô”. Vậy tại sao học sinh tiểu học nói chung và đặc biệt là học sinh
lớp 1 lại không thể tự tin bạo dạn thể hiện mình như vậy? Phải chăng là do các em
chưa được chuẩn bị tâm lý và điều kiện để hình thành và sẵn sàng thực hiện kỹ
năng sống cơ bản đó.
Các thói quen và kỹ năng sống của mỗi con người được rèn luyện và hình
thành trong thời gian dài, và cần có các biện pháp cụ thể để giúp trẻ hình thành kỹ
năng đó qua cá môn học. Trò chơi phân vai là một trong những phương pháp giáo
dục của môn đạo đức cho học sinh tiểu học. Đó là phương pháp đã có trong
chương trình giáo dục của bộ, yêu cầu giáo viên cần xác định được tên trò chơi. Sử
dụng các câu chuyện về đạo đức trong sách đạo đức hoặc sách kể chuyện để làm
nội dung và phân vai cho các em ứng vơi các nhân vật trong truyện. Mỗi một trò
chơi ứng với một câu chuyện riêng về đạo đức, để các em có cơ hội tiếp xúc với
các tình huống xay ra trong cuộc sống và cách xử lý tình huống đó.
Trò chơi phân vai là một phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành “làm
thử” một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định. Đây là phương
pháp giảng dạy nhằm giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập
trung vào một sự kiện cụ thể mà em quan sát được. Việc diễn không phải là phần
3
chính của phương pháp này và hơn thế điều quan trọng nhất là sự thảo luận diễn ra
sau phần diễn ấy.
Trò chơi phân vai là một phương pháp đạo đức mang lại rất nhiều hiệu quả
trong quá trình hình thành kỹ năng của các em. Nhưng trên thực tế các trường tiểu
học ở Việt Nam thực hiện không đồng đều. Các trường tiểu học ở miền núi – vùng
sâu vùng xa do nghiệp vụ của giáo viên còn kém, cơ sở vật chất thiếu thốn không
nước cũng khác nhau. VÌ vậy mà trò chơi phân vai cho trẻ tiểu học trong cả nước,
đặc biệt là trẻ lớp 1 chưa được tổ chức thường xuyên và chưa có hiệu quả cao trong
việc hình thành kỹ năng sống cho các em, quan trọng nhất là kỹ năng tự tin – bạo
dạn trước đám đông.
Việc vận dụng trò chơi phân vai cho hoc sinh lớp 1 để giúp các em hình
thành kỹ năng tự tin – bạo dạn trước đám đông là một vấn đề vô cùng quan trọng.
Các em là thế hệ tương lai của đất nước sau này, và cũng là chủ nhân tương lai
của đất nước. Ngay từ khi còn bé các em phải được giáo dục đào tạo cẩn thận, vì
nếu các em không được giáo dục tốt thì sẽ ảnh hưởng tới tương lai của các em
một cách sâu sắc, và sẽ gây hậu quả không tốt về các hành vi đạo đức trong xã
hội – cộng đồng. Để giúp các em hình thành được các kỹ năng sống cơ bản – đặc
biệt là kỹ năng tự tin, bạo dạn trước đám đông, cần phải có thời gian và nó là cả
một quá trình rèn luyện thường xuyên – tích cực. Chúng ta phải uốn nắn – rèn
luyện ngay từ đầu, từ lớp học đầu tiên và bậc học đầu tiên trong quá trình học tập
của con người. Học tập và rèn luyện là quá trình liên tục diễn ra trong cuộc đời
mỗ chúng ta.
Kỹ năng tự tin bạo dạn trước đám đông giúp đỡ các em học sinh lớp 1 thích
nghi với học đường tiểu học, tiếp xúc dần với sách vở - tiếp nhận tri thức một cách
thoải mái tích cực. Để thực hiện được nhiệm vụ đó cần có những phương pháp
hoạt động thực tiễn để giúp trẻ hoàn thiện mình, cụ thể là: thông qua trò chơi phân
5
vai ở học sinh lớp 1 để giải quyết thực trạng chung của học sinh Việt Nam nói
chung và bậc tiều học nói riêng.
Để giải quyết vấn đề này, chúng tôi những người giáo viên tiểu học tương
lai đã mạnh dạn chọn đề tài: “Vận dụng phương pháp trò chơi phân vai cho học
sinh lớp 1 trường tiểu học Hà Lộc II thị xã Phú Thọ”, nhằm hình thành kỹ năng
tự tin – bạo dạn trước đám đông” làm đề tài nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu.
Vận dụng phương pháp trò chơi phân vai nhằm hình thành kỹ năng tự tin –
bạo dạn trước đám đông cho học sinh lớp 1.
7.2.2. Phương pháp quan sát và thử nghiệm: Áp dụng kết quả nghiên cứu
vào việc dạy để đánh giá – điều chỉnh và rút ra kinh nghiệm.
7.2.3. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Kết quả kiểm tra sau
khi kết thúc quá trình tổ chức trò chơi phân vai.
7.2.4. Phương pháp thống kê toán học: Thống kê các số liêụ thu thập được
trong quá trình nghiên cứu thực nghiệm.
7.2.5. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia (khi cần thiết)
7
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU.
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI.
1.1. Một số vấn đề về phương pháp trò chơi phân vai.
1.1.1.Khái niệm phương pháp trò chơi phân vai.
1.1.1.1. Khái niệm phương pháp.
Theo từ điển Tiếng Việt ( do trung tâm từ điển học xuất bản năm 2007 ) định
nghĩa: “ Phương pháp là cách thức nghiên cứu, nhìn nhận các hiện tượng của tự
nhiên và đời sống xã hội ”.
8
Phương tức là “ hướng ”, pháp là “ phép ”. Nghĩa là lề lối và cách thức phải
theo để tiến hành công tác với kết quả cao nhất.
Theo G.henghen (1770 – 1883) thì :“ Phương pháp là hình thức vận động của
sự vật ”. Ta có thẻ hiểu mỗi sự vật đều có bản chất và được thể hiện qua hình thức
nhất định. Hình thức không bao giờ tồn tại tách rời nội dung, chúng có phương
pháp vận động của riêng mình.
Vận dụng quan điểm của G.henghen vào dạy học : Mỗi nội dung dạy học có một
phương pháp đặc thù, mang lại hiệu quả nhất mà không thể thay thế bằng phương
pháp khác.
C.Mác(1818 – 1883) : “ Phương pháp có tính độc lập tương đối với nội dung
sự vật ”. Theo ông thì ta có thể tách một cách tương đối giữa nôi dung dạy học và
phương pháp dạy học. Trình độ và hiệu quả dạy học được quy định bởi phương
pháp và phương tiện dạy học.
nhà Tâm lý học Xô Viết trước đây đã cho rằng :“ Trò chơi là một nghệ thuật xuất
hiện sau lao động và là một hiện tượng mang tính chất xã hội, là phương tiện
chuẩn bị cho đứa trẻ làm quen với xã hội của người lớn ”.
Theo N.K.Crupxkalia trong cuốn ‘‘ Trò chơi của trẻ mẫu giáo, Tập 6 – Tuyển
tập sư phạm toàn tập’’. Bà đã chỉ ra :“ Trò chơi là phương thức nhận biết thế giới,
là con đường dẫn dắt trẻ đi tìm chân lý ”.
Các công trình nghiên cứu của A.N.Leonchep, A.P.Uxova…. thì : “ Trò chơi
là sản phẩm sáng tạo của cá nhân thuần tuư dưới ảnh hưởng trực tiếp của môi
trường xung quanh ”.
10
Trong cuốn Tâm lý học trẻ em M.1972 . Theo Đ.V.Enconhin thì : “Trò chơi
gắn liền với sự phát triển của xã hội loài ngwowifvaf sự thay đổi vị trí của đứa trẻ
trong các mối quan hệ xã hội ”.
Theo cuốn Tuyển tập sư phạm toàn tập, Tập 6: K.Đ.Usinxki, nhà Giáo dục
người Nga ông cho rằng: “Trò chơi là một hoạt động không nhằm tạo ra sản phẩm
(kết quả vật chất) mà chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu được chơi của đứa trẻ (kết quả
tinh thần)”.
Trong cuốn “Giáo dục học trẻ em, Tập III, NXB ĐHQG Hà Nội – 1997’’ thì :
“Trò chơi là một hoạt động độc lập – tự do và tự nguyện của đứa trẻ”.
Trò chơi của trẻ không phải là thật mà là giả vờ (giả vờ làm một cái gì đó). Nhưng
sự giả vờ ấy của trẻ lại mang tính chất thật.
Theo cách hiểu chung của mọi người thì: “Trò chơi là một hoạt động thường
dùng để giải trí và đôi khi cũng được sử dụng như một công cụ giáo dục”. Trò chơi
còn là một hình thức dưỡng sinh của người lớn tuổi, giúp họ thư giãn và vui vẻ…
Trong Giáo dục thì: “Trò chơi là một phương pháp giáo dục thực hành hiệu
nghiệm nhất đối với việc hình thành nhân cách – trí dục của trẻ em”.
Tóm lại: “Trò chơi là một hoạt động tự nhiên và cần thiết nhằm thỏa mãn
những nhu cầu giải trí đa dạng của con người”.
1.1.1.3. Khái niệm trò chơi phân vai.
Trong cuốn Từ diển Tiếng Việt của Trung tâm từ điển học xuất bản năm
12
+ Nhóm 2 : Gồm các trò chơi vân động, nhằm phát triển và tập luyện vận
động cho trẻ.
+ Nhóm 3 : Gồm các trò chơi học tập nhằm phát triển trí tuệ cho trẻ.
- Phân loại trò chơi theo chức năng, bản năng gồm 2 nhón :
+ Nhóm 1 : Gồm các trò chơi thực hành : trò chơi nhận cảm - trò chơi trí tuệ
- trò chơi vận động.
+ Nhóm 2 : Gồm các trò chơi theo bản năng : Trò chơi săn bắn - trò chơi
chiến tranh - trò chơi chăm sóc - trò chơi gia đình và xã hội - trò chơi bắt chước.
- Phân loại trò chơi theo nguồn gốc, cấu trúc chơi gồm 3 nhóm :
+ Nhóm 1 : Gồm các trò chơi luyện tập dành cho trẻ dưới 2 tuổi.
+ Nhóm 2 : Gồm các trò chơi kí hiệu dành cho trẻ từ 2 đến 4 tuổi .
+ Nhóm 3 : Gồm các trò chơi có quy tắc (có luật) dành cho trẻ từ 4, 7. 12
tuổi, chủ yếu là 7 đến 12 tuổi.
- Phân loại trò chơi của nền giáo dục học Liên Xô cũ gồm 2 nhóm :
+ Nhóm 1 : Nhóm trò chơi sáng tạo gồm :
- Trò chơi phân vai theo chủ đề
- Trò chơi lắp ghép - xây dựng
- Trò chơi đóng kịch
+ Nhóm 2 : nhóm trò chơi có luật gồm :
- Trò chơi học tập.
- Trò chơi vận động.
- Phân loại trò chơi ở Việt Nam chia là 3 giai đoạn :
+ Giai đoạn 1 : Những năm 60 gồm 2 nhóm :
Nhóm 1 : Trò chơi phản ánh sinh hoạt
13
Nhóm 2 : trò chơi vận động gồm :
Trò chơi tự do với dụng cụ thể dục (gậy, vòng) gắn với thao tác
chơi.
Trò chơi có luật : Lấy từ các trò chơi dân gian và bắt chước 1 số
- Tham gia các trò chơi còn giúp trẻ tăng cường sức khỏe, vì trò chơi thường
được tổ chức ngoài trời, thiên nhiên thoáng đãng, không khí trong lành, kết hợp sự
vận động cơ bắp như chạy nhảy, kéo đẩy, mang vác…
- Đồng thời khi trẻ chơi sẽ được tập luyện giác quan với những trò chơi :
phản ứng nhanh, ghi nhớ, nhanh mắt, thính tai, lẹ tay, quan sát, tập trung tư
tưởng…(bịt mắt bắt dê).
- Khi chơi trò chơi còn nhằm luyện ý chí và ý thức cho trẻ : hăng say tranh
đua giành chiến thắng, tự chủ, không rụt rè, sợ hãi, chấp hành kỉ luật chơi, kiên
nhẫn trong khi chơi, biết sáng tạo và linh động.
- Không chỉ vậy trò chơi còn nhằm luyện tính tình cho các em : các em trở
nên vui vẻ, sôi động, rèn luyện tính đồng đội, biết gắn bó - đoàn kết với nhau để
giành chiến thắng, biết phát triển năng khiếu tốt, sự căn đảm, gan dạ, lòng vị tha…
- Trò chơi giáo dục trẻ biết ý thức công dân, những trẻ biết tự giác tôn trọng
luật chơi khi lớn lên cũng sẽ tự giác giữ đúng pháp luật của quốc gia và nếu các em
không tự giác thì chúng ta phải uốn nắn dần dần.
- Trẻ có thể thay đổi trạng thái tâm lý khi chơi trò chơi chẳng hạn như những
trẻ mắc bệnh trầm cảm căng thẳng suy nhược thần kinh…
15
- Trong phương pháp giáo dục hiện đại trò chơi không những mang giá trị xã
hội mà còn mang khả năng truyền tải một lượng kiến thức của một nội dung bằng
các hoạt động của trẻ.
- Nước Bỉ đã đứng đầu về tiến bộ sư phạm, thấy rõ sự quan trọng, lợi ích của
trò chơi trong giáo dục và đã đưa môn trò chơi vào chương trình giáo dục quốc gia.
- Kunkel nhà tâm lý học người Anh nói: ‘‘Trò chơi là một phương tiện tái
tạo lại tâm lý ổn định cho một số em khó tính, dở người, vô trật tự… vì trong lúc
chơi trẻ em không thu mình lại, chúng sẽ vui vẻ hẳn lên thích hoạt động hơn. Khi
bị khép vào luật chơi trẻ sẽ dần dần có trật tự kỉ luật’’.
- Thông qua trò chơi các nhà giáo dục, các anh chị phụ trách sẽ hiểu rõ hơn
về tính tình của từng trẻ : chậm chạp, mạnh bạo, nhút nhát, ích kỉ, vị tha, nóng nảy,
điềm đạm, thông minh, khéo léo, vụng về, ngốc nghếch…
+ Trò chơi phân vai ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự hình thành tính chủ định
của quá trình tâm lý. Trong khi chơi trẻ bắt đầu hình thành chú ý và có chủ định,
ghi nhớ có chủ định. Trẻ tập trung chú ý hơn và ghi nhớ được nhiều hơn.
+Trò chơi phân vai còn giúp trẻ chuyển từ tư duy bình diện bên ngoài (tư
duy trực quan, hành động) và bình diện bên trong (tư duy trực quan, hình tượng).
+ Ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ. Khi chơi đòi hỏi
mỗi đứa trẻ tham gia phải có 1 trình độ giao tiếp bằng ngôn ngữ nhất định. Để diễn
đạt nguyện vọng, ý kiến của mình. Vì vậy, trẻ phải phát triển ngôn ngữ rõ ràng,
mạch lạc. trò chơi phân vai là điều kiên kích thích phát triển ngôn ngữ nhanh
chóng.
+ Trò chơi phân vai còn có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển trí tưởng
tượng. Trẻ sẽ học thay thế các đối tượng này bằng các đối tượng khác. Năng lực
này là cơ sở của sự phát triển óc tưởng tượng. Trong trò chơi phân vai, trẻ biết hiểu
ngầm các đối tượng và các hành động với chúng. Biết xây dượng những tình
17
huống trong trí tưởng tượng của mình. Trong trường hợp như thế trò chơi có thể
diễn ra ở bên trong. Trí tưởng tượng của trẻ càng phong phú thì trò chơi siễn ra
càng sôi nổi hấp dẫn.
Trong qua trình chơi đòi hỏi trẻ phải luôn sáng tạo ra các tình huống chơi mới và
tưởng tượng ra các hành động, cử chỉ, lời nói giao tiếp để xây dựng trò chơi.
+ Mặt khác trò chơi phân vai tác động rất mạnh đến đời sống tình cảm của
trẻ. Trong trò chơi trẻ có thể có thái đọ vui vẻ hay buồn rầu, tất cả đều phụ thuộc
vào hoàn cảnh được tạo nên bởi trí tưởng tượng. Trẻ đã biểu hiên được tình người,
những hành động rong khi chơi giúp trẻ có đời sống tình cảm ngày càng phong phú
và sâu sắc.
+ Khi chơi trò chơi phân vai cò giúp trẻ xây dựng sự tự tin – bạo dạn và làm
chủ được cảm giác sợ hãi. Những đức tính này do nội dung của trò chơi quy định.
Trẻ em ít có khả năng tự kiểm soát những hành động của bản thân nhưng trẻ tưởng
tượng ra mình là 1 anh hùng – bác sĩ sẽ đem lại sức mạnh ý chí cho trẻ quyết tâm
thực hiện sau này. Giúp trẻ phát triển sự tự tin vào bản thân và trước mọi người.
một đặc điểm nổi bật của vui chơi. Mọi sự bắt buộc và cưỡng bức đều dẫn đến việc
phá hoại trò chơi. Trò chơi mà không có niềm vui sướng thì không còn là trò chơi
nữa.
Trò chơi là một hoạt động mang tính tự lập của trẻ. Trẻ biểu hiện rõ nhất ý
thức làm chủ, hoạt động hết mình, tích cực, độc lâp, chủ động trong trò chơi.
Người lớn gợi ý và hướng dẫn trẻ vui chơi sao chơi sao chovừa thỏa mãn yêu
cầu,hứng thú của trẻ và đạt những yêu cầu giáo dục. Vui chơi mang tính chất tự
nguyện bao nhiêu thì càng phát huy ở trẻ tính tích cực,chủ động và độc lập,nảy
sinh nhiều sáng kiến bấy nhiêu.
19
Trong trò chơi đòi hỏi phải có sự phối hợp giữa các thành viên vơi nhau. Trò
chơi là một nội dung cơ bản dể trẻ tập hợp lại thành nhóm, là hoạt động chung cơ
bản của trẻ. Trong đó nhiều mối quan hệ muôn màu, muôn vẻ giữa trẻ được thiết
lập nên một cách rất tự nhiên và nhân cách của trẻ cũng được phát triển và lớn lên
cùng bạn bè. Nhà tâm lý học cho rằng : nhóm chơi của trẻ là một trong những cơ
sở xã hội đàu tiên của con người.
Trò chơi của trẻ bao giờ cũng phản ánh một mặt nào đó của xã hội người lớn
xung quanh mà hoạt động của người lớn không mang tính chất riêng lẻ, độc lập. Sự
hợp tác giữa nhiều người trong một cộng đồng là đặc trưng của xã hội loài người. Vì
vậy để tiến hành trò chơi mô phỏng lai đời sống xã hội, buộc trẻ phải tham gia chơi
cùng nhau, cùng hoạt động với nhau nghĩa là phải có bạn bè cùng chơi.
Trẻ tự nghĩ ra trò chơi phân vai (dự định chơi, lập kế hoạch chơi, chọn bạn chơi,
phân vai chơi, tìm kiếm phương tiện phù hợp để thực hiên dự định chơi ban đầu..).
Trẻ luôn đứng ở vị trí chủ thể để hành động.
Trò chơi phân vai bao giờ cũng có các vai, chủ đề, nội dung và các mối quan
hệ, hoàn cảnh tưởng tượng.
- Trò chơi của trẻ mang tính chất kí hiệu, tượng trưng. Khi chơi mỗi đứa trẻ
tự nhận cho mình một vai nào đó (thường là vai người lớn) và thực hiện những
hành động của trò chơi, hành động đó chỉ là giả vờ mà thôi nhưng hành động giả
vờ ấy lại mang ý nghĩa rất thực, vì nó phản ánh một điều có thực xảy ra trong cuộc
+ Vui chơi là yếu tố quan trọng để tạo nên trò chơi. Trong vui chơi trẻ nhận
làm một chức năng xã hội của một người nào đó : lái xe, dạy học, chữa bệnh, bán
hàng…Đóng vai là con đường để trẻ xâm nhập vào cuộc sống của người lớn xung
quanh. Tức là trẻ sẽ tái tạo lại hành động của người lớn với các đồ vật trong những
mối quan hệ nhất định với những người xung quanh. Muốn trở thành một vai nào
đó trong trò chơi, điều quan trọng nhất là phải biết thực hiện hành động của vai đó.
21
Những hành động này xuất phát từ những hành động thực tế mà trẻ trông thấy
ngoài đời thực hoặc nghe kể lại.
- Những mối quan hệ qua lại của trẻ trong trò chơi phân vai : Chơi là một
hoạt động chung đầu tiên và cơ bản của trẻ, giữa những trẻ cùng tham gia chơi có
hai quan hệ : quan hệ chơi và quan hệ thực.
+ Quan hệ chơi: Là những quan hệ qua lại của các vai trong trò chơi theo
một chủ đề nhất định, mô phỏng mối quan hệ của người lớn trong xã hội. Đó là
những quan hệ được trẻ quan tâm và trở thành đối tượng hành động của trẻ.
+ Quan hệ thực: Là những quan hệ qua lại giữa những trẻ và những người
cùng tham gia vào trò chơi, những người bạn cùng thực hiện một công việc chung.
Trẻ tập hợp nhau thành nhóm để bàn bạc với nhau về chủ đề chơi, về việc phân
vai,thỏa thuận với nhau về quy tắc hành vi của vai này hay vai nọ và giải quyết các
vấn đề xảy ra trong quá trình chơi.
+ Sức sống của trò chơi phân vai là ở chỗ nó tạo ra được các mối quan hệ
giữa các vai. Các quan hệ vã hội được bộc lộ rõ nét.
Đồ chơi và hoàn cảnh chơi :
+ Đồ chơi gồm:
- Đồ chơi do người lớn làm cho trẻ, mô phỏng những đồ vật thực được gọi là
đồ chơi hình tượng (búp bê, ô tô).
- Đồ chơi là những vật thay thế cho đồ vật thực (gối thay cho em bé, ghế
thay cho toa tàu…)
Từ đó trẻ phải tưởng tượng ra một hoàn cảnh chơi tương ứng : Hoàn cảnh
tưởng tượng được sinh ra từ hoàn cảnh chơi(tức là khi thao tác với đồ vật thay thế
món hàng thay thế.
Một người mua hàng khác
đề nghị một món hàng hoàn
toàn khác
Bước 3:
Chuẩn bị
- Giới thiệu từ ngữ và
chuẩn bị phông nền.
- Cung cấp thông tin cụ
thể và mô tả vai rõ ràng.
- Giới thiệu rau, trái cây.
Những món yêu cầu để nấu
bữa tối.
- Làm những tấm bảng nhắc
nhở hội thoại mà mô tả vai
trò và mục tiêu, ví dụ :
Bảng A :Bạn a là một
người mẹ đi mua thực phẩm
nấu bữa tối
23
Bảng B : Bạn là người
bán bánh đi mua những
thành phần làm bánh.
Bước 4:
Tiến hành chơi
Cho trẻ cơ hội để nghiên
cứu vai
Trẻ có thể hỏi cha mẹ của
chúng các món nào sử dụng
trong bữa ăn tối hoặc được
chỉ gợi ý và hướng dẫn trẻ chơi . Vận dụng các phương pháp , biện pháp chơi trực
tiếp hoặc gián tiếp để hướng dẫn trẻ chơi tùy theo yêu cầu giáo dục.
Có sự chuẩn bị cơ sở vật chất : chỗ chơi – vật liệu chơi – đồ chơi ..) cũng
như tâm thế để trẻ bước vào trò chơi
Kết thúc trò chơi nhẹ nhành – khéo léo chuyển sang hoạt động tiếp theo
hoặc tạo tâm thế chờ đợi cho trẻ vào ngày hôm sau . Tạo niềm vui chờ đón ngày
mai cho trẻ
Cách 4: 5 bước khi tiến hành phân vai
- Lựa chọn tình huống.
- Lựa chọn nhân vật.
- Lựa chọn người đóng vai.
- Phân vai.
- Kết thúc nhận xét.
1.2. Một số khái niệm về kỹ năng tự tin - bạo dạn.
25